Trang chính » Alice Munro và Thể Loại Truyện Ngắn, Bàn Tròn: Văn Học Nghệ Thuật, Chuyên Đề Email bài này

Sau Alice Munro, truyện ngắn không còn như trước nữa

0 bình luận ♦ 10.04.2014

 

(1) Trong giới văn học và xuất bản ở Mỹ hiện nay, tuy trong thời đại internet và social media, truyện ngắn không được đánh giá trị cao như truyện dài. Những nhà văn trẻ thường bắt đầu với truyện ngắn như một cách “học nghề,” nhưng sau đó bước chân vào truyện dài như một lẽ dĩ nhiên. Alice Munro, Raymond Carver, Lydia Davis và Lorrie Moore được coi là ngoại lệ, vì đây là những nhà văn nổi tiếng với những cải cách trong thể truyện ngắn. Hiện số mệnh truyện ngắn trong giới văn học Việt trong và ngoài nước như sao? Truyện ngắn có được giới độc giả Việt đánh giá cao hơn truyện dài không? Tại sao?

– Trả lời: Truyện ngắn lâu nay vốn không được đánh giá cao như truyện dài trước hết là vì cái… tên gọi của nó: truyện ngắn, trong lúc truyện dài thì “cả tiếng lại dài hơi” hơn. Người ta vẫn chuộng “dài” hơn là “ngắn.” Truyện ngắn vẫn được cho là chỉ để giải khuây, ít giá trị văn chương, thiếu sức nặng tư tưởng. Khi nói đến “tác phẩm lớn,” ít ai nghĩ đến truyện ngắn. Kể từ khi được nhóm Tự Lực Văn Đoàn đặt cho cái tên là “Truyện ngắn” (dịch từ tên tiếng Anh, “Short story”), thể loại văn chương này đành mang số phận của… truyện ngắn. Truyện ngắn thì ai viết cũng được, chỉ có truyện dài hay tiểu thuyết mới thực sự là tác phẩm của một nhà văn, đấy là cách suy nghĩ theo thói quen lâu nay của độc giả người Việt.

Vì sao vậy? Thứ nhất, kể từ khi có cái thú đọc truyện Quốc ngữ, người Việt mình từng say mê những truyện dài phiêu lưu mạo hiểm, trinh thám, dã sử, kiếm hiệp, những pho tiểu thuyết lâm ly bi đát, kỳ tình diễm ảo. Cả đến truyện dài đăng từng kỳ trên các nhật báo, tuần báo cũng rất ăn khách và trông bề thế hơn so với truyện ngắn nhiều lắm chỉ khiêm tốn nằm ở cột báo “Mỗi ngày/tuần một truyện,” như chiếc bóng mờ nhạt. Thứ hai, ít có truyện ngắn hay. Thường người ta đọc và quên đi. Truyện ngắn “còn chút gì để nhớ” sau khi đọc không có bao nhiêu.

Cho dù người ta vẫn nói truyện ngắn có chỗ đứng riêng, chỗ đứng này ít được trọng vọng như chỗ đứng của truyện dài.

Chuyện “học nghề” thì nghề nào–kể cả “nghề” viết văn–cũng cần học hỏi, “nghề chơi cũng lắm công phu” mà. Bà Munro cũng phải trải qua những rèn luyện thử thách ấy khi nhắm tới cái đích truyện dài, như bà từng bộc lộ với tờ The New Yorker, “For years and years I thought that stories were just practice, till I got time to write a novel.” Chỉ có điều quá trình “học nghề” ấy kéo dài hơn bà tưởng, sau cùng bà đành ở lại với truyện ngắn trong lúc vẫn nuôi giấc mộng viết truyện dài, và tìm cách tự thỏa mãn giấc mộng ấy bằng những truyện ngắn rất gần với tiểu thuyết, có lúc tưởng làm nhòa đi lằn ranh giữa hai thể loại truyện này.

Sau cú đoạt giải Nobel văn học khá bất ngờ của Alice Munro, người ta bắt đầu có cái nhìn khác đi về truyện ngắn. Trong những yếu tố đoạt giải, còn phải kể thêm yếu tố may mắn nữa. Ở vào một thời đại người ta ít chịu bỏ nhiều thì giờ đọc những gì dài lê thê, những người chấm giải bèn quay sang một nhà văn “chuyên trị” truyện ngắn, và truyện ngắn bèn chớp thời cơ lên ngôi. Cũng cần cám ơn bà Munro, nhờ vậy mà truyện ngắn Việt Nam cũng ăn theo mà “lên điểm” (hay “lên đời,” nói như trong nước). Còn chuyện liệu “truyện ngắn có được giới độc giả Việt đánh giá cao hơn truyện dài” thì… chắc phải chờ thêm một giải Nobel nữa về truyện ngắn.

(2) Chúng ta có Cung Tích Biền, Trần thị Ngh., Lê thị Huệ, Nguyễn Thụy Long, Nguyễn Xuân Hoàng, Sơn Nam, Bình Nguyên Lộc, Trần Vũ, Nguyễn thị Thảo An, Phạm thị Hoài, Linh Đinh, Lâm Chương (có thể coi Lâm Chương như một nhà văn viết novella – thể truyện giữa “ngắn” và “dài”), McAmmond Nguyễn thị Tú, Lê Minh Hà, Lê Minh Phong, v.v… là những nhà văn đặc sắc ở thể truyện ngắn. Yếu tố nào là yếu tố chung của các nhà văn viết truyện ngắn đã tạo ra sự chú ý từ độc giả? Ngoài ra, yếu tố nào là đã tạo cho họ vị trí cá biệt trên văn đàn? Những yếu tố này có phải cũng là những yếu tố định nghĩa cho sự sinh tồn của truyện ngắn?

– Trả lời: Tôi vẫn cho là yếu tố chung, cũng là yếu tố trên hết của các nhà văn viết truyện ngắn và cả truyện dài, là giọng văn, gọi văn vẻ là văn phong. Không có giọng văn riêng thì khoan nói đến chuyện gì khác. Giọng văn riêng là giọng văn không giống ai và không ai giống. Nhà văn cần có giọng văn riêng, như ca sĩ cần có chất giọng riêng, mới mong tạo được sự chú ý của độc giả. Không có giọng văn riêng thì khó làm nhà văn, hoặc chỉ làm nhà văn bình bình. Giọng văn riêng tạo nên phong cách riêng của một nhà văn, phân biệt nhà văn này với nhà văn kia, và là chữ ký riêng của tác giả. Từ Nguyễn Công Hoan, Thạch Lam, Nam Cao, Bình Nguyên Lộc, Võ Hồng đến Dương Nghiễm Mậu, Cung Tích Biền, Trần Thị NgH, Nguyễn Huy Thiệp… không có giọng văn nào giống giọng văn nào.

Giọng văn thể hiện qua lối viết, gọi văn vẻ là bút pháp. Giọng văn riêng, bút pháp riêng chưa đủ để có một truyện ngắn hay, nếu nội dung chẳng có chi mới lạ. Đề tài có thể không mới nhưng nội dung (không hẳn cốt truyện) thì dứt khoát phải mới, dàn trải bằng những cảm xúc mới, ý tưởng mới. Một truyện lôi cuốn nên có ít nhiều chất “trinh thám” (kể cả truyện tình) với những tình tiết gay cấn gây bất ngờ khiến độc giả phải tò mò, tọc mạch dán mắt theo dõi và khó mà đoán biết diễn biến câu chuyện, chứ không phải truyện đọc đoạn đầu biết đoạn tiếp theo nói gì. Truyện ngắn Free Radicals của Alice Munro là một truyện như thế.

Người ta luôn đón chờ những cái “mới” mà truyện ngắn mang lại. Ngoài những yếu tố trên cho các nhà văn muốn tìm một chỗ đứng tốt trên văn đàn, sự sinh tồn của truyện ngắn còn tùy thuộc vào việc truyện có bắt kịp thời đại. Nhiều truyện ngày trước đọc thấy hay, bây giờ đọc lại kém hay hoặc không còn thấy hay nữa vì không mang tính thời đại.

(3) Có cần nên có ranh giới giữa truyện ngắn và truyện dài? “Ngắn” và “dài” nên là bao nhiêu trang? Một truyện ngắn có thể mô tả một thời gian dài tương đương như truyện dài (10, 20, 50 năm), hay phải ngắn hơn? Nên chú ý việc Alice Munro đã “phá giới” về yếu tố thời gian, không gian, và quan điểm cá nhân của các nhân vật. Trong các truyện “Axis,” The Bear Comes Over the Mountain,” và “Runaway,” Alice Munro cho độc giả trải nghiệm một quãng thời gian dài trong đời sống của các nhân vật chính. Bà không áp dụng một quan điểm (point of view) nhất định trong cách kể truyện, mà di chuyển từ cái nhìn của từng nhân vật, bất kể đàn ông hay đàn bà, làm ta nghĩ đến phim Rashomon của Kurosawa. Trong bối cảnh văn học Việt Nam, đã có nhà văn nào “phá giới” giữa quy luật truyện ngắn và truyện dài chưa? Tại sao chúng ta chưa chịu phá giới thường xuyên hơn?

– Trả lời: Ranh giới giữa truyện ngắn và truyện dài thì vẫn cần phải có thôi, ít ra cũng để nhà văn biết mình đang ở cái sân chơi nào. Nếu đôi lúc có lơ đãng chạy lấn sân hoặc “change lane” qua phía bên kia thì rồi cũng quay về sân chơi chính của mình. Ranh giới ấy không ở việc đếm số trang mà ở cấu trúc của truyện và cách nhà văn thể hiện trên những trang viết, từ các diễn tiến, tình tiết, chiều sâu cảm xúc của nhân vật truyện, cho đến chiều dài thời gian và chiều rộng không gian truyện.

Bằng việc “phá giới,” bà Munro đã vượt ra khỏi ranh giới cố hữu và những hàng rào quy ước của truyện ngắn để sáng tạo nên một thể loại văn chương không ra truyện ngắn cũng không ra tiểu thuyết, hoặc ở giữa truyện ngắn và tiểu thuyết, với một thủ pháp thần kỳ trộn lẫn hiện tại và quá khứ, không gian và thời gian. Nhiều nhà phê bình văn học khá đau đầu tự hỏi bà Munro thực sự đang viết cái gì đấy, và loay hoay tìm một tên gọi thích hợp: “truyện ngắn dài,” “tiểu thuyết ngắn,” “tiểu thuyết thu nhỏ,” “tiểu thuyết trong truyện ngắn,” “truyện ngắn trong truyện ngắn,” “một xâu chuỗi truyện ngắn,” “truyện ngắn chồng lên truyện ngắn.”.. Không dễ gì đặt tên cho những truyện ngắn bất thường (“unusual short story,” cách gọi của bà) ấy.

Nói gì thì nói, tên gì thì tên, kể từ sau Akice Munro, truyện ngắn không còn như trước nữa.

Không chỉ “phá giới” trong cách viết truyện, bà Munro còn “phá giới” cả trong cách đọc truyện của bà, “I don’t always, or even usually, read stories from beginning to end. I start anywhere and proceed in either direction.” Không rõ bà có muốn độc giả đọc truyện của bà theo cách ấy?

Tôi không rõ đã có nhà văn Việt Nam nào “phá giới” theo kiểu bà Munro, nhưng về toan tính “phá giới” thì tôi biết có một người. Nhà văn Thảo Trường từng bộc lộ, “Tôi có tham vọng nhét cả cuộc chiến tranh Việt Nam vào trong một truyện ngắn.” Được quá đi chứ, một khi bà Munro có thể nhét cả pho tiểu thuyết vào trong những truyện ngắn có sức chứa rất lớn của bà thì ông cũng có thể nhét gọn cuộc chiến ấy vào trong truyện ngắn của ông. Một truyện ngắn như thế còn “dài” hơn cả truyện dài. Tôi tin rằng thực hiện được kỳ công ấy, truyện ngắn phá giới của ông, với những yếu tố hấp dẫn người đọc, không chừng ăn đứt truyện của bà Munro. Chỉ tiếc rằng nhà văn đã bỏ cuộc chơi trước khi kịp “phá giới.”

Những nhà văn, nhà thơ Việt Nam sau này, vốn nhạy bén và giàu tính sáng tạo, đã theo đuổi những lối cách tân độc đáo trong thi phú và trong thể loại truyện ngắn, tuy nhiên những phá cách (và “phá phách”) này vẫn còn là những dọ dẫm, thử nghiệm chứ chưa định hình định dạng. Tin tưởng rằng truyện ngắn Việt Nam sắp tới đây hứa hẹn những cú đột phá ngoạn mục.

(4) & (5) Trong một cuộc phỏng vấn với tạp chí The Paris Review, Alice Munro nói rằng “[Hồi còn trẻ] tôi đã mê đọc Eudora Welty, Flannery O’Connor, Katherine Ann Porter, Carson McCullers. Tôi nghĩ nhà văn đàn bà có khả năng viết về những điều quái dị, hoặc những chuyện bên lề …. Còn tiểu thuyết vĩ đại trong giòng chính về hiện thực là giang sơn của đàn ông.” (“I loved Eudora Welty, Flannery O’Connor, Katherine Ann Porter, Carson McCullers. There was a feeling that women could write about the freakish, the marginal…. [But] the mainstream …. big novel about real life was men’s territory,” http://www.theparisreview.org/interviews/1791/the-art-of-fiction-no-137-alice-munro.) Hiện tượng “nhà văn đàn bà viết về những điều quái dị hoặc chuyện bên lề” và đàn ông “viết về những đề tài vĩ đại” có phản ảnh bối cảnh văn học Việt Nam của ngày hôm nay hay không? Hay hiện tượng này đã được đảo ngược, với một số nhà văn đàn ông Việt viết theo thể magic realism như một cách theo mốt, nhằm tránh bị kiểm duyệt, hoặc do nỗi “cô đơn” trong một thực tại nghiệt ngã của những biến cố xã hội và lịch sử mà Gabriel García Marquez đã đề cập trong diễn văn nhận giải văn chương Nobel năm 1982 của ông?
Liên hệ với câu hỏi (4) ở trên. Những điều “quái dị hoặc bên lề” ở vùng Ontario của Alice Munro có còn “quái dị” khi áp dụng vào bối cảnh văn chương Việt Nam hay không? Tại sao một số độc giả Việt Nam nghĩ rằng truyện của Alice Munro có phần “ảm đạm”? Định nghĩa “ảm đạm.” Hiện nay, ai là những nhà văn “ảm đạm” của Việt Nam?

– Trả lời: Tôi không rõ những đề tài nào được kể là “vĩ đại.” Nhiều cây bút phụ nữ Việt từng viết về đề tài chiến tranh, và viết rất hay nữa. Về phía nhà văn đàn ông Việt viết những truyện quái dị thì tôi biết có một người là Cung Tích Biền. Nhiều truyện ngắn của ông giống như là chuyện “liêu trai chí dị tân thời,” được viết ra trong bối cảnh một đất nước có lắm chuyện kỳ quái. Tôi không nghĩ những truyện kiểu này là sở trường của các nhà văn nữ Việt Nam. Nhà văn Nguyễn Ngọc Ngạn vẫn viết truyện ma đều đều cho các bà đọc đấy thôi.

Nếu “chuyện bên lề” được hiểu là những chuyện tầm phào, chuyện cà kê dê ngỗng, chuyện trong nhà ngoài phố, chuyện vụn vặt của đời sống thì nhà văn nữ Việt Nam đâu có “độc quyền” sản phẩm này. Không ít nhà văn nam giới đã và vẫn đang hăng hái sản xuất những chuyện phiếm linh tinh lang tang để mua vui cho độc giả.

Tôi không rõ nhận xét truyện của bà Munro “ảm đạm” của một số độc giả người Việt được hiểu theo nghĩa nào: truyện thiếu sinh khí, thiếu sức lôi cuốn, cách nhìn bi quan về cuộc sống, hoặc câu chuyện tẻ nhạt, không có hậu, không có “chút ánh sáng le lói cuối đường hầm”… Các nhà phê bình vẫn nói là truyện của bà Munro cần phải đọc ít ra hai lần mới thấy hay, chỉ e rằng độc giả người Việt ít chịu khó đọc lại một lần nữa cái truyện đọc lần đầu thấy “ảm đạm.” Một vài nhà văn Việt Nam như Dương Nghiễm Mậu, Cung Tích Biền từng có những truyện ngắn “trên cả ảm đạm,” viết ra trong bầu không khí ngột ngạt, bất an thường trực của chiến tranh hay trong bối cảnh một đất nước tang thương.

(6) Yếu tố địa lý – vùng Ontario ở miền Trung của Canada – là bối cảnh chính trong nhiều truyện ngắn của Alice Munro. Yếu tố không gian/địa lý có quan trọng trong truyện ngắn Việt Nam hay không? Tại sao (không hay có)?
– Trả lời: Không gian/địa lý cần cho truyện dài nhiều hơn là truyện ngắn. Tùy vào nội dung mà truyện ngắn cần hay không cần đến yếu tố này. Truyện nào có cốt truyện thì thường có bối cảnh, chẳng hạn truyện tình thơ mộng ở thành phố sương mù Đà-lạt. Ngày nay người ta ít viết kiểu “Chuyện xảy ra ở một…” Truyện ngắn kiểu “Ở một nơi ai cũng quen nhau” có thể cần hoặc chẳng cần đến không gian truyện, người đọc muốn hiểu nơi ấy là nơi nào cũng được. Nhiều truyện ngắn bây giờ chẳng có cốt truyện, cũng chẳng có cả thời gian và không gian truyện.

Bà Munro được mệnh danh là “Writer-in-Residence.” Bà chẳng buồn đi đâu xa, cứ “gà què ăn quẩn cối xay” ở một thị trấn nhỏ vùng nông thôn Ontario, chỉ ngồi một chỗ mà viết đủ thứ “chuyện thường ngày ở huyện,” và viết cả đời không hết chuyện. Có thể bà cảm thấy thoải mái khi ngồi viết ở cái không gian/địa lý quen thuộc ấy. Nhưng không phải là ai cũng giống như bà và có được tay nghề cao như bà. Nhà văn Việt Nam thường không thích ngồi bó gối một chỗ để viết, trừ khi bị bắt buộc. Một khung cảnh mới dễ tạo nguồn cảm hứng mới cho những sáng tác mới.

(7) Trong cuộc phỏng vấn với Paris Review, Alice Munro cũng thố lộ bà đã bị băn khoăn/phiền não khi đọc D.H. Lawrence lần đầu tiên trong đời. Bà thường bị xáo động bởi cách các nhà văn đàn ông định nghĩa khái niệm tình dục của phụ nữ. (“I was terribly disturbed when I first read D. H. Lawrence. I was often disturbed by writers’ views of female sexuality.”). Bà tự chất vấn “làm sao tôi có thể thành một người viết khi tôi là đối tượng [tình dục] của các nhà văn khác” (“[H]ow I can be a writer when I’m the object of other writers?”). Ta nghĩ sao về những băn khoăn của Alice Munro nếu đối chiếu với đề tài tình dục trong văn học Việt Nam ở hải ngoại và trong nước? Nhà văn nữ viết truyện ngắn về đời sống phụ nữ Việt ở trong và ngoài nước hiện có còn bị coi là “đối tượng” của các cây bút đàn ông khác? Tại sao?

– Trả lời: Nỗi “bức xúc” của bà Munro về cách nhìn của nhà văn đàn ông đối với các nhà văn nữ (đối tượng tình dục dưới mắt họ) được bà trút vào trong truyện ngắn Wenlock Edge, như một nỗi ám ảnh. Truyện có đoạn một cô sinh viên được mời đến dùng bữa cơm tối tại nhà một người đàn ông luống tuổi, giàu có, là người tình của bạn mình. Cô được yêu cầu khỏa thân toàn phần trong suốt bữa ăn (trong lúc chủ nhà mặc quần áo chỉnh tề) cũng như trong suốt buổi trò chuyện về triết học và thơ A. E. Housman nơi phòng đọc sách của ông ta. “May I ask you please, not to cross your legs?” ông đề nghị trong lúc hai người ngồi đối diện nhau. Xong xuôi, chủ nhà… tiễn cô ra cửa. Sau này cô sinh viên thú nhận rằng cô không quên được câu chuyện ấy và nỗi hổ thẹn cứ đeo bám cô dai dẳng khi cô biết rằng mình đã từng là đối tượng tình dục của người đàn ông kia, và ông ta đã chiếm được cô theo cách của ông.

Là “đối tượng” thì cũng tốt chứ đâu có sao, lại còn là cơ hội và nguồn hứng khởi cho các nhà văn nữ hăng hái thể hiện tài viết văn của mình vì biết rằng truyện viết ra được nhiều độc giả (đàn ông) “chiếu cố.” Bà Munro làm bộ nói thế thôi, hoặc chỉ là tưởng tượng (của nhà văn giỏi viết truyện hư cấu). Nỗi “bức xúc” ấy, nếu có, không hề ngăn trở bà trong công việc viết văn, ngược lại, bà còn viết khỏe hơn ai hết (14 tuyển tập truyện ngắn); và hơn thế nữa, còn đoạt cả giải Nobel văn học, đánh bại các ứng viên nhà văn đàn ông sáng giá dám xem bà là… “đối tượng.”

Bà thừa sức đối đầu với những tay thuộc dạng này, như có lần một nhà văn đàn ông cho lời bình phẩm khiếm nhã rằng bà Munro viết truyện thì có hay nhưng ông ta không muốn ngủ với bà, và bà trả đòn cũng rất chanh chua, “Có ai mời ông ta đâu.” (A male writer told her she wrote good stories, but he wouldn’t want to sleep with her. "Nobody invited him," said Munro tartly.).

Làm gì có chuyện nhà văn nữ viết về đời sống phụ nữ Việt là “đối tượng tình dục” của các cây bút đàn ông. Nếu có thì “đối tượng” đàn ông này cũng hơi bất thường, hoặc chỉ có khi nào nhà văn nữ viết về tình dục. Các nhà văn nữ ở miền Nam ngày trước được kể là viết bạo về tình dục thực sự chẳng thấm vào đâu so với nhiều cây bút nữ khá “ngầu” ở hải ngoại và cả trong nước hiện nay. Trong số ấy, có những tác giả phóng bút quá đà như một kiểu “show hàng tự sướng” (nói như trong nước) hoặc khiêu khích đến độ người ta tự hỏi (hơi khác với bà Munro) liệu độc giả đàn ông có phải là đối tượng tình dục dưới mắt những cây bút nữ này?

Nhà văn nữ viết truyện có lợi thế là tạo được sự chú ý hơn nhà văn phái nam, và càng được chú ý khi viết về đề tài tình dục. Biết rõ điều này, ít cây bút nữ không bỏ qua cơ hội khai thác tâm lý ấy. Các nhà văn (và độc giả) đàn ông tìm đọc những truyện ấy vì tò mò để xem thử tác giả viết như thế nào và bạo tới cỡ nào; tuy nhiên, sau hết và trên hết, tôi tin rằng cái mà họ muốn tìm vẫn là một truyện ngắn hay.

Lê Hữu

bài đã đăng của Lê Hữu


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)
porn ficken russian porn japanese porn watch porn watch sex izle sex izle anal porn tube amateur porn watch