Trang chính » Alice Munro và Thể Loại Truyện Ngắn, Chuyên Đề, Dịch Thuật, Sáng Tác, Sang Việt ngữ, Truyện ngắn Email bài này

TRỤC


♦ Chuyển ngữ:
3 bình luận ♦ 9.04.2014

(Từ nguyên tác “Axis” trên “The New Yorker,” 31/01/2011)

 

Năm mươi năm trước, một ngày trời lạnh căm, Grace và Avie đứng chờ xe bus trước cổng trường đại học. Sớm muộn gì xe cũng sẽ đến, đưa hai cô lên phía bắc, băng qua miền quê thưa vắng tối tăm về nhà. Avie phải đi hết bốn mươi dặm, còn Grace chắc phải gấp đôi chỗ đó. Cả hai đang ôm những quyển sách dày cộm với tựa đề nghiêm túc như “Thế Giới Thời Trung Cổ,” “Montcalm và Wolfe,” “Những Quan Hệ Dòng Tên.”

Điều này đa phần để xác định họ là những sinh viên nghiêm chỉnh, và họ quả là thế. Nhưng một khi đã về tới nhà rồi thì có lẽ họ chẳng có thì giờ cho mấy thứ đó. Cả hai đều là con nhà nông, biết chà sàn nhà và vắt sữa bò. Sức lao động của họ, ngay khi bước chân vào nhà-hay đúng hơn là vào chuồng gia súc- thuộc về gia đình họ.

Họ không phải là loại thiếu nữ thường thấy ở trường đại học này. Có một trường Kinh Doanh rất lớn, với gần như toàn bộ sinh viên là con trai, và một vài hội nữ sinh viên với những hội viên theo học Khoa học Thư ký và Mỹ thuật Đại cương, và đến trường để gặp mấy cậu trai ấy. Grace và Avie không được mấy hội đó mời-chỉ cần nhìn áo khoác mùa đông của họ cũng đủ biết tại sao-nhưng hai cô tin rằng người nào không săn tìm mấy cô hội viên ấy thì thường là người có đầu óc, và dù sao hai cô vẫn thích người có đầu óc hơn.

Cả hai cô đều đang theo học ngành sử, đều được học bổng để có thể theo đuổi việc học. Các cô sẽ làm gì sau khi học xong? người ta hỏi, và họ phải nói có lẽ họ sẽ đi dạy trung học. Rồi các cô thừa nhận là mình ghét đi dạy.

Họ hiểu-ai cũng hiểu-rằng có việc làm sau khi tốt nghiệp là một sự thất bại. Cũng giống như các cô trong hội nữ sinh viên, hai cô vào đây học là để kiếm một tấm chồng. Trước hết là bạn trai, rồi sau là chồng. Những điều như vậy chả bao giờ được nói ra, nhưng đó là sự thật. Ai cũng nghĩ nữ sinh viên có học bổng thường không có nhiều cơ hội, bởi vì đầu óc và sắc vóc thường được cho là không thể đi cùng nhau. May mắn là, cả Grace lẫn Avie đều trông rất ưa nhìn. Grace thì trắng trẻo và nghiêm trang, còn Avie tóc đỏ, ít khêu gợi hơn, sống động và thách thức. Cánh đàn ông của cả hai gia đình đã từng nói đùa là ắt hẳn hai cô phải túm được một anh chàng nào đó.

Lúc xe bus tới thì cả hai cô đều đã lạnh cóng. Họ tìm chỗ ngồi ở phía sau để có thể hút được điếu thuốc có lẽ là cuối cùng của tuần này. Bố mẹ các cô sẽ không nghi ngờ gì nếu nghe được mùi thuốc lá trên người các cô. Thời ấy ở đâu cũng nghe mùi thuốc lá.

Avie chờ cho tới khi họ cảm thấy thoải mái rồi mới kể cho Grace nghe về giấc mơ của cô.

“Bồ không được nói cho ai nghe hết nha,” cô nói.

Trong mơ, cô thấy mình kết hôn với Hugo, người cứ quẩn quanh cô như thể là anh ta muốn cưới cô, và cô có con-nó khóc tối ngày sáng đêm. Thực ra là nó kêu rống, cho tới khi cô nghĩ là mình sắp phát điên. Sau cùng cô bồng đứa bé lên-một bé gái, chắc chắn là gái-và đem nó xuống một căn phòng tối ở dưới tầng hầm rồi nhốt nó trong đó, nơi mà những vách tường dày đảm bảo sẽ ngăn hết tiếng nó. Rồi cô bỏ đi và quên bẵng luôn đứa bé. Và rồi cô lại có một bé gái khác, bé này thật là dễ chịu và dễ thương, và cứ lớn lên mà chẳng có vấn đề gì.

Rồi một ngày kia đứa bé gái đã lớn lên nói với mẹ nó về nhỏ chị trong tầng hầm. Hóa ra là bấy lâu nay nó đã biết con chị của nó-đứa nhỏ tội nghiệp bất thường và bị bỏ rơi đã kể hết mọi thứ cho nó biết-và bây giờ chuyện đã thành không thể cứu vãn. “Không cứu vãn được nữa,” đứa bé gái đáng yêu, tốt bụng, nói. Đứa con bị bỏ rơi không biết cuộc sống nào khác ngoài cảnh sống bấy lâu, và dù sao thì nó cũng không còn khóc nữa; nó đã quen rồi.

“Một giấc mơ kinh khủng,” Grace nói. “Bồ ghét con nít lắm hả?”

“Không đến mức vô lý,” Avie nói.

“Freud sẽ nói sao nhỉ? Nhưng thôi quên ổng đi, Hugo sẽ nói gì đây ta? Bồ có kể anh ta nghe chưa?”

“Lạy Chúa lòng lành, mình không kể đâu”.

“Có thể cũng không tới nỗi tệ như vậy đâu. Có lẽ chỉ là bồ lại lo lắng về việc có bầu”.

Thực ra chính Avie là người đã thuyết phục Hugo là họ nên ngủ với nhau, hay có quan hệ tình dục, như lúc sau này người ta hay nói. Cô nghĩ như vậy sẽ khiến anh có vẻ đàn ông hơn, tự tin hơn. Anh đẹp trai, nhiệt tình, với món tóc sậm màu lòa xòa trước trán, và anh có khuynh hướng chọn những người mà anh có thể tôn thờ. Một giáo sư, một sinh viên giỏi, lớn tuổi hơn, một cô gái. Avie. Nếu họ ngủ với nhau, cô nghĩ, có thể cô sẽ yêu anh. Nói cho cùng, cả anh và cô đều chưa có kinh nghiệm này với ai khác. Nhưng tình dục phần lớn chỉ dẫn đến lo sợ về những tai nạn nhất định, lo lắng về những kỳ kinh nguyệt trễ tràng, và cái khả năng kinh khủng là cô có thể dính bầu.

Sự thật là cô thích bạn trai của Grace hơn- cậu Royce-một cựu binh thời Thế chiến thứ Hai. Không như Avie, Grace đang yêu. Cô tin rằng trinh tiết của cô và sự cự tuyệt không cho Royce hủy hoại nó- một điều anh không quen làm- là một cách giữ lòng anh. Nhưng thỉnh thoảng những lúc anh muốn bỏ cô, và để anh quên đi những tâm trạng xấu ấy, cô đã học cách khiến anh xao nhãng bằng cách kể những chuyện đồn đãi hoặc nói tếu lâm về những người như Hugo, người Royce khá xem thường. Trên thực tế Grace đã quen bịa chuyện về Hugo-những chuyện không có tí sự thật nào. Xỏ hai chân vô cùng một ống quần sau một chuyến mây mưa vội vã-những chuyện phi lý đại loại như vậy. Cô mong Avie sẽ đừng bao giờ biết.

 

Vào đầu hè, Royce nhảy lên xe bus đi thăm Grace ở nông trại của bố mẹ cô. Chiếc xe đi ngang qua thị trấn nơi Avie ở, và tình cờ qua cửa sổ anh trông thấy Avie đang đứng bên vệ đường, nói chuyện với một người nào đó. Cô rất linh hoạt, hất tóc ra sau mỗi khi gió tạt vào mặt cô. Anh nhớ cô đã bỏ học ngay trước kì thi. Hugo đã tốt nghiệp và xin được chân dạy học ở một trường trung học ở phía bắc, cô sẽ theo Hugo đến đó và lấy anh ta.

Grace kể với Royce là Avie đã bị hoảng sợ, và nỗi sợ đã khiến cô quyết định như vậy. Nhưng hóa ra là mọi thứ đều ổn-cô không có thai- nhưng cô đã quyết định là dù sao cô vẫn cứ lấy chồng cho rồi.

Trông Avie không có vẻ gì là loại người có thể bị kẹt vì sợ. Trông cô vô tư, và rất mực vui vẻ-xinh đẹp hơn, sinh động hơn so với những gì anh nhớ.

Anh chợt muốn nhảy xuống khỏi xe bus và không bao giờ trở lên lại. Nhưng dĩ nhiên là điều đó sẽ khiến anh gặp nhiều rắc rối hơn anh tưởng. Dù sao thì giờ đây Avie cũng đang tung tăng ngang đường, ngay trước đầu xe, rồi mất hút vào một cửa tiệm.

 

nhà Grace, mọi người đã chờ anh đến ăn tối nửa tiếng đồng hồ rồi, mà lúc đó cũng chỉ mới năm giờ rưỡi. “Tôi e rằng ở đây thì mấy con bò là sếp,” mẹ của Grace nói. “Tôi chắc cậu không biết gì về đời sống ở nông trại”.

Nhờ trời, trông bà chẳng giống Grace tí nào, hay là trông Grace chả giống bà tẹo teo. Gầy gò, tóc bạc cắt ngắn, bà cứ vội vội vàng vàng, chừng như chẳng có được lúc nào để mà duỗi thẳng người ra.

Trước kia bà là cô giáo, và bà quả trông giống cô giáo. Một cô giáo dòm chừng mọi điều lỗi cô chưa bắt gặp học trò làm. Ông bố dường như nôn nóng muốn ra với mấy con bò. Con trai lớn cười mỉa. Cô con gái bé cũng vậy, kẻ được cho là thiên tài dương cầm. Grace ngồi lặng câm, và xấu hổ, nhưng đáng yêu, mặt đỏ bừng vì nấu bếp.

Những dự tính của anh là gì, bà mẹ muốn biết, anh dự tính gì khi giờ đây anh đã tốt nghiệp? (Chắc Grace đã nói dối họ như thế; chắc cô đã dấu sự thực là anh đã bỏ ra khỏi phòng thi lúc thi môn cuối cùng vì mấy câu hỏi ngớ ngẩn. Chẳng lẽ cô nghĩ đó chỉ là làm bộ anh hùng sao?)

Anh nói hiện nay anh đang chạy taxi. Không dính dáng gì đến mảnh bằng triết học. “Trừ phi cháu quyết định làm thầy tu.”

“Anh là Công giáo à?” ông bố nói, giật nảy mình đến độ suýt mắc nghẹn đồ ăn.

“Ồ, có cần phải là Công giáo không nhỉ?”

Grace nói, “Chỉ là nói đùa thôi.” Nhưng giọng cô chẳng còn tí đùa vui nào.

“Triết học,” bà mẹ nói, “Tôi không biết là cậu có thể chỉ học có mỗi thứ đó suốt bốn năm trời”.

“Dạ, tại chậm hiểu,” Royce nói.

“Giờ đến lượt cậu nói giỡn nhỉ.”

 

Anh và Grace cùng im lặng rửa chén, xong đi dạo. Khuôn mặt cô vẫn còn ứng hồng do mắc cỡ hay do bếp nóng, và bản tính ưa chòng ghẹo của cô chừng như đã nguội lạnh.

“Có xe bus chạy muộn không?”, anh hỏi.

“Chỉ là do họ căng thẳng thôi,” cô nói. “Ngày mai sẽ đỡ hơn”.

Anh nhìn lên những cây lá lòe xòe, hơi có vẻ Đông phương, và hỏi cô có biết tên chúng không.

“Hoàng điệp. Cây hoàng điệp. Em thích thứ cây này nhất”.

Cây ưa thích. Rồi đến gì nữa? Hoa ưa thích? Sao ưa thích? Cối xay lúa ưa thích? Liệu cô có cột hàng rào ưa thích không nhỉ? Đã định hỏi, song anh nghĩ nó sẽ làm cô phật lòng.

Thay vì vậy, anh hỏi ngày mai họ sẽ làm gì. Có thể là một chuyến cắm trại trong rừng, anh hy vọng vậy. Một nơi nào đó mà anh có thể ở riêng với cô.

Cô nói rằng ngày mai họ sẽ làm mứt dâu cả ngày.

“Ở đây chả có lựa chọn đâu,” cô nói. “Cái gì sẵn sàng thì phải làm. Phải theo mùa”.

Anh đã liệu phải phụ việc nông trại. Anh làm mọi người ngạc nhiên vì thành thạo máy móc, và anh thực sự muốn biết người ta kiếm sống như thế nào, mặc dù anh lảng tránh sự quyết tâm kiếu ấy cho chính mình.

Thực tế là anh nhận ra, người cha có lẽ đã quá già, và thằng anh rốt lại sẽ là loại ngớ ngẩn (Grace đã nhắc đến anh ta với vẻ khinh thị) và rằng, chính anh-Royce-ngay bây giờ đây đang thoải mái, không ngu ngốc cũng chẳng chây lười, có thể rơi vào đời sống nông trại tẻ ngắt giữa cảnh đẹp của bầy gia súc đần độn và vườn cây ăn trái nở rộ, với cả ối thời gian mùa đông để mà vun bồi đầu óc mình. Nông trại nô lệ.

Nhưng anh có thể nhận ra rằng người cha và thằng anh không thích sự có mặt của anh. Không ngó ngàng đến anh. Và họ không nghĩ việc làm nông, ngay cả khi nó có hiệu quả, như một phương thuốc hồi phục tâm hồn. Anh sẽ mắc kẹt với mớ dâu tây. Trừ phi cô em gái-thiên tài dương cầm-nhờ anh lật giùm trang sách.

“Các con tôi đứa nào cũng có tài riêng,” người mẹ nói với anh khi họ đứng lên rời khỏi bàn ăn, và cô bé dương cầm thủ được miễn rửa chén. “Ruth thì có âm nhạc, Grace có lịch sử, còn Kenny, dĩ nhiên là người để làm nông.”

Ngoài ngõ, anh thử vòng tay ôm Grace, nhưng vòng ôm đó lúng túng vì họ va vấp trong những vết xe hẹp trên đường.

“Mình cứ như vầy hoài hả?” anh nói.

“Đừng lo,” cô đáp, “em đã có kế hoạch rồi.”

Anh không thể nghĩ được kế hoạch đó ra sao. Căn phòng nơi anh ngủ gần ngay nhà bếp. Cửa sổ bị kẹt cứng không kéo mở lên được quá một phần tư chiều cao-không đủ rộng để anh có thể lẻn ra.

“Ngày mai chúng ta sẽ làm mứt,” Grace nói. “Chắc Ruth sẽ tập đàn suốt ngày. Nó sẽ làm anh nổi khùng, nhưng đừng lo. Ngày mốt mẹ sẽ phải đưa nó vô thị trấn để thi. Đứa nhỏ nào thi xong cũng phải ngồi chờ cho tới đứa cuối cùng thi xong để được biết kết quả. Hiểu chưa?”

“Anh không nghĩ là mẹ em chịu để cho tụi mình được ở riêng với nhau,” Royce nói. “Hay đó không phải là kế hoạch anh đang nghĩ đến?”

“Nó đó,” Grace nói. “Em sẽ phải đi thăm nhỏ bạn Robina của em. Robina Shoemaker. Em sẽ phải đi bằng xe đạp, nên sẽ mất một ít thời gian. Nó ở phía bên kia xa lộ. Tụi em là bạn từ nhỏ, và nó đã bị liệt từ hai năm nay. Bị ngựa đạp lên chân.”

“Ôi Chúa lòng lành,” anh nói. “Thảm họa miền quê.”

“Quả thế,” cô nói, có vẻ không màng hòa theo giọng anh. “Vậy nên em sẽ vờ làm như đi thăm nó. Sau khi mẹ và Ruth đã đi rồi thì em sẽ đạp xe vòng trở lại, và chúng ta sẽ có cả ngôi nhà cho riêng mình”.

“Cuộc thi ấy dài lắm sao?”

“Em hứa với anh, nó dài lắm. Và rồi họ sẽ còn phải mang dâu tới nhà bà ngoại nữa, lúc nào cũng mất ít nhất cả tiếng đồng hồ. Anh hiểu chứ?”

“Anh hy vọng là vậy.”

“Ngày mai anh sẽ ngoan chứ? Đừng có quá mỉa mai mẹ nha.”

“Anh xin lỗi,” anh nói. “Anh hứa.”

Nhưng anh không khỏi phân vân. Tại sao lại là bây giờ, thay vì những lần trong mùa đông trước khi anh có thể dễ dàng đưa cô lên phòng và thu xếp để cho bạn anh đi ra ngoài? Hoặc hồi mùa xuân năm ngoái, lúc cô đã khiến anh phát cuồng lên trong những góc tối của công viên? Thế còn cái trinh tiết vẫn được ca tụng của cô?

“Em có nhiều miếng lót lắm,” cô nói. “Thường phải cần bao nhiêu miếng?”

Anh ngạc nhiên thấy mình phải nói là, anh không biết.

“Trinh nữ không phải món hảo của anh.”

Cô choàng tay ôm lấy vai mình và cười to, cái kiểu đã quen thuộc với anh.

“Anh không có ý tếu lâm đâu.” Thực sự là không.

Mẹ cô đang ngồi ở bậc thềm bên hông nhà, nhưng chắc chắn là bà đã không thể nghe thấy gì. Bà hỏi họ đi dạo có vui không, và nói rằng bản thân bà luôn mong đợi tới chiều tối để trời mát hơn.

“Ở đây chúng tôi may mắn- không bị giam trong hơi nóng như mấy người ở thành phố.”

 

Lúc anh thức giấc vào sáng hôm sau, anh nghĩ rằng mình sắp có một trong những ngày dài nhất trong đời, nhưng thực ra ngày nó trôi qua dễ dàng. Những bình dâu nằm trong giá được hạ xuống nước nóng sủi bọt. Dâu được khoét cuống và được đun cho tới khi sôi lên và có lớp bọt màu hồng gần như kẹo. Công việc được phân chia rất thân tình, cả ba người nhanh chóng nhận ra khi có người cần phụ nhấc một cái nồi lên, hay tiện tay vung cái rây giúp nhau. Căn bếp nóng chết người, và Royce là người đầu tiên, rồi đến Grace, và mẹ của cô, phải đưa mặt vào dưới vòi nước lạnh rồi đứng thẳng lên với khuôn mặt ròng ròng nước.

“Tại sao trước đây mẹ không hề nghĩ tới làm như vầy nhỉ?” mẹ cô nói, đứng đó với những món tóc ướt bết trên trán. “Chỉ có đàn ông mới nghĩ ra được những điều thông minh như thế, phải không hả Grace?”

Đàn dương cầm chơi suốt cả ngày, dưới đôi tay của con bé con sắp phải thi, nhắc mỗi người, theo cách riêng của họ, về những thử thách và hứa hẹn của một ngày sắp tới.

Vào cuối buổi chiều thì Royce được trao cho chìa khóa xe và lái 5 dặm tới cửa hàng gần nhất, mua thịt nguội xắt lát và cà-rem, cùng salad khoai tây làm sẵn để về ăn tối. Xem ra salad khoai không làm tại nhà là thứ mà gia đình đó chưa từng biết đến.

Mứt dâu ấm được rưới lên trên cà-rem.

Bà mẹ trong chiếc áo lốm đốm ướt nước có vẻ như khá ngây ngất với công việc và thành quả ngày hôm ấy.

“Royce đây là loại làm hư phụ nữ ,” bà nói. “Ai có cậu kế bên thì việc xong trong nháy mắt, rồi còn được thưởng thức cà-rem nữa chứ. Chúng ta phát hư mất.”

Thằng con trai nói Grace đã hư sẵn rồi- con nhỏ cứ nghĩ  là mình thông minh lắm vì nó đã dzô đại học.

“Đã vào đại học,” bà mẹ bảo.

Grace dọa sẽ đổ một muỗng đầy salad khoai xuống áo nó. Hắn chụp muỗng và bốc khoai ăn.

“Tởm,” Grace nói.

Bà mẹ la các con, “Giữ tác phong lịch sự xem nào!”

 

Ngày hôm sau, người bố và thằng con trai đi tuốt lúa mạch mọc sớm ở cánh đồng của họ phía bên kia xa lộ. Họ mang theo bữa trưa và nhờ người đàn bà thuê đất cho nước uống. Grace đã đoán trước được tất cả những điều này.

Ruth bị bắt đứng im để mẹ thắt bím và cài những dải lụa lên tóc cho mặt cô bớt tối. Cô bé nói cô không thể ăn gì nổi cả. Bà mẹ nói, “Tại con căng thẳng,” rồi gói mấy miếng bánh quy lạt trong giấy sáp đem theo. Vài phút trước khi chiếc xe lăn bánh, Grace đã phóc lên xe đạp và vẫy tay chào mọi người. Bà mẹ nói bà gửi lời thăm hỏi đến cô gái tật nguyền. Một hũ mứt mới làm đã được bọc cẩn thận trong giỏ xe đạp để làm quà cho cô.

Royce được bảo là, anh đáng được một ngày nghỉ ngơi sau ngày làm việc hôm qua. Thế nhưng căn nhà gạch cao, trông bên ngoài rất ấn tượng, lại chẳng có gì là dễ thương hay dễ chịu ở bên trong. Bàn ghế tủ được nhét đại đây đó, như thể không ai có thì giờ để ý sắp xếp chúng. Cửa trước bị chắn một phần bởi cái đàn dương cầm của Ruth. Ít nhất trong phòng khách có vài quyển sách để đọc. Anh lấy cuốn “Don Quixote” từ trên cái kệ có cửa kính chứa những cuốn sách kinh điển, miệng hét to với Ruth “Hạ hết bọn chúng nghe!” nhưng cô bé không trả lời. Tai anh dõi theo tiếng xe chạy xuống đường, rồi nghe thấy nó quẹo về phía xa lộ. Anh đọc vài chữ, để căn nhà tự ý chuyển sang phe anh. Những họa tiết của tấm vải phủ bàn ăn xem chừng cũng đồng lõa, những trang giấy cũng tươi mới như mấy lọn tóc của Ruth, cái máy phát thanh đã tắt, mọi thứ đang chờ đợi. Anh thủng thẳng đi về phía căn phòng cạnh nhà bếp, anh cảm thấy nên dọn giường và treo vài món quần áo của anh lên. Anh kéo tấm rèm che xuống tận gờ cửa sổ, cởi bỏ hết mọi thứ trên người và chui vào trong tấm chăn ghép.

Anh đã mang theo trang bị đồ nghề, cho dù biết cơ hội của anh rất mỏng manh. Giờ thì anh không hề thiếu sẵn sàng. Sự tĩnh mịch cũng có cảm giác trọng đại. Cô ấy nghĩ phải cần đi bao xa trước khi quay về nhỉ?

Chiếc đồng hồ trong bếp gõ một tiếng, là lúc mà Ruth phải có mặt ở chỗ người dạy nhạc. Vậy là chắc cú rồi, chắc cú.

Anh nghe tiếng xe đạp chạy trên sỏi. Nhưng cửa nhà bếp không mở ra nhanh như anh nghĩ. Thế rồi anh hiểu ra là cô đang đẩy chiếc xe đạp ra phía sau nhà để giấu

Cô bé ngoan.

Tiếng chân cô bước vào nhà, rất nhẹ, như thể cô không muốn đánh thức bất cứ ai đang ngủ trong nhà. Rồi cánh cửa thẹn thùng mở hé, cái cửa mà anh đã để ý thấy là không hề có chốt khóa. Anh vẫn nằm yên bất động, mắt mở he hé. Anh cho cô thời gian. Anh nghĩ là cô có thể nhảy vào giường với nguyên quần áo trên người, nhưng không. Cô đang đứng trước mặt anh, cởi bỏ mọi thứ, đầu cúi gằm, môi mím chặt, rồi đưa lưỡi liếm môi. Rất nghiêm trang.

Thật đáng yêu.

 

Họ đã tiến đủ xa nên không nghe thấy tiếng xe. Lúc đầu anh rất cố yên lặng, không phải vì anh sợ có gì nguy hiểm, nhưng chỉ vì anh muốn rất gượng nhẹ với cô. Tuy thế, cái ý này sắp bị từ bỏ. Cô có vẻ không cần tới kiểu chăm sóc như vậy. Hai người ồn ĩ đủ để họ không nghe thấy bất cứ gì bên ngoài.

Dù sao thì họ cũng chẳng nghe được tiếng xe-nó dừng cách một quãng xa trên lối vào. Tiếng chân chắc cũng khẽ khàng, và cánh cửa nhà bếp cũng được cẩn trọng mở ra.

Nếu họ thậm chí nghe thấy tiếng cửa bếp thì có lẽ họ đã có được đôi chút thời gian để chuẩn bị. Nhưng đằng này cánh cửa phòng đã mở toang mà họ vẫn chưa kịp hiểu chuyện gì đã xảy ra. Thực tế là, phải mất cả phút họ mới ngưng được, và nhận ra khuôn mặt bà mẹ với cái miệng đang há hốc, không rõ vì sao rất to, ngay ở cuối giường.

Bà mẹ không nói nên lời. Bà run lẩy bẩy. Bà nói lắp bắp. Bà phải giữ chặt thành giường để đứng cho vững.

“Không thể,” một lúc sau bà mới nói được, “Không thể, không thể. Tin nổi.”

“Ôi thôi im đi,” Royce nói.

“Cậu có-Cậu có- Cậu có mẹ không vậy?”

“Không phải chuyện của bà,” Royce đáp. Anh đẩy Grace sang bên mà không nhìn cô, với lấy cái quần để trên sàn nhà, và mặc quần vào bên dưới tấm chăn ghép trước khi ra khỏi giường. Chuyển động của anh đạp Grace xa ra. Anh buộc phải làm thế, cũng không nhận ra mình đã làm thế. Cô trùm kín đầu bằng tấm khăn phủ giường, nhưng cặp mông trần không hiểu sao lại bị lộ ra.

“Cậu đã làm gì vậy hả?” bà mẹ nói. “Chúng tôi mời cậu đến với gia đình chúng tôi. Chúng tôi tiếp đón cậu nồng hậu. Con gái của chúng tôi-“

“Con gái bà tự quyết định đấy.”

“Mày có nghe nó nói không hả con?” bà mẹ la lớn về phía cái đầu trùm mền của Grace, đôi tay bà bấu chặt bộ đầm mà bà đã diện cho buổi thi dương cầm. Không có chỗ nào để bà ngồi xuống ngoài cái giường, mà bà lại không thể ngồi lên đó.

Royce đáp lại bằng cách gom góp đồ đạc của mình, dọn dẹp cho gọn để giữ mặt mày cho Grace. Một lần anh phải nói, “Xin phép” với bà mẹ, nhưng giọng anh cộc lốc.

Tới khi Grace nghe tiếng anh khóa sợi dây kéo túi xách thì cô trở mình và đặt chân xuống sàn. Cô hoàn toàn lõa lồ.

Cô nói, “Cho em đi nữa. Cho em đi với anh.”

Nhưng anh đã đi ra khỏi phòng, ra khỏi nhà, như thể anh thậm chí không hề nghe cô nói.

 

Anh bước ra đường cái trong cơn nóng giận tới mức anh không thể nghĩ ra được chỗ nào để quẹo về phía xa lộ. Đến khi tìm thấy nó anh cũng không nhớ ra là phải đi trên lề sỏi, tránh những chiếc xe có thể đến trên mặt đường tráng nhựa. Anh biết anh phải quá giang xe, nhưng ngay lúc đó thì anh không thể đi chậm lại để đón xe. Anh cũng không nghĩ là anh có thể nói chuyện được với ai. Anh nhớ tới cái lúc anh thì thầm với Grace vào ngày hôm trước lúc họ làm mứt dâu, lúc hôn cô dưới vòi nước lạnh đang chảy khi bà mẹ quay lưng đi. Trong làn nước, mái tóc nhạt màu của cô trở màu sậm. Xử sự như thể anh tôn thờ cô. Vào một vài khoảnh khắc thì đó là sự thật. Sự điên rồ của mọi chuyện, sự điên rồ đã khiến anh để mình bị lôi kéo. Cái gia đình ấy. Cái bà mẹ điên khùng trợn ngược mắt lên trời.

Anh cứ bước đi cho tới khi đủ mệt và tỉnh táo thì mới chậm lại và đưa ngón tay cái lên để xin quá giang. Cử chỉ đó không mấy thuyết phục, vậy mà cũng có một chiếc xe dừng lại đón anh.

Vận may tiếp tục mỉm cười với anh nhiều lần nữa trong suốt ngày hôm ấy, dù đa số các chuyến quá giang đó tương đối ngắn. Nông dân thích có bạn đồng hành trên đường họ ra tỉnh hoặc khi quay trở về nhà. Truyện trò vặt vãnh. Một bác nông phu ở cuối chuyến quá giang nói với anh, “Nói ta nghe coi cậu có biết lái xe không?”

Royce đáp, được chứ. “Gần đây tôi chạy taxi mà.”

“Vậy thì chẳng phải cậu đã quá tuổi đi quá giang sao? Cậu đã học xong đại học-cậu không nghĩ nên kiếm một công việc đàng hoàng sao?”

Royce cân nhắc điều này như thể đó là một ý tưởng thực sự mới mẻ.

Anh đáp, “Không,” rồi nhảy ra khỏi xe. Và rồi anh thấy bên kia đường chỗ gần xa lộ có một tòa tháp bằng loại đá trông như đá cổ và có vẻ rất lạc lõng nơi đây, cho dù đỉnh tháp phủ kín cỏ và một cây nhỏ mọc ra từ một vết nứt của tháp.

Anh đang đứng ở rìa Vực Niagara, tuy anh chả biết cái tên ấy hay bất cứ điều gì về nó. Nhưng anh bị thu hút. Tại sao chưa hề có ai nói với anh về điều này nhỉ? Điều ngạc nhiên này, sự thách thức vô tâm trong khung cảnh bình thường này. Anh có một cảm giác giận dữ hơi tức cười là đã có một thứ gì đó được tạo ra cho anh khám phá, vẫn ở đó bấy lâu nay, mà không ai nói cho anh hay.

Dù sao mặc lòng, anh đã biết. Trước khi nhảy lên một chiếc xe khác nữa, thì anh biết là anh sẽ tìm hiểu, anh sẽ không bỏ qua. Đấy gọi là Khoa học địa chất. Vậy mà suốt thời gian qua anh vẩn vơ với biện luận, khoa học tâm lý và chính trị.

Điều đó sẽ không dễ. Nó sẽ có nghĩa là phải tiết kiệm tiền, lại học với những nhóc tì mặt mụn vừa ra khỏi trường trung học. Nhưng anh sẽ làm thế.

Sau này, anh thường kể với mọi người về cuộc hành trình, về khung cảnh bờ vực đã thay đổi cuộc đời anh. Nếu có ai hỏi anh đã làm gì ở đó, anh sẽ ngẩn người tự hỏi và rồi nhớ ra mình đã tới đó để gặp một cô gái.

 

Một ngày mùa thu, Avie đang ở gần trường để thu nhặt mấy quyển sách cô đã bỏ lại nơi cô ở trọ trước kia. Cô đến trường đại học để thử bán sách ở tiệm sách cũ ở đấy, nhưng rồi lại nhận ra là đó không hẳn là điều cô muốn làm. Lúc đầu cô ngạc nhiên vì không thấy ai quen cả. Sau đó cô gặp một cô gái đã từng ngồi cạnh cô trong lớp “Những Trận Đánh Quyết định ở Châu Âu”. Marsha Kidd. Marsha nói với cô là ai cũng sốc vì Avie không quay trở lại.

“Bồ với lại Grace, thật đáng tiếc,” Marsha nói.

Hồi trong hè Avie đã viết thư cho Grace. Rồi cô lại lo rằng lá thư đó có thể hơi quá thành thật về những mối e ngại của cô trong chuyện lập gia đình, và cô đã viết một lá thư khác rất dí dỏm phủ nhận nghi ngại của lá thư kia. Không có thư nào đượ hồi đáp.

“Mình có gửi cho bạn ấy một tấm bưu thiếp,” Marsha nói. “Mình nghĩ mình với bạn ấy có thể ở chung phòng với nhau. Lúc mình nghe nói là bồ đã nghỉ học. Mà mình cũng chẳng nhận được trả lời.”

Avie nhớ là cô và Grace đã có lúc diễu cợt về Marsha, người mà cả hai cô đều thấy là thuộc loại ngốc nghếch và chán phèo, thậm chí sẵn sàng trở thành cô giáo trường trung học và suốt đời chắc cũng sẽ chả có anh nào theo.

“Có người nói bạn ấy bị viêm ruột già,” Marsha nói. “Phải đó là khi mình bị sưng hết cả người không? Như vậy thật là khổ.”

 

Avie trở về nhà và viết thư cảm ơn quà đám cưới, là điều mà cô đã bỏ mặc không làm. Cô gửi mấy món quà tới Kenora. Hugo đang dạy trường trung học ở đấy-việc làm đầu tiên của anh. Anh đã thuê một căn chung cư cho hai người. Có lẽ trong chừng một năm thôi họ sẽ có nhà.

Hồi trong hè, lúc anh đang làm việc ở Labatt, họ đã bị một cú sợ choáng người vì tưởng là cô có bầu, nhưng cuối cùng thì cô không sao. Thế nên họ đi cắm trại vào dịp cuối tuần có lễ Dân sự[1] để ăn mừng chuyện đó, và đấy là lần đầu tiên có vẻ như họ thực sự đang yêu. Đó cũng là lần đầu tiên họ thực sự dính bầu, và họ đã tuyên bố là sẽ sớm làm đám cưới ở Kenora-trước khi bụng cô to ra.

Họ không phải là không vui về điều này.

 

Avie ngồi trên toa có lúc đã được gọi là xe câu lạc bộ, trong chuyến xe lửa từ Toronto tới Montreal để thăm một trong mấy đứa con gái. Rốt lại bà với Hugo có được sáu người con, tất cả đều đã khôn lớn. Hugo đã qua đời được một năm rưỡi. Ngoài vài năm ở Kenora, toàn bộ sự nghiệp dạy học của ông là ở Vịnh Thunder. Avie không hề đi làm, và với từng ấy đứa nhỏ, cũng chẳng ai nghĩ bà sẽ đi làm. Thế nhưng bà đã có nhiều thời gian rảnh hơn mọi người tưởng, và bà dành phần lớn thời gian để đọc sách. Khi sự đổi đời đến cho phụ nữ-khi những người vợ và người mẹ vẫn dường như mãn nguyện bỗng nhiên tuyên bố không phải thế, khi tất cả bọn họ bắt đầu ngồi trên sàn nhà thay vì trên ghế dài, và lấy những lớp đại học, và làm thơ và yêu các giáo sư hay các bác sĩ tâm lý hay chỉnh hình, và bắt đầu nói “tổ mẹ” và “đ.m.” thay vì “khỉ gió” và “quái quỷ”-Avie chưa bao giờ muốn hùa theo. Có lẽ bà quá kỹ tính, quá tự hào. Có lẽ Hugo chỉ là con người quá thụ động. Có lẽ bà yêu ông. Dù sao thì bà vẫn thế, và đọc Leonard Cohen[2] cũng chẳng ích gì.

Tuy vậy, từ khi trở thành góa bụa, bà đọc ít đi. Bà ngó trân ra ra ngoài cửa sổ nhiều hơn. Các con nói bà đang tự khép kín, cô lập chính mình. Trên chuyến xe lửa này, bà cũng chả chú tâm đọc lắm, dù đó là một quyển sách hay.

Một người đàn ông ngồi đối diện liếc mắt nhìn bà vài ba bận, và giờ đây ông đang thẳng thắn quan sát bà. Ông nói, “Phải Avie đó không?”

Đó là Royce. Sau chừng ấy thời gian trông ông cũng chả khác gì mấy.

Câu chuyện của họ dễ dàng, bắt đầu với những điều thông thường. Sáu đứa con được trầm trồ. Ông nói nhìn bà thì chả biết được bà có nhiều con thế. Ông không nhớ tên Hugo, nhưng cũng thấy tiếc khi nghe ông ta đã mất. Ông ngạc nhiên với ý tưởng là người ta có thể sống cả đời ở Cảng Arthur. Hay Vịnh Thunder, như tên mới bây giờ.

Họ uống rượu dâu thông pha nước soda đắng. Bà kể là Hugo không bị sợ hãi gì. Ông chết khi đang ngồi coi tin tức trên tivi.

Royce thì đi nhiều lắm. Sống ở nhiều nơi. Ông dạy địa chất, nhưng đã về hưu.

Ông có lập gia đình không?

Ồ, không, không hề. Và theo như ông biết thì không có con.

Ông nói điều này với tia mắt thoáng lấp lánh vốn thường hay đi kèm câu ấy, theo kinh nghiệm của Avie.

Bây giờ ông đang có một công việc hưu trí rất ngon lành. Công việc tốt nhất từ trước đến nay, không kể Địa chất học. Ở phía đông Ontario. Giờ ông đang đi đâu hả. Gananoque.

Ông nói về pháo đài cổ ở đó, được dựng lên ở cửa sông St. Lawrence, để chống cuộc xâm chiếm đã không xảy ra của quân Hoa kỳ. Pháo đài quan trọng nhất trong một dãy dọc theo Kênh Rideau. Nó đã được gìn giữ hoàn chỉnh, không phải như một bản sao, mà như chính bản thân nó. Ông hướng dẫn mọi người đi quanh đó, giảng giải về lịch sử. Thật đáng kinh ngạc sao người ta biết ít quá. Không chỉ người Mỹ-những người bị cho là ít hiểu biết. Người Canada cũng thế.

Ông đang viết một quyển sách mỏng về Rideau. Để bán ở pháo đài Gananoque. Ông sắp xếp để đưa một lượng lớn kiến thức về địa chất cũng như lịch sử vào đó. Ông đã tham gia vào lĩnh vực này hơi trễ để có thành quả đáng kể. Nhưng tại sao lại không thử nói cho mọi người biết về nó chứ? Giờ ông đang trên đường về nhà sau chuyến đi Toronto để cố mời chào vài người bán sách. Một vài người trong số họ đã nhận thử vài cuốn.

Avie nói một con gái của bà đang làm việc cho một nhà xuất bản ở Toronto.

Ông thở dài.

“Khó khăn lắm, thiệt đó,” ông nói gọn lỏn. “Người ta thường không thấy những gì chính mình thấy. Nhưng bà thì ổn thôi, tôi đoán chừng vậy. Bà có đàn con.”

“Đến một lúc nào đó,” Avie nói, “đến một lúc nào đó, ông biết đấy, họ cũng chỉ  là những con người. Ý tôi là, tụi nó là con mình, dĩ nhiên. Nhưng tụi nó thực sự chỉ là-những người mình biết.”

Xin Trời đánh chết mình đi, bà nghĩ.

“Tôi nhớ chuyện này,” ông nói, giọng trở nên vui vẻ hơn hẳn. “Tôi nhớ có lần ngồi trên xe bus đi qua thị trấn chỗ bà ở. Tôi không biết tôi có biết trước là bà sống ở đó hay không, nhưng ở đó tôi đã trông thấy bà bên hè phố. Tôi đã chỉ tình cờ ngồi đúng bên để thấy được bà. Lúc đó tôi đang đi về phía bắc. Đi gặp một cô gái mà tôi quen ở đó.”

“Grace.”

“Đúng rồi. Bà là bạn của Grace. Dù sao thì tôi thấy bà đứng bên đường nói chuyện với một người nào đó, tôi đã nghĩ trông bà thật lôi cuốn. Lúc đó bà đang cười. Tôi chỉ muốn nhảy ra khỏi xe để nói chuyện với bà. Đúng ra để hẹn hò với bà. Tôi không thể không tới cái chỗ mà người ta đang trông đợi tôi, nhưng tôi vẫn có thể gặp bà trên đường về. Tôi đã nghĩ, tôi có thể làm thế-hẹn gặp bà trên đường về. Nghĩ lại, lúc đó tôi thực sự có biết đôi điều về bà. Tôi biết là bà đang cặp kè với ai đó, nhưng tôi nghĩ, cứ thử một lần xem sao.”

“Tôi không hề biết,” Avie nói, “Tôi không hề biết là ông đã đến đó.”

“Và rồi, chuyện là tôi đã không trở lại đường cũ, nên dù có hẹn tôi cũng không thể đến được cái chỗ nào đó bà đang chờ, vậy nên chuyện hẳn cũng hỏng cả.”

“Tôi không hề biết.”

“Nếu biết, liệu bà có sẽ đồng ý không? Nếu như tôi đã có nói với bà, ‘Hãy tới cái chỗ đó, vào lúc đó’ thì bà có đến không?”

Avie nói ngay không do dự, “Ôi, có chứ.”

“Với đủ mọi thứ rắc rối ư?”

“Vâng.”

“Vậy đó là điều tốt hả? Rằng chúng ta đã không gặp nhau?”

Bà thậm chí không buồn trả lời.

Ông nói, “Nước chảy qua cầu.” Rồi ông ngả đầu ra lưng ghế và nhắm mắt.

“Trước khi tới Kingston nhớ đánh thức tôi dậy giùm nếu tôi ngủ quên nhé,” ông nói. “Có vài thứ tôi muốn chỉ cho bà thấy.”

Không khác lắm kiểu ra lệnh đương nhiên, như một người chồng.

 

Nếu quả ông đã có ngủ, thì ông thức giấc không cần bà gọi. Ở trạm Kingston họ vẫn ngồi trên tàu trong khi thiên hạ đi lên đi xuống, và ông bảo bà rằng chưa tới lúc. Đến khi đoàn tàu chuyển bánh trở lại thì ông giải thích với bà là toàn bộ khu vực xung quanh họ là những tầng đá vôi chồng chất lớp lang, như một công trình xây dựng khổng lồ. Nhưng có một chỗ nó nhường lối, ông nói, và người ta có thể thấy được một thứ khác. Đó là chỗ được gọi là Trục Frontenac-chính là sự bùng nổ của Khiên Canada to lớn cổ xưa, toàn bộ sức nổ thời xa xưa cắt ngang qua tầng đá vôi, tràn ra ngoài, làm xáo trộn hết những bậc đá khổng lồ ấy.

“Kìa, kìa!” ông nói, và bà thấy thật. Quả phi thường.

“Nếu có dịp đi ngang qua đây thì bà nhớ nhìn lần nữa,” ông nói. “Ngồi trong xe thì không thể thấy được gì mấy-vì nhiều xe cộ quá. Bởi vậy tôi mới đi xe lửa.”

“Cảm ơn ông,” bà nói.

Ông không trả lời mà lại quay đi, hơi khẽ gật đầu như thể tỏ lộ một sự đồng ý quan trọng.

“Cảm ơn ông,” bà lại nói. “Tôi sẽ nhớ.”

Gật đầu lần nữa, vẫn không nhìn bà. Quá đủ.

 

Vào lúc cái thai đầu tiên gần ngày sinh, vào khoảng độ giáng sinh, thì Avie nhận được một lá thư ngắn của Grace.

“Mình nghe nói bồ đã lập gia đình và đang sắp có con. Bồ chắc chưa biết là mình đã bỏ học, vì một số vấn đề sức khỏe và tâm trạng. Mình vẫn thường nghĩ về những cuộc nói chuyện của hai đứa mình và nhất là về giấc mơ mà bồ đã kể. Nó vẫn còn khiến mình thấy sợ choáng người. Mến, Grace.”

Lúc đó Avie đã nghĩ tới cuộc nói chuyện với Marsha. Viêm ruột già. Giọng lá thư của Grace có vẻ mất quân bình, với chút van xin, khiến bà lần lữa không trả lời. Lúc ấy bản thân bà đang rất hạnh phúc, với cả khối lo toan thực tế, rất xa những gì họ đã chuyện trò ở đại học. Bà không biết bà có thể tìm được cách để trở lại thời đó hoặc tìm được cách để nói chuyện với Grace như con người bà lúc nhận thư hay không. Và sau đó thì đương nhiên bà quá bận bịu.

Bà hỏi Royce có bao giờ nghe tin tức của Grace không.

“Không, không hề. Liên hệ gì đến tôi đâu?”

“Tôi chỉ mới chợt nghĩ vậy.”

“Không có.”

“Tôi nghĩ có thể sau này ông có đi tìm Grace.”

“Chuyện ấy chẳng nên.”

Bà làm ông thất vọng. Tọc mạch. Cứ lo đi tìm nỗi tiếc nuối chưa tan ở ngay dưới mấy cái xương sườn. Một người đàn bà.

 

[1] Civic Holiday: ngày lễ có tính cách địa phương, để kỷ niệm ngày thành lập thành phố địa phương, hay kỷ niệm một truyền thống, lịch sử… của địa phương, được thực hiện tại nhiều tiểu bang Bắc Mỹ và Canada. Do có tính cách địa phương nên tùy theo nơi nó sẽ có những tên khác nhau và được kỷ niệm trong những ngày khác nhau-đa phần là trong dịp hè. Có nơi ngày kỷ niệm này không cố định, mà được chính quyền địa phương quyết định và loan báo theo từng năm-lý do chính là phải phụ thuộc vào thời tiết.

[2] Leonard Norman Cohen (1934-), nhà thơ, nhạc sĩ, nhạc công, và tiểu thuyết gia người Quebec-Canada. Tác phẩm của ông thường khám phá về tôn giáo, sự cô lập, giới tính và tình dục, và về các mối quan hệ cá nhân. Ông mới vừa nhận được giải thưởng Juno Award 2013

bài đã đăng của Alice Munro


3 bình luận »

  • Biet the thoi viết:

    Trục (Axis) – truyện đầu tiên tôi đọc (?) của Alice Munro (AM), rồi đọc tiếp hai truyện khác (đăng trên Da màu). Cám ơn người dịch và cám ơn người đăng.

    Trước khi đọc bà, tôi đã đọc một số bài phê bình trên trang này, nhưng cảm thấy bối rối, không hiểu lắm là rốt cuộc người ta thích hay không thích truyện của AM và vì sao như vậy?

    Đọc AM (với tôi mới chỉ có 3) làm tôi nhớ đến Alphonse Daudet (AD) và Anatole France (AF), hai người mà tôi đọc khi còn nhỏ (và đọc lại khi “lớn” nhưng sao cảm xúc vẫn dạt dào). Truyện của hai ông tôi đã “rất-thích”, thấy lòng ấm áp, muốn cười và đã mỉm cười.

    “Truyện nói về cái gì?”

    “Hơ!?” Thật lòng, truyện của AD và AF muốn kể lại thì không biết kể làm sao. “Truyện-chẳng-có-gì-để-kể-cả”. Đó là những chuyện hằng ngày, đúng là chả có gì để kể, mà tất cả chúng ta có thể đều đã từng trải qua, hai ông làm như chỉ nhìn rồi ghi lại thôi, vậy mà làm ta ngất ngây.

    AM dường như cũng vậy, truyện của bà tôi cũng không biết kể lại, nhưng có một chút khác biệt (có phải vì khoảng-cách-thời-gian hay tại-thời-đại-bây-giờ-con-người-nó-vậy), truyện của bà có sự khắc khoải…

    Những nhân vật của AM và những người đọc AM, có cùng sự khắc khoải như vậy. Thực ra họ tìm kiếm gì?

  • Lê Hữu viết:

    Chuyện gì sẽ xảy ra nếu anh chàng Royce “ngẫu hứng” bất ngờ nhảy phóc xuống xe bus khi nhác trông thấy Avie bên vệ đường (xinh xắn và lôi cuốn với vẻ hồn nhiên, sinh động, “hất tóc ra sau mỗi khi gió tạt vào mặt cô”) và tiến về phía cô ta, thay vì tiếp tục đi đến điểm hẹn với cô gái khác. Không ai biết được, kể cả bà Munro. Chỉ một giây quyết định khác đi thôi, mọi chuyện đều đảo lộn. Cuộc đời của các nhân vật truyện sẽ rẽ sang một lối khác.
    Nhưng Royce đã không nhảy xuống, chuyến xe bus ấy không là chuyến xe định mệnh, thế nên tác giả bèn thu xếp cho hai nhân vật ấy, Royce và Avie, được “hội ngộ cố nhân” trên chuyến xe lửa đi từ Toronto đến Montreal vào… 50 năm sau. Tôi thích cái scene ấy ở gần cuối truyện, nó gần gần với lối chuyển phông màn kiểu “Rồi hai mươi năm sau…” trên sân khấu kịch hoặc tuồng cải lương Việt Nam. Nếu có khác là màn cuối ấy không dẫn tới một happy ending như khán/độc giả thường trông đợi. Bà Munro đời nào chịu để cho chuyện ấy xảy ra, bà cứ để câu chuyện và nhân vật lửng lơ, lờ lững trôi đi, xoay quanh cái “trục” của bà.
    Nếu tác giả truyện này là người Việt thì tên truyện có thể là “Nước chảy qua cầu”, mượn câu nói của Royce, “Water under the bridge”, nghe như tiếng thở dài kiểu “bao nhiêu nước đã trôi từ dạo ấy”, trong nỗi tiếc nuối mơ hồ của hai kẻ khi xưa từng phải lòng nhau nhưng không đến được với nhau, sau cùng tình cờ gặp lại nhau ở cuối đời.
    Đọc xong truyện, người ta tự hỏi “Vậy thì cái ‘trục’ Frontenac Axis ấy là cái gì đây, hoặc là ai đây?” Là Royce, là Grace hay là… bà Munro không chừng? Muốn hiểu sao thì hiểu, như những truyện của bà Munro thường không có câu trả lời. Grace chẳng hạn, cũng gọi được là cái “trục” cho những nhân vật xoay quanh cô. Thế nhưng cô lại như bị bỏ quên lại đàng sau, giống như đứa bé bị bỏ quên nhiều năm trong căn phòng tối dưới tầng hầm trong giấc mơ khủng khiếp của Avie. Người đọc không biết cô đã sống như thế nào trong nhiều năm kể từ khi Royce lạnh lùng quay lưng bước ra khỏi đời cô.
    Cám ơn dịch giả cho người đọc thưởng thức một trong những truyện tiêu biểu cho “thủ pháp” Alice Munro, không theo một trình tự thời gian nào, khi thì lội ngược dòng quá khứ, khi thì nhảy phóc tới tương lai xa vời vợi. Người đọc cần sử dụng thành thạo những nút bấm “fast forward”, “rewind”, “pause” và “play” để đọc những truyện kiểu này, và để “tự chọn” bất cứ đoạn nào mình thích (bấm nút cho câu chuyện và nhân vật phóng nhanh tới trước, hoặc chạy giật lùi). Truyện giống như tiểu thuyết nhưng lại không phải tiểu thuyết nên người ta vẫn phải gọi là truyện ngắn.
    Nghe đâu truyện được bình chọn là một trong những truyện ngắn hay nhất của tác giả, và được ca ngợi về nghệ thuật kể chuyện, về sự tinh tế, sâu sắc của cây bút “tâm lý tình cảm” Alice Munro trong việc đào sâu những số phận của những con người. Vậy mà độc giả người Việt lại dường như không “mặn” lắm với truyện của bà. Nhiều người chỉ tìm đọc truyện Alice Munro sau khi nghe tin bà chiếm giải Nobel văn học. Đọc, và không thấy có gì hấp dẫn. Các nhà phê bình văn học vẫn cho lời khuyên rằng người đọc nếu đọc lần đầu truyện của bà không thấy hay thì nên đọc lại lần nữa, lần nữa, hoặc đọc thêm những truyện khác của bà, cho đến khi nào… không muốn đọc nữa.
    Sau cùng, cho dù là nhà văn đoạt giải Nobel về truyện ngắn, riêng với độc giả người Việt, trước sau bà vẫn cứ như là nhà văn “tỉnh lẻ”, viết những câu chuyện “tỉnh lẻ” ít người chịu đọc vì “ảm đạm” như “đêm buồn tỉnh lẻ” (tên một bài hát điệu boléro ngày trước). Không hiểu vì sao!?

  • đặng thơ thơ viết:

    Anh Lê Hữu nhận định rất đúng rằng “Trục” giống như tiểu thuyết, xét về mặt biên độ của nó. “Trục” là một cách mạng trong truyện ngắn vì nó mang sức nặng của một truyện dài trong chỉ 15 trang, trải dài hơn năm mươi năm và qua ba góc nhìn của ba nhân vật. “Trục” không phải là một tác phẩm hiện thực như nhiều người hằng tưởng khi chỉ đọc trên bề mặt văn bản. “Trục” cũng như nhiều truyện ngắn khác của Munro là một tác phẩm với nhiều tầng ngẩm và nhiều tầng khí quyển bao phủ. Alice Munro đã đào sâu hơn cái mà người ta gọi là chủ nghĩa hiện thực vào trong truyện của bà, khiến tác phẩm trở nên một thế giới tự quy chiếu về chính nó. Khiên Canadian trong truyện là một hình tượng ẩn dụ về những tầng ngầm của hiện thực trên bề mặt. Giấc mơ của Avie và thư của Grace là những vòng xoay của xác xuất giữa điều có thể và điều không thể kiểm chứng của ngôn ngữ. Bằng ngôn ngữ nghệ thuật cao cường, “Trục” thể hiện điều tác giả không cần phải nói ra, nhưng người đọc cảm nhận được, toát ra từ những tường thuật chọn lọc và những khoảng trống mang tính gợi nghĩa. Đó là sức mạnh của truyện ngắn Munro. Có thể nào gọi “Trục” là một truyện dài chớp (nếu chúng ta đồng ý với cách gọi này cho một số truyện ngắn của Munro) vì nó đứng giữa hai thể loại ngắn/dài về hình thái, tư tưởng, và biên độ và cùng lúc sở hữu những tinh hoa của cả hai thể loại.

Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)
porn ficken russian porn japanese porn watch porn watch sex izle sex izle anal porn tube amateur porn watch