Trang chính » Biên Khảo, Học Thuật, Lịch Sử, Nghiên Cứu Email bài này

Lê Quýnh (phần 5)

LÊ QUÝNH
1750-1805

 

Một nhà nho chống Pháp bị bắt cuối thế kỷ XIX

Nguồn: Georges Buis & Charles Daney: Quand les Français découvraient l’Indochine
Paris: Herscher, 1981 tr. 39

我輩頭可斷,髮不可薙,皮可削,服不可易也。

Ngã bối đầu khả đoạn, phát bất khả thế,
bì khả tước, phục bất khả dịch dã.[1]

(Bọn ta đầu có thể chặt, [nhưng] tóc không thể cắt,
da có thể lột,
[nhưng] y phục không thể đổi.)

 

 

PHẦN V

 

KẾT LUẬN

 

 

 

Trong khoảng mươi năm cuối của thế kỷ XVIII, tình hình nước ta biến chuyển đã nhiều mà chính sách của Thanh triều cũng thay đổi lớn. Từ trước đến nay, các sử gia Việt Nam chỉ quan tâm đến đời sống của vua Lê và những người đi theo nhưng quên rằng mọi sinh hoạt của họ đều liên quan đến thực tế chính trị ở bên ngoài. Ảnh hưởng đó hầu như không rõ rệt nhưng chúng ta vẫn thấy có nhân quả ít nhiều.

  1. Thời kỳ nhà Thanh ưu đãi triều đình Quang Trung. Trong giai đoạn đầu khi vua Càn Long đặc biệt sủng ái Nguyễn Quang Bình thì hầu như vua Lê và tòng thần bị khép vào qui luật – là dân thiên triều thì phải theo tục lệ nội địa – tương đối chặt chẽ. Biết ý vua Càn Long không muốn tạo nghi kỵ hay ngờ vực cho vua Quang Trung, những người đối nghịch bị an tháp ở xa biên giới, chia ra thành nhiều nhóm nhỏ và những ai bướng bỉnh đều bị hạ ngục. Đôi khi họ còn bị cưỡng bách nên phải phản ứng một cách quyết liệt bằng cách nhịn ăn.
  2. Thời kỳ bị lãng quên. Sau thời gian “trăng mật” giữa hai triều đình nhất là từ khi vua Quang Trung qua đời tình hình bang giao Thanh – Việt tương đối lắng đọng. Tổng kết lại những văn thư giao thiệp liên quan đến nước ta những năm sau đó giảm hẳn ngoại trừ năm 1796 có một số thư từ liên quan đến việc tiễu trừ hải phỉ.
  3. Tổng kết văn kiện liên quan đến nước ta đời Tây Sơn trong Thanh Thực Lục
Năm Số văn thư Chú thích
1788 30 Chiến dịch đem quân sang Thăng Long
1789 72 Phong vương và tiếp đón sứ thần
1790 68 Tiếp đón phái đoàn Nguyễn Quang Bình
1791 25 Tạ ơn, tiến cống
1792 9  
1793 14 Tin vua Quang Trung mất và điếu tang, phong vương
1794 4  
1795 4  
1796 14 Vua Gia Khánh lên ngôi và tiễu trừ hải phỉ
1797 6  
1799 4 Vua Gia Khánh thân chính
1800 3  
  1. Kể từ năm 1792 trở về sau, triều đình Cảnh Thịnh phải dốc sức đối phó với sự tấn công dồn dập của chúa Nguyễn từ phương nam, không còn thong thả để thù tạc với Thanh triều nên việc giao thiệp nặng phần nghi lễ hơn là thân thiết. Sau khi thoái vị lên làm Thái Thượng Hoàng – từ 1796 đến 1799 – vua Càn Long càng chú trọng đến các buổi yến tiệc và tiếp đón sứ thần vốn dĩ rất phiền toái nhưng lại là hình thức mà ông ưa thích nhất. Tuy vua Gia Khánh tại vị nhưng những việc quan trọng vẫn do thượng hoàng quyết định dưới sự cầm trịch của Hoà Khôn đứng ở hậu trường nên vấn đề liên hệ với An Nam cũng không còn được quan tâm nhiều như trước.
  2. Ngay khi vua Càn Long vừa qua đời, vua Gia Khánh lập tức tước hết mọi chức vụ của Hoà Khôn, Phúc Trường An … và tịch biên gia sản.[2] Những tranh chấp và âm mưu sau bức tường Tử Cấm Thành đã ảnh hưởng đến vua Lê và bầy tôi một cách gián tiếp. Đặc ân cho các tòng thần nhà Lê có thể coi như một khẳng định của vua Gia Khánh không muốn tiếp tục đường lối ngoại giao cũ của thái thượng hoàng.

 

 

ẨN SỐ CHÍNH TRỊ HẬU TRƯỜNG

 

Trong đường lối ứng xử với nhóm vua Lê chạy sang Trung Hoa sao cho thích hợp, vua Càn Long [với sự tiếp tay triệt để của các quan lại trung ương và địa phương] đã tiến hành song song hai vấn đề cùng một lúc:

– Hợp thức hoá việc chấm dứt yểm trợ cho nhà Lê,

– Nỗ lực giải trừ những hậu quả mà vua tôi nhà Lê có thể làm phương hại đến bang giao Thanh – Tây Sơn.

Để chấm dứt yểm trợ cho vua Lê và nhất là có chính nghĩa cho việc không động binh lần thứ hai, vua Càn Long nêu ra những lý do sau đây:

  1. Lê Duy Kỳ hèn yếu vô năng không giữ được nước, nếu có giúp thì sau này cũng mất. Tôn Sĩ Nghị đã báo cáo lên vua Càn Long rằng Lê Duy Kỳ ôm con bỏ chạy trước khi quân của Nguyễn Huệ kéo đến khiến cho dân chúng náo loạn đưa đến việc thất trận.[3]
  2. Nguyễn Quang Bình thành thực đầu thuận và thi hành những đòi hỏi mà vua Càn Long đưa ra trước và sau khi phong vương như trao trả tù binh, lập miếu thờ tướng sĩ nhà Thanh tử trận và nhất là bằng lòng đích thân sang tham dự lễ Bát Tuần Khánh Thọ năm Canh Tuất.

Về việc giải trừ những hậu quả bất lợi có thể làm hỏng kế hoạch mời vua Quang Trung sang dự lễ Bát Tuần Khánh Thọ, nhà Thanh đưa ra hai biện pháp:

  1. An tháp vua tôi nhà Lê ở xa biên giới để họ không thể mưu tính việc liên lạc và gây rối ở trong nước. Để xác định rằng họ hoàn toàn chấm dứt việc yểm trợ cho nhà Lê, vua Càn Long sai Phúc Khang An sắp xếp để phái đoàn Nguyễn Quang Hiển được gặp vua tôi Lê Duy Kỳ đã cạo đầu, thắt đuôi sam và đổi sang y phục Trung Hoa đồng thời đưa người của Tây Sơn về nước tường trình lại.

Vua Lê và tòng thần cũng không còn được ở Quảng Tây mà đưa lên kinh đô, lập thành một tá lãnh thuộc quyền Hán quân kỳ binh dưới sự giám sát của đô thống Kim Giản. Những ngưởi không quan trọng hay ít thân cận với vua Lê thì bị đưa đi các tỉnh, mỗi nơi một ít cho dễ quản thúc.

  1. Bên cạnh việc cấm cố vua Chiêu Thống và những người chạy sang Trung Hoa, nhà Thanh cũng còn tìm cách chiêu dụ những thành phần chống Tây Sơn ở trong nước ra ngoài để tình hình trị an sớm hoàn tất ngõ hầu Nguyễn Quang Bình yên tâm đi chúc thọ. Việc chiêu dụ đó thành công dễ dàng vì những nhân vật hoài Lê vẫn tưởng rằng nhà Thanh sẽ giúp vua Lê một lần nữa và khi sang nội địa họ sẽ được sử dụng như một nhóm tham mưu hay hướng đạo.

 

 

NỖI ÁM ẢNH CỦA VUA CÀN LONG

 

Khi đề cập đến việc vua Chiêu Thống và bầy tôi ở Trung Hoa, sử nước ta thường nhấn mạnh việc nhà Thanh đánh lừa họ để tự nguyện cắt tóc, thay áo.

Quả thực những gì vua tôi nhà Lê hằng tin tưởng nay không còn được tiếp tục nữa nhưng không phải chỉ là vài câu nói trí trá mà nhà Thanh đã thay đổi kế hoạch ngoại giao mà họ gọi là “đạo lý nước lớn”, tuy một mặt vẫn nêu cao những qui tắc luân lý chính đáng nhưng khi cần thì sẵn sàng phủi tay. Việc đơn giản hoá một chính sách để miêu tả hậu quả chứ không phải nguyên nhân đưa đến những phán xét thiếu trung thực.

  1. Che dấu một thất bại quân sự

Vua Càn Long cố tình biến việc quốc vương An Nam đích thân đưa một phái đoàn sang chúc thọ thành một biến cố vô tiền khoáng hậu xứng đáng với những ân điển vượt bực mà ngay con ruột ông hay cận thần cũng không được hưởng. Việc vua Càn Long liên tiếp ban ơn một cách rộng rãi không khỏi đưa đến những hoài nghi về thiện chí của Thanh triều và soi rọi lại nhiều vấn đề, nhiều chính sách của Trung Hoa trong lịch sử.

Tuy nhiên, trong kho văn thư của Thanh triều chúng ta vẫn còn tìm được một số khúc mắc – trong lý của kẻ mạnh nhưng lại yếu trên đạo nghĩa. Vua Càn Long cũng biết rằng một cuộc chiến thứ hai sẽ gây rất nhiều tốn kém và sa lầy còn đáng ngại hơn cả cuộc chiến Miến Điện nên ông tìm cách trút bỏ trách nhiệm thiên triều và hợp thức hoá việc công nhận một giòng họ mới. Công tác xoá bài làm lại đó đã được dàn dựng một cách chu đáo từ việc nguỵ tạo chiến công, thủ tiêu chứng cớ đến việc tìm lý lẽ để bào chữa cho sai lầm từ trung ương.

Quan lại nhà Thanh, với khôn khéo của người biết ý cấp trên, một mặt thực hiện việc bôi xoá chứng tích, mặt khác luôn luôn nhận lỗi về phần mình đã không tuân theo thánh dụ sớm triệt binh để đến nỗi bị đánh úp.

  1. Cứu chữa một ám ảnh tâm lý

Tuy sự rình rang này khiến Thanh triều tốn phí về vật chất nhưng dẫu sao cũng chưa vi phạm một nguyên tắc đạo đức như việc vô hiệu hoá vua Chiêu Thống và tòng vong. Trong vai trò đại diện cho đấng tối cao để chăn dắt thiên hạ, vua nhà Thanh phải tuân thủ một nguyên tắc vô hình: đó là mối giềng Khổng Mạnh vốn dĩ là xương sống của văn minh Trung Hoa. Thiên tử có thể quan sát những vấn đề hàng ngày xảy ra quanh mình để nhận biết mình đang đúng hay sai, tốt hay xấu.

Một biến cố có thể đã khiến vua Càn Long dao động là cái chết tương đối đột ngột của hoàng tử thứ sáu Chất Thân Vương Vĩnh Dong (永瑢) đầu tháng Năm năm Canh Tuất, Càn Long 55 (1790). Chất Thân Vương vốn rất được vua Càn Long thương mến, vừa có tuổi lại điềm đạm chín chắn. Ông đã được cử làm tổng tài biên soạn Tứ Khố Toàn Thư, lại được chỉ định để tổ chức đại lễ Thất Tuần Khánh Thọ rồi Bát Tuần Khánh Thọ là vai trò mà nhiều người cho rằng chuẩn bị để lên nối ngôi thay ông khi nhà vua thoái vị.[4]

Vĩnh Dong qua đời trong khi ngày đại lễ vinh quang tột đỉnh gần kề – lại đúng lúc phái đoàn Quang Trung đang có mặt tại Quảng Châu – khiến cho vua Càn Long nghĩ rằng mình đã làm một tội gì rất lớn đưa đến sự trừng phạt như một cảnh cáo của trời đất. Phải chăng một mặt vua Càn Long nêu cao đạo lý cương thường nhưng hành động thì hoàn toàn ngược lại, đã không “phù nguy” mà lại ép những người An Nam phải bất trung, bất hiếu?

 

 

LỜI CUỐI

 

Tuy chỉ giương một cái càng nhỏ lên chống lại cỗ xe, bốn người bọn Lê Quýnh đã hiên ngang bảo vệ một truyền thống sáng ngời, là tấm chắn vô hình giúp cho họ được toàn mạng trong một xã hội mà hoàng đế có quyền tối thượng. Trong bối cảnh chung, việc vua Càn Long gặp nhóm Lê Quýnh ở hành tại trên đường đông tuần, sau đó lại dặn dò đừng để cho họ nhịn ăn mà chết để thiên triều khỏi mang tiếng là “vì Nguyễn Quang Bình mà bức tử cựu thần họ Lê” thể hiện sự áy náy của ông về đạo lý mà bốn người Việt nêu cao.

Dù Lê Quýnh và đồng chí của ông rất ngang bướng, nhà Thanh cũng chỉ đi đến trừng phạt sau cùng là cái án “bất tuân” [không tuân lệnh trên] để giam họ vô thời hạn chứ không thể đày họ đi xa hay xử tử họ như một tội nhân bình thường khác. Chính vì thế những cao triều và thoái triều trong toàn bộ bang giao Thanh – Việt cuối thế kỷ XXIII cần được quan tâm rộng rãi hơn.

Thời thay ngôi, đổi chủ nào cũng có một số người biết khai thác hoàn cảnh để lựa gió xoay chiều nhưng cũng nhiều người thà chết cũng không luồn cúi. Bên cạnh đó, cũng có kẻ lợi dụng ưu thế của mình để chèn ép, lắm khi vu cáo những người trước đây có thù oán riêng tư. Những người được coi là công thần của triều đại này lại bị coi là đại nghịch của triều đại khác, việc đó cũng là lẽ thường. Riêng với Lê Quýnh, thái độ chính trị của ông đúng hay sai còn tùy vào nhận định và quan điểm của từng người. Tuy nhiên, dù ở phía nào, đã là người Việt Nam chúng ta không thể không cảm phục ông về sự bất khuất nhất định không chịu cắt tóc, đổi áo theo người Thanh để phải chịu không biết bao nhiêu đày đọa trong 15 năm lưu lạc. Tấm lòng son sắt đó không phải chỉ đối với một họ Lê nhưng đối với cả dân tộc, cả giống nòi mà thời đại nào cũng không mấy người theo kịp.

Tiểu sử của Lê Quýnh không đóng góp nhiều vào những biến động lịch sử. Tuy trong một số giai đoạn, ông có tham gia vào tình hình chính trị của Bắc Hà nhưng trên thực tế chỉ mang tính chứng nhân. Mà không phải chỉ riêng ông, cả triều đình nhà Lê cũng cùng chung một cảnh ngộ. Từ vua chí quan họ chỉ là những người được đưa ra để làm bề ngoài cho những mưu tính bên trong. Cho nên họ không được tham dự và cũng không chịu trách nhiệm về thành hay bại.

Thế nhưng dù hoàn cảnh khắc nghiệt, nhiều người trong số đó vẫn dám ngẩng cao đầu để giữ cho mình một tư thế không dời đổi. Tuy chỉ vài mươi gia đình sống hiu quạnh trong một con hẻm ở ngoại ô Bắc Kinh, nhóm người nhỏ bé đó vẫn giữ được vua ra vua, tôi ra tôi, yêu thương đùm bọc nhau khi sống cũng như khi chết, há chẳng phải là một tấm gương sáng cho chúng ta hay sao?

Chính vì sự nổi bật đó, trong ngôi từ đường thờ những thần tử tiết nghĩa cuối đời Lê xây năm Tự Ðức thứ 10 (1857), linh vị của ông được đặt ngay chính giữa với hàng chữ:

故黎節義,同平章事長派侯,謚忠毅,黎囧之位

Cố Lê tiết nghĩa, Ðồng Bình Chương Sự Trường Phái Hầu, thụy Trung Nghị, Lê Quýnh chi vị.

Lê Quýnh cũng là người duy nhất được ban tên riêng với chữ Trung là thuỵ danh cao quí nhất.

Trong Việt Sử Tổng Vịnh, vua Dực Tôn [Tự Đức] khen ngợi Lê Quýnh như sau:

聞嚴將軍頭,與嵇侍中血。

又張睢陽齒,及顏常山舌。

炎方豈無人,有長派侯髮。

始云大義伸,終是陰謀設。

徒然嘆忠臣,畢竟私僞孽。

不特忘忠義,薙辮遺體闕。

能全忠孝歸,大邦足愧殺。

 

Dịch âm

Văn Nghiêm tướng quân đầu,
Dữ Kê thị trung huyết.
Hựu Trương Tuy Dương xỉ,
Cập Nhan Thường Sơn thiệt.
Viêm phương khởi vô nhân,
Hữu Trường Phái Hầu phát.
Thuỷ vân đại nghĩa thân,
Chung thị âm mưu thiết.
Đồ nhiên thán trung thần,
Tất cánh tư nguỵ nghiệt.
Bất đặc vong trung nghĩa,
Thế biện di thể khuyết.
Năng toàn trung hiếu qui,
Đại bang quí túc sát.

 

Dịch nghĩa

Nghe đầu Nghiêm tướng quân[5]
Cùng máu Kê thị trung[6]
Lại răng Trương Tuy Dương[7]
Cùng lưỡi Nhan Thường Sơn[8]
Phương nam đâu phải không có người
Cũng có tóc Trường Phái Hầu
Mới đầu là để vươn đại nghĩa
Nhưng cũng bởi do âm mưu cả
Than ôi kẻ trung thần
Đều do tội của nguỵ
Không quên điều trung nghĩa
Chẳng cắt tóc khuyết thân thể
Về nước toàn trung hiếu
Đại bang sợ nên không giết được

 

Ở một nghĩa rộng hơn, chúng ta cũng có thể coi thái độ bất khuất của Lê Quýnh như một biểu trưng của chính dân tộc Việt trong giao thiệp với người láng giềng phương bắc. Nhà Thanh khi nhân danh một đại quốc nêu cao tính chính thống để can thiệp vào các nước nhỏ ở chung quanh, lại bị vướng ngay vào những điều họ hằng rao giảng.

Nếu không có 4 người “An Nam nghĩa sĩ” đó, trang sử của nhà Thanh can thiệp vào nước ta có thể khép lại ngay sau khi nhóm vua Lê được “an tháp” ở Bắc Kinh. Tuy nhiên, thái độ của Lê Quýnh đã nhen nhúm một tia lửa hi vọng và dù không thành công trong vận động để xin một mảnh đất dung thân, cuối cùng di hài vua Lê và 17 người khác cũng được mang về để khỏi thành những oan hồn uổng tử lang thang nơi xứ lạ. Dù sa cơ, dù thất thế, mãi mãi họ vẫn còn là người Việt Nam.

 

 

PHỤ LỤC

 

LÊ MẠT TIT NGHĨA TỪ

Dưới đây là nội dung các chi tiết về việc triều Tự Đức dựng một từ đường ở Hà Nội để thờ cúng những nghĩa sĩ nhà Lê. Theo lời tâu của hai bộ Công và bộ Lễ thì việc lập từ được tham chiếu tài liệu đời Khang Hi đã lập đền thờ những trung thần nhà Minh tuẫn tiết, ban tên thuỵ cho 8 người và thông thuỵ [tên thuỵ chung] cho 310 người.

Từ đường này theo khuôn mẫu miếu Trung Hưng Công Thần nhà Nguyễn bao gồm chính đường, tiền đường 7 gian hợp thành một toà, hai bên tả hữu tòng tự cũng 7 gian, đằng trước, đằng sau có xây nghi môn và 3 toà tiền môn, mỗi năm hai lần xuân thu cúng tế.

Lễ vật mỗi kỳ bao gồm một con bò, một con dê, một con heo và các loại rau quả cùng hương đèn, trầu rượu.

Về phần vương phi Nguyễn Thị Kim thì đời Gia Long đã có thánh chỉ cho lập bia đá ở bản quán, trên bia khắc bốn chữ “An Trinh Tuẫn Tiết” là chữ vua ban nên cũng đưa vào những người thần tử đã vì nhà Lê mà tuẫn tiết.

Mọi vật liệu và nhân công để xây đền thờ này do tỉnh Hà Nội đảm trách.

Chính đường ba gian hai chái, rường chính 5 thước 8 tấc, rường phụ ở giữa 6 thước 5 tấc 5 phân, hai bên tả hữu 6 thước 4 tấc 5 phân. Hai chái thì xà thứ nhất 5 thước 4 tấc, xà thứ hai 3 thước 1 tấc, trước sau 2 xà đều 5 thước 4 tấc, xà sau thứ ba đều 3 thước 2 tấc.

Tiền đường một gian hai chái, rường chính 5 thước 4 tấc, xà trước thứ hai 5 thước 1 tấc, thừa lưu sau 3 thước 6 tấc, chấn tâm ở giữa 6 thước 5 tấc 5 phân, tả hữu thứ nhất đều 6 thước 4 tấc 5 phân, tả hữu thứ hai đều 5 thước 4 tấc, 2 chái xà đều 3 thước 1 tấc.

Tất cả đều làm bằng gỗ cứng chắc, trên mái lợp ngói. Chính đường ba mặt tả, hữu và phía sao, tiền đường hai mặt trái phải đều xây tường bằng gạch, bốn chung quanh có tường thấp bao quanh. Phía trước xây một cổng nghi môn, bên dưới có ba cửa hình tròn, thẳng góc với bên trong tường vây. Bên trái xây một toà nhà lợp ngói, trong số bốn bức vách thì hai vách trong ở hai đầu dùng gỗ, mặt sau thì dùng tường gạch.

Còn về tịch điền của chung thì được miễn thuế má, nếu như của riêng thì cứ chiếu theo giá trị mà nạp trả. Lại lấy mười người tráng đinh ở vùng chung quanh trông coi thủ từ, đều được miễn thuế thân và không bị bắt lính.

Còn về khoản ban tên thuỵ để thờ trong đền, chiếu theo sự trạng của Lê Quýnh thì so với những người khác xuất sắc hơn nên xin được ban cho tên thuỵ Trung Nghị. Những người còn lại từ Nguyễn Viết Triệu, Trần Danh Án, Nguyễn Ðình Giản, Nguyễn Ðình Viện, Nguyễn Quang Châu, Nguyễn Văn Quyên, Trần Danh Bính, Trần Ðĩnh, Nguyễn Huy Trạc, Nguyễn Quốc Đống, Lê Hân, Hoàng Ích Hiểu, Lê Doãn Trị, Nguyễn Đình Cẩm, Lê Quý Thích, Ðàm Thận Xưởng, Nguyễn Hùng Trung, Nguyễn Trọng Du, Lê Tùng, Lê Thức, Lê Trọng Vĩ, Phạm Như Tùng tất cả 22 người xin được ban cho thông thuỵ là Trung Mẫn.

Những người nêu trên tất cả 23 người xin được chế tạo bài vị ghi rõ, những ai có chức tước thì xin ghi tên tuổi, thuỵ hiệu, danh phận đời Lê. Còn như con của Nguyễn Đình Viện là Nguyễn Ngọc Liễn, Nguyễn Ngọc Triệu, Nguyễn Ngọc Chấn, con rể là Thiều Tôn Hiệp, em trai Trần Ðĩnh là Trần Lang, cháu là Trần Trừng, cùng con rể của anh là Vũ Trọng Dật, con nuôi của em là Trần Dần, Trần Hạc, con trai Lê Trọng Vĩ là Lê Ðình Ðịnh tất cả 10 người, xin được chế tạo bài biển hai mặt, mỗi mặt 5 hàng, mỗi hàng 1 người viết rõ tên để thờ.

Gian chính giữa để án thờ một người:

Cố Lê tiết nghĩa, đồng bình chương sự Trường Phái Hầu, thuỵ Trung Nghị, Lê Quýnh chi vị.

Gian bên tả để án thờ 11 người:

– Cố Lê tiết nghĩa, tứ thành Phó Đề Lãnh, thuỵ Trung Mẫn, Nguyễn Viết Triệu chi vị.

– Cố Lê tiết nghĩa, Binh Bộ Thượng Thư Bút Phong Hầu, thuỵ Trung Mẫn, Nguyễn Đình Giản chi vị.

– Cố Lê tiết nghĩa, thự trấn thủ Kinh Bắc Đĩnh Võ Hầu, thuỵ Trung Mẫn, Trần Quang Châu chi vị.

– Cố Lê tiết nghĩa, thuỵ Trung Mẫn, Trần Danh Bính chi vị.

– Cố Lê tiết nghĩa, Hộ Bộ Tả Thị Lang, thuỵ Trung Mẫn, Nguyễn Huy Trạc chi vị.

– Cố Lê tiết nghĩa, thự trấn thủ Kinh Bắc, thuỵ Trung Mẫn, Lê Hân chi vị.

– Cố Lê tiết nghĩa, đô đốc chỉ huy sứ, thuỵ Trung Mẫn, Lê Doãn Trị chi vị.

– Cố Lê tiết nghĩa, trông coi tứ bảo, thuỵ Trung Mẫn, Lê Quí Thích chi vị.

– Cố Lê tiết nghĩa, thuỵ Trung Mẫn, Nguyễn Hùng Trung chi vị.

– Cố Lê tiết nghĩa, thuỵ Trung Mẫn, Lê Tùng chi vị.

– Cố Lê tiết nghĩa, trấn thủ Kinh Bắc, tả Tham Chính Sứ, thuỵ Trung Mẫn, Lê Trọng Vĩ chi vị.

Gian bên hữu để án thờ 11 người:

– Cố Lê tiết nghĩa, phong Tĩnh Nạn công thần Ngự Sử kiêm phó Đô Ngự Sử, thuỵ Trung Mẫn, Trần Danh Án chi vị.

– Cố Lê tiết nghĩa, Tuyên Quang xứ Thanh Hình hiến sát ti phó sử [sứ?], thuỵ Trung Mẫn, Nguyễn Đình Viện chi vị.

– Cố Lê tiết nghĩa, thị nội, thuỵ Trung Mẫn, Nguyễn Văn Quyên chi vị.

– Cố Lê tiết nghĩa, thuỵ Trung Mẫn, Trần Đĩnh chi vị.

– Cố Lê tiết nghĩa, đô đốc đồng tri, thuỵ Trung Mẫn, Nguyễn Quốc Đống chi vị.

– Cố Lê tiết nghĩa, Địch Quận Công, thuỵ Trung Mẫn, Hoàng Ích Hiểu chi vị.

– Cố Lê tiết nghĩa, thuỵ Trung Mẫn, Nguyễn Đình Cẩm chi vị.

– Cố Lê tiết nghĩa, thuỵ Trung Mẫn, Đàm Thận Xưởng chi vị.

– Cố Lê tiết nghĩa, võ uý, thuỵ Trung Mẫn, Nguyễn Trọng Du chi vị.

– Cố Lê tiết nghĩa, thuỵ Trung Mẫn, Lê Thức chi vị.

– Cố Lê tiết nghĩa, đề đốc tứ thành quân vụ quản trấn thủ Sơn Tây, hiệp lý các trấn Tuyên Quang, Hưng Hoá, tham dự triều chính bộ Binh bộ Hộ Cận Quang Hầu, thuỵ Trung Mẫn, Phạm Như Tùng chi vị.

Chái bên đông để thờ 5 người:

– Cố Lê tiết nghĩa, Nguyễn Trọng Liễn chi vị.

– Cố Lê tiết nghĩa, Nguyễn Ngọc Triệu chi vị.

– Cố Lê tiết nghĩa, Nguyễn Ngọc Chấn chi vị.

– Cố Lê tiết nghĩa, Thiều Tôn Hiệp chi vị.

– Cố Lê tiết nghĩa, Trần Đình Định chi vị.

Chái bên tây để thờ 5 người:

– Cố Lê tiết nghĩa, Trần Lang chi vị.

– Cố Lê tiết nghĩa, Trần Dần chi vị.

– Cố Lê tiết nghĩa, Trần Hạc chi vị.

– Cố Lê tiết nghĩa, Trần Trừng chi vị.

– Cố Lê tiết nghĩa, Vũ Trọng Dật chi vị.[9]

 

SẮC DỤ CỦA VUA TỰ ÐỨC

Nguyên văn

朕聞: 自昔忠臣烈女,見危致命,舍生取義,非以邀名於後世,而朝廷必旌褒之,誠所以鼓勵風教而激勸將來也。

年前禮部臣遵將黎末殉節諸臣,議請追錄一摺,經交廷臣查議。

嗣據奏上,朕再三批閱,重念國家旌典,其於人心風俗,所關非細,予奪存削,千載之公諸係焉,誠不可不詳慎也。爰命史臣重加稽核,再交廷臣覆閱,以昭公詳。

節據覆敍,朕各已詳覽,仍照之廷臣原摺,請該二十五名氏,其間固有卓然可稱,亦有尋常無甚表見。

又有庇類可指,亦有遺漏未周,所應甄別權衡,用工大公至正,就中如黎囧,阮曰肇,陳名案,阮廷簡,阮廷院,阮光珠,阮文涓,陳名昺,陳珽,阮氏金,潘氏舜等,其精忠節烈,固為可嘉。

增檢之阮輝濯,阮國棟,黎昕,黄益曉,黎允值,阮廷錦,黎貴適,潭慎廠,阮雄忠,阮仲瑜,黎松,黎式,黎仲偉等,雖無異常,而始終從亡,確有實狀,亦屬可錄。

又如范如松,摺內以其去回未明,懸之冊後。

茲究出范如松現於嘉隆年間遣回,則該之始終完節,去回本自明白,準併與前次議旌二十四人,一同列祀。

就中阮氏金於嘉隆年間,已奉恩給墓夫,祀田,又命立碑於其鄉,已足慰潛爽,茲著毋須再議。潘氏舜已有原祠在翠靄社,茲著于這祠豎碑旌表。

餘自黎囧以下,准于河内省城黎氏故都之地,立祠各祀。

黎囧艱貞自靖,百折不回,其氣節較與同輩中,尤為出色,著賜專謚。餘阮曰肇,陳名案,阮廷簡,阮廷院,阮光珠,阮文涓,陳名昺,陳珽,增檢之阮輝濯,阮國棟,黎昕,黄益曉,黎允值,阮廷錦,黎貴適,潭慎廠,阮雄忠,阮仲瑜,黎松,黎式,黎仲偉,范如松,該二十二人,著賜通謚,用亦甄別。其廷錦著,俟列祀日,照從舊名,毋須改避。

他如阮廷院之子阮玉璉,阮玉肇,阮玉振,壻韶尊洽,陳珽之弟陳琅,侄陳澄,與該兄之壻武仲逸,弟之養子陳寅,陳鶴,黎仲偉之子黎廷定等,均由同時殉難,一門中孝,亦屬可嘉。

其阮玉璉等十人,著准其附祀于祠,俾如朝廷表節旌忠,無微不錄。

向上應得賜謚祀典,與立祠見碑等款,著交禮工部臣,會同詳悉。著議當如何垂之永久,具奏候旨,幾定施行,稱朕意焉。

餘准依議行。

欽此。

欽遵。

 

Dịch âm

Trẫm văn:

Tự tích trung thần liệt nữ, kiến nguy trí mệnh, xả sinh thủ nghĩa, phi dĩ yêu danh ư hậu thế, nhi triều đình tất tinh bao chi, thành sở dĩ cổ lệ phong giáo nhi kích khuyến tương lai dã.

Niên tiền Lễ bộ thần tuân tương Lê mạt tuẫn tiết chư thần, nghị thỉnh truy lục nhất triệp, kinh giao đình thần tra nghị.

Tự cứ tấu thượng, trẫm tái tam phê duyệt, trọng niệm quốc gia tinh điển, kỳ ư nhân tâm phong tục, sở quan phi tế, dư đoạt tồn tước, thiên tái chi công chư hệ yên, thành bất khả bất tường thận dã.

Viên mệnh sử thần trọng gia kê hạch, tái giao đình thần phúc duyệt, dĩ chiêu công tường.

Tiết cứ phúc tự, trẫm các dĩ tường lãm, nhưng chiếu chi đình thần nguyên triệp, thỉnh cai nhị thập ngũ danh thị, kỳ gian cố hữu trác nhiên khả xưng, diệc hữu tầm thường vô thậm biểu kiến.

Hựu hữu tí loại khả chỉ, diệc hữu di lậu vị chu, sở ứng chân biệt quyền hành, dụng công đại công chí chính, tựu trung như Lê Quýnh, Nguyễn Viết Triệu, Trần Danh Án, Nguyễn Ðình Giản, Nguyễn Ðình Viện, Nguyễn Quang Châu, Nguyễn Văn Quyên, Trần Danh [Phương] Bính, Trần Ðĩnh, Nguyễn Thị Kim, Phan Thị Thuấn đẳng, kỳ tinh trung tiết liệt, cố vi khả gia.

Tăng kiểm chi Nguyễn Huy Trạc, Nguyễn Quốc Ðống, Lê Hân, Hoàng Ích Hiểu, Lê Doãn Trị, Nguyễn Ðình Cẩm, Lê Quý Thích, Ðàm Thận Xưởng, Nguyễn Hùng Trung, Nguyễn Trọng Du, Lê Tùng, Lê Thức, Lê Trọng Vĩ đẳng, tuy vô dị thường, nhi thủy chung tòng vong, xác hữu thật trạng, diệc thuộc khả lục.

Hựu như Phạm Như Tùng, triệp nội dĩ kỳ khứ hồi vị minh, huyền chi sách hậu. Tư cứu xuất Phạm Như Tùng hiện ư Gia Long niên gian khiển hồi, tắc cai chi thủy chung hoàn tiết, khứ hồi bổn tự minh bạch, chuẩn tính dữ tiền thứ nghị tinh nhị thập tứ nhân, nhất đồng liệt tự. Tựu trung Nguyễn Thị Kim ư Gia Long niên gian, dĩ phụng ân cấp mộ phu, tự điền, hựu mệnh lập bi ư kỳ hương, dĩ túc ủy tiềm sảng, tư trứ vô tu tái nghị.

Phan Thị Thuấn dĩ hữu nguyên từ tại Thúy Ái xã, tư trứ vu giá từ thụ bi tinh biểu.

Dư tự Lê Quýnh dĩ hạ, chuẩn vu Hà Nội tỉnh thành Lê thị cố đô chi địa, lập từ các tự. Lê Quýnh gian trinh tự tĩnh, bách chiết bất hồi, kỳ khí tiết giác dữ đồng bối trung, vưu vi xuất sắc, trứ tứ chuyên thuỵ.

Dư Nguyễn Viết Triệu, Trần Danh Án, Nguyễn Ðình Giản, Nguyễn Ðình Viện, Nguyễn Quang Châu, Nguyễn Văn Quyên, Trần Danh Bính, Trần Ðĩnh. Tăng kiểm chi Nguyễn Huy Trạc, Nguyễn Quốc Ðống, Lê Hân, Hoàng Ích Hiểu, Lê Doãn Trị, Nguyễn Ðình Cẩm, Lê Quý Thích, Ðàm Thận Xưởng, Nguyễn Hùng Trung, Nguyễn Trọng Du, Lê Tùng, Lê Thức, Lê Trọng Vĩ, Phạm Như Tùng, cai nhị thập nhị nhân, trứ tứ thông thuỵ, dụng diệc chân biệt.

Kỳ đình cẩm trứ, sĩ liệt tự nhật, chiếu tòng cựu danh, vô tu cải tị.

Tha như Nguyễn Ðình Viện chi tử Nguyễn Ngọc Liễn, Nguyễn Ngọc Triệu, Nguyễn Ngọc Chấn, tế Thiều Tôn Hiệp, Trần Ðĩnh chi đệ Trần Lang, điệt Trần Trừng, dữ cai huynh chi tế Vũ Trọng Dật, đệ chi dưỡng tử Trần Dần, Trần Hạc, Lê Trọng Vĩ chi tử Lê Ðình Ðịnh đẳng, quân do đồng thời tuẫn nạn, nhất môn trung hiếu, diệc thuộc khả gia.

Kỳ Nguyễn Ngọc Liễn đẳng thập nhân, trứ chuẩn kỳ phụ tự vu từ, tỉ như triều đình biểu tiết tinh trung, vô vi bất lục.

Hướng thượng ứng đắc tứ thuỵ tự điển, dữ lập từ kiến bi đẳng khoản, trứ giao Lễ Công bộ thần, hội đồng tường tất. Trứ nghị đương như hà thùy chi vĩnh cửu, cụ tấu hậu chỉ, cơ định thi hành, xưng trẫm ý yên.

Dư chuẩn y nghị hành.

Khâm thử.

Khâm tuân.[10]

 

Dịch nghĩa

Trẫm nghe rằng:

Từ xưa đến nay trung thần liệt nữ, thấy nguy chí mệnh, thu điu nghĩa không màng sống chết, không những để lại tên tuổi cho hậu thế mà triu đình cũng phải khen ngợi công lao để cổ lệ phong giáo, khuyến khích người đi sau vậy.

Năm trước các bầy tôi trong bộ Lễ đã tuân lệnh nghị thỉnh để truy lục chư thần tuẫn tiết cuối đời Lê giao cho đình thần tra xét và bàn thảo. Cứ theo lời tâu lên, trẫm xem đi xem lại, ngẫm nghĩ v điển lệ quốc gia, cùng với phong tục lòng người, chỗ nào cũng thật kỹ càng, thêm bớt cẩn thận vì có quan hệ đến công đạo nghìn sau nên không thể không cẩn thận vậy.

Lại ra lệnh cho sử thần kê tra thật rõ ràng rồi giao lại cho đình thần duyệt thêm lần nữa để cho mọi người được biết.

Cứ như tâu lên, trẫm cũng đã coi lại kỹ, chiếu theo nguyên triệp của đình thần xin cho tên của 25 người, trong đó có người đặc sắc đáng tuyên dương nhưng cũng có người tầm thường không có gì nổi bật.

Lại cũng có những chỗ còn che khuất cần nêu ra, lại có chỗ nói đến nhưng chưa đầy đủ, hoặc xem xét cân nhắc chưa chính xác sao cho đại công chí chính.

Tựu trung những người như Lê Quýnh, Nguyễn Viết Triệu, Trần Danh Án, Nguyễn Ðình Giản, Nguyễn Ðình Viện, Nguyễn Quang Châu, Nguyễn Văn Quyên, Trần Danh [Phương] Bính, Trần Ðĩnh, Nguyễn Thị Kim, Phan Thị Thuấn đu là tinh trung tiết liệt, đáng để ngợi khen.

Xem thêm những người như Nguyễn Huy Trạc, Nguyễn Quốc Ðống, Lê Hân, Hoàng Ích Hiểu, Lê Doãn Trị, Nguyễn Ðình Cẩm, Lê Quý Thích, Ðàm Thận Xưởng, Nguyễn Hùng Trung, Nguyễn Trọng Du, Lê Tùng, Lê Thức, Lê Trọng Vĩ thì tuy không có gì lạ thường nhưng trước sau tỏng vong, quả là điu có thực nên cũng đáng được nêu ra.

Còn những người như Phạm Như Tùng, trong triệp nêu ra đi v không rõ thì hãy đđó rồi tìm hiểu thêm. Tra cứu ra thấy đời Gia Long Phạm Như Tùng có trở v, vậy thì trước sau quả giữ được tiết, khứ hồi minh bạch nên cho được liệt vào với 24 người kia.

Tựu trung thì dưới đời Gia Long Nguyễn Thị Kim đã được ân cấp phu canh mộ, tự đin lại lập bia ở nơi quê quán thì cũng đã an ủi cho việc trốn lánh, không cần phải bàn thảo thêm nữa. Phan Thị Thuấn cũng đãđn ở xã Thuý Ái, nơi đó cũng có bia biểu dương rồi. Ngoài ra từ Lê Quýnh đổ xuống, chuẩn cho lập từ cúng tế ở Hà Nội là nơi cố đô của nhà Lê.

Lê Quýnh tuy gian nan nhưng vẫn chấp nhận, trăm cay ngàn đắng không chịu khuất, khí tiết so với người khác có phần hơn, quả là xuất sắc nên ban cho tên thuỵ riêng. Những người còn lại như Nguyễn Viết Triệu, Trần Danh Án, Nguyễn Ðình Giản, Nguyễn Ðình Viện, Nguyễn Quang Châu, Nguyễn Văn Quyên, Trần Danh Bính, Trần Ðĩnh và những người thêm vào như Nguyễn Huy Trạc, Nguyễn Quốc Ðống, Lê Hân, Hoàng Ích Hiểu, Lê Doãn Trị, Nguyễn Ðình Cẩm, Lê Quý Thích, Ðàm Thận Xưởng, Nguyễn Hùng Trung, Nguyễn Trọng Du, Lê Tùng, Lê Thức, Lê Trọng Vĩ, Phạm Như Tùng tất cả 22 người thì ban cho tên thuỵ chung như thế cho có phân biệt.

Còn như những chữ cấm kỵ của triu đình, đợi khi liệt trong ngày tế, chiếu theo tên cũ không cần phải thay đổi tránh né. Những người như con của Nguyễn Đình Viện là Nguyễn Ngọc Liễn, Nguyễn Ngọc Triệu, Nguyễn Ngọc Chấn, con rể là Thiu Tôn Hiệp, em trai Trần Ðĩnh là Trần Lang, cháu là Trần Trừng, cùng con rể của anh là Vũ Trọng Dật, con nuôi của em là Trần Dần, Trần Hạc, con trai Lê Trọng Vĩ là Lê Ðình Ðịnh đu cùng tuẫn nạn một lần, cả nhà trung hiếu, cũng đu đáng khen cả.

Bọn Nguyễn Đình Liễn cả thảy 10 người cũng được chuẩn cho phụ tế ở trong đn để tỏ ra rằng triu đình chuộng việc trung tiết, không chuyện nhỏ nào không chép đến.

Những người ở trên được ban tên thuỵ và vào danh sách cúng tế, cùng các khoản lập từ dựng bia đu giao cho bầy tôi các bộ Lễ và bộ Công, cùng chung thực hiện. Còn việc thảo luận để tính việc dài lâu thì hãy tâu lên đợi chiếu chỉ rồi sau đó theo mà thi hành để cho hợp với ý trẫm.

Còn mọi việc khác trẫm chuẩn y theo nghị luận mà làm, hãy khá tuân theo.

 

 

NIÊN BIỂU

NĂM DL SỰ KIỆN GHI CHÚ
Canh Ngọ 1750 Sinh ra ở làng Đại Mão, huyện Siêu Loại, phủ Thuận An, Giang Bắc  
  1770 Được tập ấm làm hiển cung đại phu  
  1774 Cha mất, trở về quê nuôi mẹ  
Bính Ngọ 1786 Tây Sơn ra Bắc, Lê Quýnh đem 300 binh đinh vào bảo vệ triều đình, được phong tước bá  
Đinh Mùi 1787 Cùng với Đinh Nhạ Hành chống Tây Sơn ở Sơn Nam  
    Tập hợp binh lực ở Văn Phong, được thăng lên Trường Phái Hầu  
    Được vua Lê sai lên Thái Nguyên hợp với Nguyễn Huy Túc, Nguyễn Quốc Đống hộ vệ hoàng gia  
Mậu Thân 1788   Vua Lê bôn tẩu Giang Bắc, Hạp Sơn, Vị Hoàng
    Tháng Tư: Lê Quýnh đưa gia quyến vua Lê chạy sang Mục Mã, Cao Bình  
    Tháng Năm: Nhóm Lê Quýnh bị quân Tây Sơn đuổi đánh phải chạy đến Thuỷ Khẩu, Phất Mê rồi sang Trung Hoa còn được 62 người  
    Tháng Sáu: Quan nhà Thanh cho an tháp ở Nam Ninh và tâu lên vua Càn Long để xin động binh chinh tiễu An Nam  
    Tháng Tám: Theo đường thuỷ Quảng Đông về nước tìm gặp vua Chiêu Thống ở Tứ Kỳ (Hải Dương) Một nhóm khác do Nguyễn Đình Mai theo đường Vân Nam về nước
    Tháng Chín: Đi cùng phái đoàn Lê Duy Đản, Trần Danh Án mang quốc thư sang Quảng Tây cầu viện  
    Tháng Mười: Đi theo đoàn quân Tôn Sĩ Nghị về nướcĐược sai đi kiếm vua Chiêu Thống đưa về Thăng Long Gặp Tôn Sĩ Nghị ở phủ Thái Bình, quân Thanh đang sắp sửa tiến sang nước ta
    Tháng Một: Cùng với Lê Duy Kỳ đến bờ phía bắc sông Phú Lương để gặp Tôn Sĩ Nghị Việc này phủ nhận triều đình vua Lê đem bò rượu ra đón quân Thanh ở Lạng Giang
    Tháng Một: Sau khi vua Chiêu Thống được phong vương, Lê Quýnh được nhà Thanh ban cho chỏm mũ chức vụ tổng binh và vua Chiêu Thống cho làm bình chương sự lo việc lương hướng để chuẩn bị tiến quân thu phục các khu vực đã mất Thanh triều thay đổi kế hoạch không tiếp tục dự tính đánh xuống Thuận Hoá để bắt sống Nguyễn Huệ và muốn giữ nguyên tình trạng chia cắt thành hai miền Nam và Bắc Hà [có thể sẽ tái lập một nước Chiêm Thành như thời nhà Minh]
    Tháng Chạp: Bị sốt rét nên về quê chữa bệnh Sự vắng mặt của Lê Quýnh phủ nhận những vu cáo về ông trong dã sử và cuốn tiểu thuyết HLNTC
       
Kỷ Dậu 1789    
    Tháng Giêng: Quân Thanh bị đánh tan, Tôn Sĩ Nghị phải chạy về Quảng Tây Vua Quang Trung không truy kích quân Thanh nhằm mở ra một cơ hội bang giao hậu chiến. Hầu hết triều đình vua Lê và thân nhân đều chạy thoát lên hướng Bắc.
    Vua Chiêu Thống vào một số thân quyến, bầy tôi chạy được sang Trung Hoa Lê Quýnh vì ở quê không biết tin quân Thanh thua trận nên không theo vua Chiêu Thống sang Trung Hoa.
    Lê Quýnh ở lại quê nhà nhận lệnh vương phi chiêu mộ hào kiệt và chuẩn bị chờ quân Thanh sang cứu viện lần thứ hai Theo tình hình thực tế lúc đó, khu vực Giang Bắc có thể coi là trung tâm đầu não của nhóm hoài Lê sẵn sàng hưởng ứng nếu quân Thanh sang lần thứ 2.
    Tháng Năm: Lê Huy Trình theo lệnh Phúc Khang An về gọi Lê Quýnh và bộ tham mưu của ông sang Trung Hoa Trong khoảng từ tháng Hai đến tháng Năm, việc đàm phán giữa Thanh triều và Đại Việt đã đi những bước quan trọng:- Tháng Hai: Nguyễn Quang Bình xin giảng hoà- Tháng Ba: thu xếp để trao trả các tù binh bị bắt. Vua Càn Long chính thức bãi bỏ việc điều binh trả thù.

– Tháng Tư: tình hình đàm phán giữa Thanh triều và Đại Việt sắp kết thúc như dự kiến. Vua Càn Long chính thức thông báo cho Nguyễn Quang Bình về việc chấm dứt yểm trợ cho nhà Lê.

– Tháng Năm: đa số tù binh được trả về Trung Hoa.

Sau khi đã có những kết quả cụ thể và triển vọng công nhận Nguyễn Quang Bình càng lúc càng rõ nét, Phúc Khang An tính kế để vô hiệu hoá nhóm cựu thần nhà Lê bằng cách sai người về mời họ sang Quảng Tây “bàn quốc sự”.

    Tháng Năm: Nguyễn Quang Hiển thay mặt vua Quang Trung lên Bắc Kinh nhận sắc và ấn của nhà Thanh Vua Càn Long bằng lòng cho Nguyễn Quang Bình nạp khoản và ban cho một vòng trân châu.Truyền lệnh cho Lê Duy Kỳ và nhóm tòng vong phải cạo đầu, đổi sang y phục Trung Hoa.
    Tháng Sáu: Nguyễn Quang Hiển và Lê Duy Kỳ gặp nhau ở Quế Lâm Vua Càn Long bằng lòng phong vương cho Nguyễn Quang Bình và thu nhận lễ vật đưa lên Bắc Kinh.
    Tháng Bảy: Thanh triều chuẩn bị gửi Thành Lâm sang phong vương cho Nguyễn Quang Bình Trao đổi giữa hai triều đình chủ yếu là về việc phái đoàn vua Quang Trung sẽ sang Bắc Kinh vào năm sau.
    Tháng Tám: Lê Quýnh và đồng chí theo đường Ải Điếm sang Ninh MinhGặp Lâm Hổ Bảng, tri phủ Thái Bình Lê Quýnh thông báo cho nhà Thanh biết họ còn giữ được cái ấn An Nam quốc vương mà vua Lê được ban như một dấu hiệu họ đang là đầu não của các cuộc nổi dậy.
    Tháng Chín: Tả Giang đạo Tống Văn Hình đến ép cạo đầu, đổi y phục nhưng bọn Lê Quýnh không bằng lòng  
    Tháng Mười: Lê Quýnh và năm người khác nhất định chống lại lệnh cắt tóc nên bị đưa đi Liễu Châu. Trên đường đi có 2 người bị ốm chết Khâm sứ nhà Thanh là Thành Lâm sang phong vương cho vua Quang Trung ở Thăng Long.Vua Càn Long ban lịch Thời Hiến và ra lệnh khai quan thông thị.
    Tháng Một: Nhóm Lê Quýnh gặp Phúc Khang An ở Ngô Châu Hai bên đấu lý về việc ép Lê Quýnh phải cắt tóc, đổi áo.Vua Càn Long ra lệnh đưa nhóm Lê Duy Kỳ lên Bắc Kinh.
    Tháng Chạp: Nhóm Lê Quýnh đến Quế Lâm Khi biết ý định của nhà Thanh không giúp nữa, Lê Quýnh từ chối không gặp vua Lê mà xin về nước lo việc phục quốc.Vua Càn Long ra lệnh đưa nhóm Lê Quýnh lên kinh đô để tra hỏi.
Canh Tuất 1790 Tháng Giêng: Nhóm Lê Quýnh bị đưa lên kinh đô theo lệnh của vua Càn Long. Mục đích ban đầu của việc đưa bọn Lê Quýnh lên kinh đô là nhằm cho họ sống chung với nhóm cũ của vua Chiêu Thống.
    Tháng Ba: Nhóm Lê Quýnh đến Duyện Châu  
    Tháng Tư: Nhóm Lê Quýnh gặp vua Càn Long đích thân tra hỏi và khuyên nhủ nhưng nhất quyết không chịu ở lại Trung Hoa. Sau khi biết nhóm Lê Quýnh không chịu ở lại làm dân thiên triều, vua Càn Long giao họ cho bộ Hình quản thúc không cho họ có thể phá rối phái đoàn An Nam sang Bắc Kinh.Phái đoàn vua Quang Trung lên đường đi chúc thọ
    Tháng Năm: Bị đưa ra thẩm vấn ở miếu Lôi Thần rồi chia ra giam ở ngục phía Bắc thuộc bộ Hình Bốn người bị chia thành hai nhóm theo lệnh vua Càn Long để dễ khuyến dụ
    Tháng Sáu: Lê Quýnh được Đinh Nhạ Hành, Phạm Như Tùng, Nguyễn Quốc Đống đến thăm  
    Tháng Bảy-Tám: Phái đoàn Quang Trung đến Nhiệt Hà và Bắc Kinh chúc thọVua Càn Long cho tra hỏi những người An Nam nào muốn về nước sống yên thân thì sẽ được toại nguyện
    Tháng Một: Con là Lê Doãn Toàn[11] đến thăm  
    Tháng Chạp: Hồ Quí Đường đến ép cắt tóc nhưng không chịu  
Tân Hợi 1791    
    Tháng Giêng: Nhận được tin Lê Duy Kỳ làm tá lãnh  
    Tháng Ba: Vua Lê sai Nguyễn Quốc Đống đến cho 10 lạng bạc và 2 cân trà cùng ba bài thơ  
    Tháng Tư: Lê Quýnh nhận được thư vua Chiêu Thống Vua Lê và 10 người khác cắt máu ăn thề xin nhà Thanh can thiệp để vua Quang Trung cắt một trong bốn tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Hưng Hoá cho nhà Lê để phụng thờ tông miếu. Vua Càn Long tức giận cho đày mỗi người một nơi, Lê Duy Kỳ bị cắt hết bổng lộc
    Tháng Năm: Lê Quýnh nghe tin nhóm vua Lê bị phân tán đi các nơi  
       
Nhâm Tí 1792    
    Tháng Năm: Gọi lên tra hỏi về việc Nguyễn Quang Bình tố cáo Lê Duy Chỉ ám thông với Lê Duy Kỳ Vua Quang Trung tố cáo rằng trong số những người An Nam được đưa về nguyên quán đã có người ám thông với Lê Duy Chỉ và giả mạo sắc chỉ của nhà Thanh để mưu tính việc đưa Lê Duy Kỳ trở lại.Vua Càn Long đã cho tra hỏi những người ở Bắc Kinh về việc này, kể cả lấy khẩu cung những người đang ở trong ngục là nhóm Lê Quýnh nhưng không có chứng cớ gì vì họ hoàn toàn biệt lập với bên ngoài.
      Tháng Năm: Lê Duy Thuyên, con trai Lê Duy Kỳ qua đời.Tháng Chín: Vua Quang Trung qua đời.
Quí Sửu 1793   Tháng Mười: Vua Chiêu Thống qua đời.
Giáp Dần 1794   Tháng Chín: Lê Duy Trị [chú họ vua Chiêu Thống] trốn qua Trung Hoa.
Bính Thìn 1796   Vua Càn Long nhượng vị cho con là vua Gia Khánh để lên làm thái thượng hoàngGia Khánh nguyên niên
Đinh Tị 1797 Lê Quýnh gặp người đàn bà họ Phan là gia quyến hải tặc bị bắt Vì nội bộ triều đình Cảnh Thịnh có những tranh chấp, việc quản thúc hải quân sơ lậu đưa đến một số tướng lảnh gốc hải phỉ quay ra biển cướp bóc tàu buôn bị nhà Thanh bắt giữ và trừng phạt
    Tháng Chạp: Phản đối việc đề lao khinh nhờn  
Mậu Ngọ 1798    
Canh Thân 1800 Tháng Tư: Được thả ra khỏi ngục, an tháp ở Lam Điện bên ngoài Hoả Khí Doanh Được tuỳ tiện ăn mặc theo kiểu An Nam
    Viếng mộ vua Chiêu Thống ở phía đông kinh thành  
Quí Hợi 1803 Tháng Bảy: Gặp con là Lê Doãn Trác trong phái bộ cầu phong của nhà Nguyễn.Tháng Chín: Xin được đưa di cốt vua Lê về nước.  
Giáp Tí 1804 Thanh triều đồng ý cho mang quan tài vua Lê, thái hậu, nguyên tử … về nước.  
    Tháng Tám: Toàn bộ nhóm Lê Quýnh về đến Bắc Thành [Thăng Long]. An táng vua Chiêu Thống và thân quyến ở Thanh Hoa.Hoàng phi Nguyễn Thị Kim tự tử.
    Tháng Một: Lê Quýnh về quê viếng từ đường rồi vào ở chùa Đại Đồng.  
Ất Sửu 1805 Mồng 1 tháng Chín: Lê Quýnh bị cướp đâm nhiều vết, đến ngày 15 tháng Chín thì qua đời  
Đinh Tị 1857   Tự Ðức thứ 10Triều đình cho xây Lê Mạt Tiết Nghĩa Từ ở Hà Nội

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

HÁN VĂN

  1. Bá, Dương (柏楊). Trung Quốc Nhân Sử Cương (中國人史綱) (thượng và hạ, tu đính bản). Ðài Bắc: Tinh Quang xuất bản xã, 1996.
  2. Chiêu, Liên [昭槤]. Khiếu Đình Tạp Lục [嘯亭雜錄] 10 quyển. Thượng Hải: Thượng Hải Cổ Tịch xbx, 2002
  1. Đại Việt Quốc Thư [大越國書] (6 quyển). Bản chép tay, số hiệu A.144 Paris EFEO MF II.85
  2. Ðinh, Lệnh Uy (丁令威). Tang Thương Lệ Sử (桑滄淚史). Tạp Chí Nam Phong (phần Hán Văn) quyển 23 (Hà Nội, 1928)
  3. Lam, Ngọc Xuân (藍玉春). Trung Quốc Ngoại Giao Sử – Bản Chất dữ Sự Kiện, Xung Kích dữ Hồi Ứng (中國外交史- 本質與事件,衝擊與回應). Ðài Bắc: Tam Dân thư cục, 2007.
  4. Lê, Quýnh (黎囧). Bắc Hành Lược Ký đăng trong Nam Phong Tạp Chí, phần Hán Văn từ số 125-131
  5. Lê, Quýnh (黎囧). Bắc Hành Tùng Ký trong Việt Nam Hán Văn Tiểu Thuyết Tùng San [quyển VI] do Trần Khánh Hạo và Vương Tam Khánh chủ biên (Paris-Taipei: École Française d’Extrême-Orient, 1986)
  6. Lê, Quýnh (黎囧). Bắc Hành Tùng Ký, bản chép tay lưu trữ trong Viện Hán Nôm [Hà Nội] (VHv108) được in lại theo lối chụp ảnh trong Việt Nam Hán Văn Yên Hành Văn Hiến Tập Thành [tập VI] (Phục Ðán đại học xbx, 2010)
  7. Lưu, Ngạn (劉彥). Trung Quốc Ngoại Giao Sử (中國外交史). Ðài Bắc: Tam Dân thư cục, 1990 (in lần thứ tư).
  8. Phan, Thúc Trực (潘叔直). Quốc Sử Di Biên (國史遺編). Hương Cảng: Viện Nghiên Cứu Ðông Nam Á, 1965
  9. Phó, Khải Học (傅啟學). Trung Quốc Ngoại Giao Sử (中國外交史) [thượng-hạ] Ðài Bắc: Ðài Loan thương vụ, 1972.
  10. Phương Lược Quán Triều Thanh (方略館). Khâm Ðịnh An Nam Kỷ Lược (欽定安南紀略). Hồ Nam: Hải Nam, 2000. (chụp lại nguyên bản từ Ngự Thư Phòng vua Gia Khánh, hiện tàng trữ tại Cố Cung Bác Vật Viện Bắc Kinh)
  11. Quách, Chấn Phong (郭振鋒) và Trương Tiếu Mai (張笑梅) (chủ biên). Việt Nam Thông Sử (越南通史). Bắc Kinh: Trung Quốc Nhân Dân đại học xb xã, 2001.
  12. Quốc Lập Cố Cung Bác Vật Viện [國立故宮博物院]. Cung Trung Đáng Càn Long Triều Tấu Triệp [宮中檔乾隆朝奏摺]. Quyển 68-72. Đài Bắc: Quốc Lập Cố Cung Bác Vật Viện, 1988.
  13. Thanh Thực Lục (清實錄): Cao Tông Thuần Hoàng Ðế Thực Lục (高宗純皇帝實錄). Bắc Kinh: Trung Hoa thư cục, 1986
  14. Trần, Hạ Sinh [陳夏生] (chủ biên). Trung Hoa Ngũ Thiên Niên Văn Vật Tập San– Phục Sức Thiên (thượng – hạ) [中華五千年文物集刊服飾篇]. Đài Bắc: Sĩ Lâm, 1986
  15. Trần, Khánh Hạo (陳慶浩) chủ biên. Việt Nam Hán Văn Tiểu Thuyết Tùng San (越南漢文小說叢刊) [7 volumes] Paris-Taipei: École française d’Extrême-Orient & Editions Universitaires de Taipei, 1986.
  16. Trần, Khánh Hạo (陳慶浩) chủ biên. Việt Nam Hán Văn Tiểu Thuyết Tùng San (越南漢文小說叢刊) [5 volumes] Paris-Taipei: École française d’Extrême-Orient & Editions Universitaires de Taipei, 1992.
  17. Trang, Cát Phát (莊吉發). Thanh Cao Tông Thập Toàn Võ Công Nghiên Cứu (清高宗十全武功研究). Ðài Loan: Cố Cung Tùng San, Giáp Chủng số 26, tháng 6 năm 1982.
  18. Trung Quốc Đệ Nhất Lịch Sử Đáng Án Quán. Càn Long Triu Thượng Dụ Đáng (乾隆朝上諭檔) quyển XIV, XV, XVI. Bắc Kinh: Đáng Án Xuất Bản Xã, 1991.
  19. Trung Quốc Nhân Dân Đại Học. Thanh Sử Biên Niên (清史編年)”Càn Long Triều“ (乾隆朝), quyển VI. Bắc Kinh: Trung Quốc Nhân Dân Đại Học, 1991.
  20. Trương, Tú Dân (張秀民). Trung Việt Quan Hệ Sử Luận Văn Tập (中越關係史論文集). Ðài Bắc: Văn Sử Triết, 1992.
  21. Văn Hiến Tùng Biên (文獻叢編) [thượng-hạ]. Ðài Bắc: Quốc Phong, 1964.
  22. Viện Hán Nôm Hà Nội (cộng tác với Phục Ðán đại học Trung Quốc). Việt Nam Hán Văn Yên Hành Văn Hiến Tập Thành (越南漢文燕行文献集成) (toàn bộ 25 quyển) Bắc Kinh: Phục Ðán đại học xbx, 2010.

VIỆT VĂN

  1. Bùi, Dương Lịch. Nghệ An Ký (Nguyễn Thị Thảo dịch). Hà Nội: KHXH, 1993.
  2. Hoa Bằng. Quang Trung Nguyễn Huệ, Anh Hùng Dân Tộc 1788-1792. California: Ðại Nam (không đề năm). (in chụp lại theo bản lần thứ hai của Saigon: Thư Lãm Ấn Thư Quán, 1958).
  3. Hoàng, Xuân Hãn. La Sơn Phu Tử. Saigon: Minh Tân, 1952.
  4. Hoàng, Xuân Hãn. La Sơn Yên Hồ Hoàng Xuân Hãn, [ba tập]. Hữu Ngọc – Nguyễn Ðức Hiền (sưu tập). Hà Nội: nxb Giáo Dục, 1998.
  5. Lê Quí Ðôn. Ðại Việt Thông Sử (Tủ Sách Cổ Văn, bản dịch Trúc Viên Lê Mạnh Liêu). Saigon: Bộ VHGD và TN, 1973.
  6. Ngô Gia Văn Phái. Hoàng Lê Nhất Thống Chí (bản dịch Nguyễn Ðức Vân, Kiều Thu Hoạch) Hà Nội: Văn Học, 2002.
  7. Ngô, Cao Lãng. Lịch Triu Tạp Kỷ (Hoa Bằng và Hoàng Văn Lâu dịch). Hà Nội: Khoa Học Xã Hội, 1995.
  8. Nguyễn, Lương Bích. Lược Sử Ngoại Giao Việt Nam Các Thời Trước. Hà Nội: Quân Ðội Nhân Dân, 1996.
  9. Nguyễn, Trí Sơn. Thư Mục v Tây Sơn – Nguyễn Huệ. Nghĩa Bình: Thư Viện Khoa Học Tổng Hợp, 1988.
  10. Phạm, Văn Thắm (dịch). Lê Quý Dật Sử. Hà Nội: Khoa Học Xã Hội, 1987.
  11. Phan, Thúc Trực. Quốc Sử Di Biên (bản dịch Ðỗ Mộng Khương, Viện Sử Học, Viện KHXHVN). Hà Nội: VH-TT, 2009.
  12. Phan, Thúc Trực. Quốc Sử Di Biên (bản dịch Hồng Liên Lê Xuân Giáo). Saigon: Phủ Quốc Vụ Khanh Ðặc Trách Văn Hoá, 1973.
  13. Phan, Trần Chúc. Cuộc Ðời Trôi Nổi Và Ðau Thương Của Vua Lê Chiêu Thống. Hà Nội: Văn Hoá Thông Tin, 2001.
  14. Quang Trung Nguyễn Huệ. Ðại Việt Quốc Thư (Ðình Thụ Hoàng Văn Hòe dịch). Saigon: Trung Tâm Học Liệu, Bộ Giáo Dục, 1973.
  15. Quốc Sử Quán Triều Nguyễn. Ðại Nam Thực Lục, Tập Một (bản dịch Viện Sử Học). Hà Nội: nxb Giáo Dục, 2001.
  16. Quốc Sử Quán Triều Nguyễn. Khâm Ðịnh Việt Sử Thông Giám Cương Mục (Hai Tập) (bản dịch Viện Sử Học). Hà Nội: nxb Giáo Dục, 1998.
  17. Quốc Sử Quán Triều Nguyễn. Nhà Tây Sơn (Ðại Nam Chính Biên Liệt Truyện: Nguỵ Tây) (bản dịch Tạ Quang Phát) Saigon: Phủ Quốc Vụ Khanh Ðặc Trách Văn Hoá, 1970.
  18. Tập San Sử Ðịa (Saigon) tập 13, 14 -15, 16.
  19. Trần, Văn Giáp. Tìm Hiểu Kho Sách Hán Nôm: Nguồn Tư Liệu Văn Học Sử Học Việt Nam (tập I) in lần thứ hai. Hà Nội: Văn Hóa, 1984
  20. Trần, Văn Giáp. Tìm Hiểu Kho Sách Hán Nôm: Nguồn Tư Liệu Văn Học Sử Học Việt Nam (tập II). Hà Nội: nxbKHXH, 1990.
  21. Trung Tâm Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn Quốc Gia. Tổng Tập Văn Học Việt Nam (trọn bộ 42 tập). Hà Nội: KHXH, 2000.

PHÁP VĂN

  1. Buis, Georges và Charles Daney. Quand les Français découvraient l’Indochine. Paris: Herscher, 1981
  2. Ðặng Phương Nghi. Les Institutions Publiques du Viet-Nam au XVIIIe Siècle. Paris: École Française d’Extrême-Orient, 1969.
  3. Maybon, Charles B. Histoire Moderne du Pays d’Annam (1592-1820). Paris: Librairie Plon, 1920.
  4. Maybon, Charles B. La Relation sur le Tonkin et la Cochinchine de Mr de la Bissachère. Paris: Librairie Ancienne Honoré Champion, 1919.

ANH VĂN

  1. Chia, Ning. “The Lifanyuan and the Inner Asian Rituals in the early Qing (1644-1795)”. Late Imperial China Vol. 14, No. 1 (June 1993): 60-92
  2. Dutton, George. The Tây Sơn Uprising – Society and Rebellion in Eighteenth-Century Vietnam. Honolulu: University of Hawai’i Press, 2006.
  3. Hummel, Arthur W. (chủ biên) Eminent Chinese of the Ch’ing Period (1644-1912) (清代名人傳略) Taipei: Ch’eng Wen Publishing Company, 1970. (in lại theo bản của chính phủ Mỹ, Washington 1943)
  1. Kahn, Harold L. Monarchy in the Emperor’s Eyes: Image and Reality in the Chíen-lung Reign. Cambridge, Mass.: Harvard University Press, 1971.
  1. Mcaleavy, Henry. The Modern History of China. New York: Frederick A. Praeger, Inc., 1967.
  2. Scidmore, Eliza Ruhamah. China, The Long-Lived Empire. New York: The Century Co., 1900.
  3. Spence, Jonathan D. & Annping Chin. The Chinese Century: A Photographic History of the Last Hundred Years. New York: Random House, Inc., 1996
  4. Spence, Jonathan D. The Search for Modern China. New York: W.W. Norton & Co., 1990.
  5. Yen Mah, Adeline. China: Land of Dragons and Emperors (Sidney, Australia: Allen & Unwin, 2008) [reprinted by Delacorte Press, New York, 2009]

TỪ ĐIỂN

  1. La Trúc Phong (罗竹风) chủ biên. Hán Ngữ Ðại Từ Ðiển (漢語大詞典). Thượng Hải: Thượng Hải Từ Thư Xuất Bản Xã, 1986.
  2. Nguyễn, Văn Tân. Từ Ðiển Ðịa Danh Lịch Sử – Văn Hoá Việt Nam. Hà Nội: Văn Hoá – Thông Tin, 1998.
  3. Tang, Lệ Hòa (臧勵龢) (chủ biên). Trung Quốc Nhân Danh Ðại Từ Ðiển (中國人名大辭典). [bản tăng bổ lần thứ 2] Ðài Bắc: Ðài Loan Thương Vụ Ấn Thư Quán, 1979.
  4. Trần, Văn Chánh. Ngữ Pháp Hán Ngữ – Cổ và Hiện Đại. Tp. HCM: Trẻ, 2003.
  5. Trần, Văn Chánh. Từ Ðiển Hán Việt: Hán Ngữ Cổ Ðại và Hiện Ðại (in lần thứ hai). tpHCM: Trẻ, 2001.

TÀI LIỆU RIÊNG

  1. An Nam Đáng II, bản dịch NDC theo nguyên bản Văn Hiến Tùng Biên (文獻叢編) [thượng và hạ]. Ðài Bắc: Quốc Phong, 1964.
  2. An Nam Đáng III, bản dịch NDC theo nguyên bản Cố Cung Bác Vật Viện Đài Bắc, 2007.
  3. Bắc Hành Lược Ký, bản dịch NDC theo nguyên bản Lê Quýnh (黎囧), Bắc Hành Lược Ký (北行略記). Nam Phong tạp chí (125-131)
  4. Đại Việt Quốc Thư, bản dịch NDC theo nguyên bản Đại Việt Quốc Thư [大越國書] (6 quyển). Bản chép tay, số hiệu A.144 Paris EFEO MF II.85
  5. Dụ Am Văn Tập, bản dịch NDC theo nguyên bản chép tay Viện Hán Nôm Hà Nội (A.604/1-3) Phan Huy Ích [潘輝益], Dụ Am Văn Tập [裕庵文集]
  6. Khâm Định An Nam Kỷ Lược, bản dịch NDC theo nguyên bản chụp lại từ Ngự Thư Phòng vua Gia Khánh, hiện tàng trữ tại Cố Cung Bác Vật Viện Bắc Kinh. Phương Lược Quán Triều Thanh (方略館). Khâm Ðịnh An Nam Kỷ Lược (欽定安南紀略). Hồ Nam: Hải Nam, 2000.

[1] Trần Khánh Hạo chủ biên, Việt Nam Hán Văn Tiểu Thuyết Tùng San, Lịch Sử Tiểu Thuyết Loại, đệ ngũ sách: Hoàng Lê Nhất Thống Chí, (Ðài Loan: Học Sinh thư cục, 1987) tr. 241

[2] Theo chính sử thì 5 ngày sau khi Thái Thượng Hoàng qua đời, Hoà Khôn mới bị hạ ngục nhưng theo những người thân cận, thì ngay lập tức vua Gia Khánh đã xuống tay mặc dầu chiếu chỉ viết chậm lại 5 ngày để tỏ lòng hiếu thảo với vua cha.

[3] Tuy nhiên, đối chiếu nhiều tài liệu khác nhau nhất là những bản gốc còn lưu trữ, người ta có thể tìm thấy nhiều chi tiết được thêm vào, bớt đi và một số tấu triệp đã bị xoá bỏ những phần bất lợi cho vua Càn Long.

[4] Về việc chỉ định người kế vị, theo truyền thống hoàng đế tại vị giữ bí mật và để di chiếu trong một hộp kín nên có nhiều giả thuyết và vua Càn Long đã thay đổi nhiều lần vì nhiều hoàng tử chết sớm. Xem thêm Ch. 12 “Secret Succession and the Control of Cliques” trong Monarchy in the Emperor’s Eyes: Image and Reality in the Ch’ien-lung Reign (1971) tr. 231-247

[5] Trương Phi đánh Ba Thục, bắt được Nghiêm Nhan. Nhan không chịu đầu hàng, nói rằng: ở xứ Thục có anh tướng quân đứt đầu chứ không có tướng quân đầu hàng.

[6] Vua Hoài Đế nhà Tấn bị giặc đuổi, quan thị trung Kế Thiệu đưa mình che tên cho vua, bị bắn chết, rảy máu lên áo vua.

[7] Đời nhà Đường, An Lộc Sơn làm phản, Trương Tuần khởi quân đánh giặc, nhưng thua trận và bị bắt. Trương Tuần mắng giặc luôn miệng, bị giặc bẻ hết hai cái răng.

[8] Nhan Kiều Khanh bị giặc bắt, bị giặc cắt đứt lưỡi, nhưng vẫn cứ chửi mãi không thôi

[9] Trần Khánh Hạo (chủ biên), Việt Nam Hán Văn Tiểu Thuyết Tùng San [VI] (1987) tr. 118-121

[10] Trần Khánh Hạo (chủ biên), Việt Nam Hán Văn Tiểu Thuyết Tùng San [VI] (1987) tr. 117-8

[11] Nhiều tài liệu viết là Doãn Thuyên [允佺]. Thuyên là chữ Toàn có bộ Nhân, chúng tôi dùng Toàn cho thống nhất.

bài đã đăng của Nguyễn Duy Chính


1 bình luận »

  • Tử Hoa viết:

    Cho mình hỏi, Lê mạt tiết nghĩa từ này được xây dựng ở nơi nào của Hà Nội, và bây giờ đền còn tồn tại không ạ? Mình rất thích loạt bài về Lê Quýnh cũng như Lê Chiêu Thống, rất bổ ích và giúp mình có cái nhìn toàn diện hơn về bối cảnh lịch sử thời đó.
    Mình xin cảm ơn tác giả.

Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)
porn ficken russian porn japanese porn watch porn watch sex izle sex izle anal porn tube amateur porn watch