Trang chính » Sáng Tác, Truyện ngắn Email bài này

KHOẢNG TRỐNG ĐỂ RA NGOÀI

 

 

Sư Thiều Nghiêu thức giấc như thường lệ, tụng kinh một thời lượng như đã định, dù tối hôm trước có việc, hay đọc sách quá khuya, hoặc buổi sớm hôm sau thời tiết sẽ nắng hay mưa thế nào, đúng giờ là bắt đầu tụng, đủ giờ là ngưng.

Sư không bao giờ dùng đồng hồ. Nhưng theo nhịp chính xác từng giây của thời khắc. Tiếp khách đúng giờ hẹn. Đến lễ đúng giờ mời. Nhìn trăng sao khuya đoán đúng phóc từng giây khắc trong đêm. Sư thường bảo: “Tôi là một phần Tự nhiên”.

Tự nhiên ấy không hẳn là cái khuôn, là thước đo sự chính xác, Sư Thiều Nghiêu sống rất thoát, không vụ vào những tập quán, lệ tục sáo mòn; không mong đợi gì, chẳng lo lắng gì, không lay động chẳng tịch lặng, đó là Tính, Sư từng giữ.

Một đêm, trong giấc ngủ, Sư mơ thấy một bầu trời ban mai mây rất nhiều; núi, biển, đất, rừng sắp đặt không theo trật tự như thường hằng; thế giới ấy trong và mỏng, như một trời lụa chắp nối, lung linh; một thứ nắng cũng rất lạ, đậm mùi hương, rất dễ ngậm ngùi. Từ mây có những con đường dù mây bay rất nhanh và tan rất mau. Một người xa lạ, từ con đường vội vã của mây, đến gặp Sư. Người ấy đẹp một cái đẹp dị dạng, giọng nói lạnh như từ trong bão tuyết thổi ra, với Sư: “Hãy trả lại Ta hai cánh tay”.

Sau trận mơ thấy, Sư trở dậy, có chút bàng hoàng. Rõ là cơn mơ đang còn kéo dài những ảo ảnh trong tâm não Sư. Đêm chừng canh ba. Trăng hạ tuần soi nghiêng vào phòng qua song cửa sổ mở, bóng những sợi song sắt buồn trải trên nền. Chúng nghiêng nghiêng, song song, một đồng điệu mà như nương nhau ngả đổ. Sư tắt đèn ngủ, mở ngọn đèn lớn. Một không gian thoáng, ánh néon như rửa sạch, tẩy trần phần nào những thô bụi của đêm.

Sư pha một ấm trà. Nước trà ấm và thơm. Sư nhận ra qua lưỡi và thực quản tới tận sâu bên trong cơ thể, sự chuyển ấm của dạ dày trong đêm thời tiết khá lạnh. Mở một trang sách, không đọc được, Sư ngồi tựa lưng vào thành ghế, một cách ngồi mệt mỏi, điều chẳng bao giờ xảy ra với một người tự tại như Sư. Và tự trách mình. Vì sao có thể nhiều lời với một người trong cơn mơ. Những tra vấn xem ra không mấy trách nhiệm với một người đòi nợ, “Hãy trả lại Ta hai cánh tay.”

Làm sao ta có thể thoái thác, hoặc chấp nhận một lời đòi của một kẻ ảo, khi nếu trả, ta phải trả hai cánh tay có thật?

Mà nợ gì? Hay nội dung cơn mơ, có cái cách ẩn dụ không mấy thánh thiện, báo trước cho ta là sắp lâm vào cảnh “Sẽ bị khóa đôi tay?” Điều rất có thể, và đã xảy ra trong nhiều lịch sử, trong khắp loài người với triệu triệu. Những đôi tay mình có thể gắp một món ăn khoái khẩu, nhưng mất quyền “gắp” cái danh dự, cái quyền làm người. Nó kìa, những thứ quý giá là những trái chín rơi rụng trong khu vườn không-tay-hái.

Nếu tôi đang sở hữu một đôi-tay-sợ-hãi người ấy có đòi? “Hãy trả lại Ta hai cánh tay.” Hắn ta chưa phải lúc cần đòi đôi-tay-vô-dụng kia để thay một đôi tay mà Đấng Chí Tôn hằng mong đợi đứa con của mình làm nên việc.

Sư hiểu rộng biết nhiều nhưng không hiểu người “đòi nợ” này từ đâu tới. Từ một kiếp trước chính mình. Từ một oan hồn tham lam, hay từ một nỗi đau khắc nghiệt của một ai đó trong cõi người nóng sốt lẫn hiu quạnh này. Dù từ đâu, cũng một Lời Đòi, mình chỉ biết giới hạn là ngay kiếp này, bằng ý thức, mình chưa hề vay. Cũng có thể mình đã từng nợ từ khi còn là một bào thai trong bụng mẹ.

Bây giờ cơn mơ đã qua, người đòi nợ đã chẳng còn trong căn phòng màu sáng trắng của ánh điện. Sư hiểu, cái người ấy không có/còn trong phút giây này, nhưng sẽ “Còn mãi trong Tôi.”

Sư trở lại giường nằm, mong Mơ sẽ trở lại, cho sự thể đâu ra đó, và tự hứa: “Sẽ chẳng một lời nào với Người trong ấy.”

Sư nằm một lúc, và thiu thiu giấc.

Sáng trở dậy, Sư nhận ra mình bị liệt cả hai tay, từ bả vai trở ra các ngón.

**

Sư không tin những thuốc thang, những phương pháp vật lý trị liệu, đã chữa trị khỏi những cơn bịnh lưu tồn từ những giấc mơ, lẫn ác mộng.

Sư hiểu, sự bất trắc luôn rộng mở những cánh cửa, hoạn nạn luôn nới rộng những con đường; nên không thấy gì là bất bình thường giữa tục lụy đầy bất ổn, trùng trùng những điều được lý giải nghe ra thuận lý nhưng những thực tế đưa lại cho trọn vẹn biện minh kia chỉ là thất vọng, máu me và chết chóc. Chẳng có gì là lạ lùng, rằng một người phải trả đôi tay có thật của mình cho một người nhất định đòi nó trong một cơn mơ.

Mỗi con người phải rất cô đơn chống đỡ, phản kháng, cố thoát ngoài cái bóng tối kia trong mỗi giới hạn. Tự nhiên nhưng có thể, một sớm mai bầu khí quyển bỗng nhất tề hóa ra sâu bọ. Sâu bọ vô hình như thinh không. Chúng ta hít thở sâu bọ, nhìn xuyên sâu bọ, từng chuyến bay bay qua sâu bọ, và những lời gọi thân ái, lá thư tình tự của chúng ta có sâu bọ bám sâu trong mỗi âm thanh mỗi nét chữ.

Sư rất khổ sở khi hai cánh tay bị liệt, mọi sự đã phải nhờ các chú tiểu giúp đỡ. Sư không có ý định đòi lại đôi cánh tay, ta chẳng thể chơi tay đôi với nó, cùng những điều mơ mộng hứa hẹn, nhưng ông hiểu, phải phục hồi cái đang bất toàn hiện hữu, của riêng mình.

Không thuốc thang gì, Sư tự chữa trị bằng cách định thần. Lúc ngồi thiền, đôi mắt hướng về cái dùi gõ mõ, nghĩ rằng mình đang cầm nó trong lòng tay mà gõ. Sư vươn hai cánh tay giả tưởng trong khoảng không, và những ngón, mường tượng ra, đã chạm vào chuông mõ. Những ngón tưởng tượng trong mắt nhắm mỗi ngày một ít, nhận ra vân thịt và mùi của gỗ.

Chậm rãi và dần dà.

Rất khó nhọc và cực kỳ cam go.

Một thời gian dài chừng hơn năm, hai cánh tay của Sư cử động lại được. Sư có cảm giác máu đang chảy trong ấy, da thịt ấm áp, và mười ngón tay báo cho não biết cái vị trí của chúng trên thân thể. Được rồi, “Các thân yêu này không bị loại khỏi.”

**

Buổi tụng kinh đầu tiên sau những ngày bị liệt, Sư đưa tay cầm cái dùi gõ mõ, bỗng ngập ngừng, lại ngưng. Sư bảo dùi:

– Hãy tự đánh mõ.

Sư nghe dùi trả lời:

– Dùi không tự làm cái việc của người từng làm.

Sư nhìn cái mõ, bảo:

– Hãy tự kêu đi mõ.

Mõ than van:

– Mõ không kêu được như người.

Sư nói :

– Ta nào kêu ai.

– Kêu Phật. Sư đang gọi Phật.

Từ đó tới hết giờ tụng niệm Sư im lặng, thầm niệm. Ánh đèn trong điện tịnh nghiêm, không gian thoảng mùi nhang trầm. Tọa trước tương Phật đúng giờ đã định. Sớm nay, một buổi sớm của tâm tụng. Tiếng mõ nằm im trong thớ gỗ. Một không gian im vắng đến nghe cả tiếng khe nước đổ từ cao trong vực suối lưng chừng đồi như một con thác nhỏ.

**

Buổi sáng có Cư sĩ tới thăm Sư. Cư sĩ nhà dưới chân đồi có chùa tọa lạc. Hai người ngồi uống trà đàm đạo quanh chuyện tu thân với tu thiền. Tu thân cho sự Xuất, tu thiền vì sự Xử. Xử của đạo Khổng, chỗ này, đã mặt áo nhà Phật.

Họ khá thân thiện vì là bạn quen nhau từ thuở bé. Về sau Sư vào chùa, người thanh niên nay là Cư sĩ vào lính. Hai cuộc đụng đầu, với Phật và với súng đạn, riêng mỗi, cũng khá huyên náo một thời.

Cư sĩ nhìn quanh vườn nhiều bóng cây, chùa rộng, hỏi Sư:

– Nghe nói sớm nay thầy bắt đầu tụng kinh lại?

– Vâng.

– Sao tiếng chuông mõ lớn quá, như có gắn loa phóng thanh.

Sư chợt nhớ cái câm lặng buổi sớm, không mở lời và chuông mõ im lìm, chỉ có tiếng suối xa, nói với Cư sĩ :

– Chuông mõ đã có mỗi đời riêng.

Cư sĩ bảo:

– Tiếng tụng niệm của thầy lớn hơn xưa rất nhiều.

– Xưa là xưa nào?

– Khi chưa liệt một phần người.

– Nhưng sớm nay chỉ là tâm tụng.

– Mà âm thanh vang như sấm. Bọn chim trong rừng, bọn cá dưới sông chúng bảo chúng nghe được cả.

Sư ôn tồn bảo:

– Âm thanh lẫn âm vang ấy không là của tôi.

– Thế từ đâu ra?

– Từ tâm của người.

– Ra vậy, chúng ta có thể nghe và thấy trong một thế gian ảo. Thầy đã sống trong ấy, và đành trả nợ cho một người không có thật ư?

Sư nói:

– Không có gì là thật, chẳng ảo.

Cư sĩ nhìn ra ngoài đồi nắng. Một con đường đất đỏ nối những xóm làng phía đông với bên kia vùng đồi núi. Ông thấy một đám rước, rất đông người, chừng có tiếng trống, cờ xí và những lá phướn đỏ. Không hẳn là một đám tang, không là một cuộc rước mừng. Nó là lưng chừng giữa vui buồn, một quần thể đang khóc, có thể đang cười.

Cư sĩ hỏi Sư:

– Thầy ạ, đám ấy là đám gì vậy?

– Đám nào?

– Đám người ngoài kia, nơi tiếng trống lẫn tiếng ồn.

Sư nhìn về phía con đường. Sư không thấy ai, chẳng nghe tiếng trống, tiếng ồn, không thấy cờ phướn gì. Chỉ nắng buổi sớm trong veo tới giờ này đã vào ngọ, nắng quá nắng, một bầu trời như lòng trắng trứng bị vữa. Một bầu trời chập chùng trắng và nát của không khí, của tia nắng.

Sư nhìn ra chân đồi lần nữa và nói:

– Tôi nào thấy đám rước nào đâu. Chắc ông lại bị cái đỉnh đồi Thịt Băm trên kia nó nhắc nhở.

Những núi đồi triệu đau nhắc nhở Cư sĩ, ông bỗng rùng mình, tự thán: “Hơn bốn mươi năm qua, hằng đêm tôi vẫn nghe tiếng nổ vọng lại từ ngọn đồi quá khứ ấy.”

Đêm hôm kia, đêm nay, có thể là đêm mai, Cư sĩ vẫn luôn thấy trong giấc ngủ ánh lửa hỏa châu những bè bạn thương tích, những cái chết sau những viên đạn cuối cùng, đỉnh đồi cháy, những xóm làng bàng bạc bên dưới đã bị đêm đen chôn vùi.

Cư sĩ thường bị những cơn nhói đau từ cơ thể làm ông tỉnh ngủ. Cái đau không phải từ da thịt có thật, mà là từ cái bàn chân gỗ ông đã tháo nó ra đặt dưới chân giường mỗi đêm trước khi ngủ. Nó đang là một phần chẳng thể thiếu/rời của thân thể ông, người thương binh. Bốn mươi năm máu của ông đã chảy vào những thớ gỗ, thịt xương ông đã âm thầm lây sang, nỗi đau đã sáng rỡ một thứ ánh sáng đom đóm, và gỗ-máu-xương bàn chân này đang nhiễm trùng. Gỗ này đang hoại tử, cái giả này nhớ, và chừng đồng điệu cái bàn chân có thật đã bỏ lại, thối rữa từ lâu trên đỉnh đồi Thịt Băm.

**

Từ cổng chùa đi ngược lên đỉnh đồi, xưa kia có một đồn lính, về sau đồi ấy gọi là đồi Thịt Băm. Ngày ấy Sư vẫn ở trong chùa, nhưng đạo hữu ít ai tới viếng. Ngay trước cổng chùa một con đường xuyên qua để tải lính, súng đạn lên đỉnh đồi.

Có lần, viên trung úy – nay là Cư sĩ – dừng xe jeep ở cổng chùa. Thắt lưng là bi đông nước, lựu đạn vào thăm người bạn cũ, là Sư. Sư ngày ấy bảo: “Lẽ ra sĩ quan nên để súng đạn ngoài cổng chùa”. Cư sĩ thuở ấy cười nói: “Đây là lúc chúng ta coi súng đạn quý hơn lương thực. Nó là tin gan chúng ta.” Sư chắp tay niệm,”Mô Phật.”  Sĩ quan cười, nhìn Sư nói mỉa: “Tôi nghe ‘mô phật’ như hai tiếng xung phong.”

Đồi cao đúng 259 mét, nên theo địa hình quân sự nó được gọi là Đồi 259. Đỉnh đồi tự nhiên đã có một diện địa bằng phẳng, về sau được công binh cho xe ủi ủi rộng thêm ra, đủ mặt bằng lập một doanh trại lớn. Đồi 259 đứng độc lập, cách xa sườn phía đông Trường Sơn, nên thế chiến lược của nó rất quan trọng. Điểm quân sự trọng yếu này có thể chế ngự chiến trường cả một vùng trung du xanh mướt những ruộng vườn và xóm làng chung quanh.

Đồi 259, vì thế, biến thành một loại mật ngọt, những đoàn quân hảo ngọt luôn muốn tiêu diệt bên kia để mình trọn vẹn làm chủ cứ điểm này.

Nó mang tên đồi Thịt Băm là sau một trận đại chiến. Tất cả không còn gì sau chỉ từ hai giờ khuya tới tảng sáng. Ba tiếng đồng hồ, là thời gian cho chinh chiến, con quái vật đủ tài tình tiêu diệt mọi cái sống nơi này.

Thời chiến, có một cách giải quyết chiến trường khá đơn giản, theo đúng lương tâm của súng đạn. Là, những đồn trại lẻ loi, nơi hiểm yếu – như 259 chẳng hạn – khi bên này bị thất thủ vì bên kia biển người tấn công tràn ngập – quân số của lực lượng công đồn thường đông gấp 10 đến 15 lần quân số giữ đồn – thì giải pháp cuối cùng, cho xong chuyện, ta chết một, quân kia cũng tiêu vong mười, là cho oanh kích phủ dầu, tận diệt cả đôi bên trên đỉnh đồi.

Đương nhiên là bên sắp thất thủ đã mở con đường máu thoát thân. Một ít cố thủ còn lại, để làm mục tiêu nhử mồi địch, là cùng chung số phận với kẻ chiến thắng vừa tràn ngập đồn, chưa kịp rút lui. Ngay đó, bom, mìn và pháo từ xa nả tới, đồng loạt ra sức hủy diệt những gì còn lại, của cả hai bên.

Thịt xương bên mười bên một, đã trộn lẫn. Một thân người đã bị đạn pháo, lựu đạn, bom, cẩn thận băm qua chặt lại nhiều lần. Từ đó, 259 có tên lưu đời: Đồi Thịt Băm.

Tám Tòng, một người ai cũng sẵn lòng tươi cười với lão vì lão điên một cách đáng kính trọng. Nghĩ về Đồi Thịt Băm lão nói, lúc cái miệng lão méo xệch như phải một cơn đau đớn quai hàm:

“Thịt ấy rất nhiều, nhưng vô dụng khi khắp nơi đang đói thực phẩm, chẳng ai kho được một nồi, thậm chỉ nhặt gói được một đòn chả.”

Có người gọi cha này vô lương tâm, có người cho rằng lão là kẻ còn lý trí và tự trọng.

Cư sĩ nhắc lại:

– Thầy chẳng thấy gì sao? Đám rước chừng đi dần lên đỉnh đồi kia mà.

Sư chậm rãi:

– Tôi chẳng thấy gì, chẳng nghe gì. Chỉ thấy nắng bị vữa ra vì nóng chảy. Nắng nhảy dựng nhưng chúng không la hét gì. 

Nắng ngoài kia hóa hai thế giới trong mỗi mắt nhìn, Có và Không. Cư sĩ muốn hỏi Sư: “Ông đang ở đâu?” nhưng Cư sĩ lại chợt hiểu, “Câu hỏi này nên dành cho chính mình” một chiến binh cô đơn thời trận mạc lẫn thời bình.

**

Sư mời Cư sĩ ở lại thọ trai. Chỗ cửa sổ trai phòng nhìn ra, những sườn đồi thoai thoải tiếp nhau đổ xuống phía con đường cái quan. Xa kia là những mái tường một thị trấn lấp lánh trong nắng.

Từ cửa trai phòng có một thiếu niên thập thò nhìn vào. Thằng nhóc này là phật tử, được Sư thương mến. Nhóc miệng cười, tay xách cái lồng tre trong có một con chim. Sư bảo:

– Còi, cứ đẩy cửa vào, con.

Còi đặt cái lồng chim lên cái ghế bên cạnh chỗ Cư sĩ ngồi. Nó tươi cười nói:

– Con xin tặng thầy con chim này. Nó là con “bắt cô trói cột.”

Sư bảo:

– Ra sân chùa phóng sinh nó đi.

Còi lễ phép thưa:

– Con chim này không muốn sống nữa, phóng sinh cũng vô ích thầy ạ. Xin thầy cho ở đây bắt buộc nó tu hành, thêm ngày nào hay ngày đó.

Cư sĩ lấy làm lạ hỏi thằng nhóc:

– Sao biết nó không muốn sống. Chim nào mà không muốn sống?

Còi tự tình:

– Trưa nắng, rừng thì vắng, cha của con buồn quá ngủ không được. Mẹ bảo cha buồn suốt gần bốn mươi năm. Ba mươi bảy năm có một người không hề và chẳng thể có một nụ cười. Mẹ con khen thành tích sầu bi của cha con làm vậy. Cha thì buồn, con “bắt cô trói cột” cà chớn này kêu suốt, cha con ứa nước mắt. Cha bảo tiếng hót của nó nao nao, chỉ muốn chết.

– Thì đã sao?

– Nó kêu hoài như kêu oan hồn. Con bẩy và bắt được nó, con ca cầm buồn bã này. Con lấy con dao đè ra chặt cánh. Chưa kịp chặt con sẩy tay. Tưởng nó bay đi. Hóa ra nó cứ nhào vô chỗ cái lưỡi dao hằm hằm của con. Con này muốn chết, hoặc tưởng cái lưỡi dao là bồ bịch của nó. May tí chút, không thì con mang tội sát sinh. Con là phật tử nhà chùa mà.

Cư sĩ cười òa.

Sư ôn tồn nói:

– Loại chim cu này một số ở rừng vùng cao, một số chỉ quanh quẩn ở đồng bằng, những vùng rừng còi, những vườn tược của thôn dân. Rất gần gũi mà rất xa vắng qua tiếng hót trưa của nó. Chỉ có bốn âm lặp đi lặp lại, khá rõ ràng.

Cư sĩ tâm sự:

– Ấy là dân gian dựa theo bốn âm nó hót mà nghĩ trại ra là “bắt cô trói cột”chớ nó có hàm cái nghĩa đó đâu. Nào ai biết chim nói gì. Sao đã “trói” rồi còn “cột.” Cột vào đâu? Hay là trói cô vào cây cột.

Sư giải thích:

– Có đúng là vậy, nhưng trong dân gian có giai thoại giải bày về tiếng hót này. Chẳng phải oan tình, mà do chỉ là việc cãi qua cãi về sáu cây cọc và năm con trâu, giữa một cô gái con điền chủ với người nuôi trâu thuê cho cha mình. Những giai thoại ăn theo này cũng loại nhảm nhí, vì loại chim cu này đã hằng có từ nhiều trăm năm trước.

Thằng nhóc chú mục vào Sư. Sư dạy:

– Được, cho con giữ nó trong chùa. Nhưng con phải lo việc nuôi dưỡng nó.

– Dạ.

Ngoài sân nắng có bốn con chó nằm lim dim ngủ dưới bóng cây bồ đề. Bóng cây tròn vạnh một vùng.

Thằng nhóc chợt nhớ chùa có nuôi mấy con chó. Ấy là những con chó thường theo các đạo hữu vào chùa, về sau thấy chúng mến cảnh tịch mịch, các đạo hữu tặng luôn cho chùa. Sư rất vui, thường bảo “ Cũng là chúng sinh cả.”

Bọn chó ngoan hiền, một thời gian chúng chừng biết nghe kinh, và rồi ghiền. Lại quen ăn chay trường như các sư, tiểu trong chùa. Mỗi sớm chiều, khi nghe tiếng chuông mõ chúng cùng leo lên bực thềm, bò rón rén tới trước thềm điện Phật, cùng một hàng nằm im, cùng mắt hướng vào trong, ánh đèn hư ảo.

Thằng nhóc nhớ như in những cảnh ấy. Nó không hiểu bọn chó đã/đang nghĩ gì, nhưng phục lăn cái cách tu-hành-không-nói-năng này.

Bà Hoàng Kim, một phật tử hay nói triết học, nhận xét về loài bốn chân đang tu hành:

– Kiếp trước chắc là bạo chúa. Kiếp này ăn năn. Kiếp sau là một nhân loại nhân từ.

Thằng Còi phục lăn và tự nhủ hãy cố noi gương tu của bọn bốn chân rất mực thiền giả này. Đương nhiên được chừng nào tốt chừng ấy. Chắc chi mình ăn đứt phẩm hạnh mấy con chó này.

Mỗi bữa ăn, phần cơm được chia, chúng yên lặng ngồi nhìn, không so bì đứa ít đứa nhiều, chúng yên lặng ăn. Ăn xong mỗi con lấy miệng cắn cái tô xuống đặt chỗ rửa chén. Ra chỗ chậu nước sạch để sẵn, uống tuần tự. Trưa nóng, chúng tự tìm bóng cây, không quan thiết tới phòng lạnh quạt máy. Có khi chú tiểu mở quạt phòng, gọi, “Tụi bây vào đây ngủ.” Chúng tuần tự vào. Những đêm trăng sáng tỏ, khác với bọn chó lắm lời chỗ nhân gian, bọn trong chùa tránh ánh trăng, tìm chỗ khuất ánh sáng mà nằm. Chúng sợ thấy bóng trăng, gió lá lay, lại sủa, phiền gió trăng.

Dần dà chúng quên tiếng gầm gừ, quên hẳn tiếng sủa. Chúng biết cười. Không thích thêm trên thân mình những trang trí như bảng tên, huy chương, những chiếc nơ đẹp đẽ chẳng hạn. Có lần thằng Còi đeo cho mỗi con một giải băng quanh cổ, Giải băng khá đẹp, mỗi con một màu. Lại có một bảng tên. Một sáng Còi chẳng thấy giải băng trên cổ đâu cả. Hóa ra chúng tự “cởi trói” cho nhau bằng cách con này cắn đứt băng cho con kia.

Cái nhìn, bước đi, sự thầm lặng của những con chó-thiền trông như các cụ ông cụ bà bảy tám mươi. Thuần hậu, nghiêm trang, chậm chạp nhưng hãy còn rất minh mẫn.

Tuần rồi con Beo, một trong bốn con, bị bọn trộm chó – tức là bọn chó tặc – vồ. Cần cổ Beo bị máng vào một cái vòng nối với một cây gậy. Xe hai bánh chạy như bay. Beo không kêu rên tiếng nào. Chẳng hiểu sao bọn trộm chạy một thôi lại thả Beo ra. Lúc chạy thằng chó tặc ngồi sau ôm con Beo, nó thấy đôi mắt Beo vô tư lự, ánh mắt sáng trong, con ngươi đen mấp máy như cười. Nó nhận ra một sự bất thường. Sợ con chó này là con quỷ rồi, chớ chẳng sợ con này sẽ hóa Phật, nó thả.

Beo trở về chùa. Buổi tối, có thể do đau cổ, nó bỏ ăn, lên điện phật nằm. Cả bọn mấy con kia cùng bỏ ăn. Bọn này sao giống bọn ngựa trong Tình nghĩa giáo khoa thư quá vậy, “Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ.”

Bóng cây bồ đề trong sân chùa tỏa rộng, một đôi triệu chúng sinh chưa là người đang hư ảo ẩn trong ấy, chờ hóa sinh.

**

Sư viên tịch khoảng bốn giờ sáng.

Buổi chiều sẩm, trời nhiều mây và bóng tối đầy trong vườn chùa, các tiểu chưa bật điện, Sư thấy trong người khỏe hơn mọi ngày, tâm tĩnh, nhưng cảnh vật chung quanh có điều lạ hơn trong mắt Sư. Màu xanh lá của cây bồ đề trong xẩm tối bỗng lấp lánh, trập trùng một màu vàng sáng như lá trong ánh trăng rằm đêm trăng tỏ, nền gạch hoa sân chùa hóa màu đất trắng sữa trên đồi dưới nắng tháng Hai Sư từng thấy lúc còn ở quê nhà. Sư đi lên điện Phật, một hồi tưởng rất nhanh chín mươi năm chạy suốt qua đời Sư thoáng vụt, nhẹ và trôi nhanh. Chín mươi năm của đời Sư thu ngắn qua mấy bước chân lúc bước lên bật thềm.

Một thoáng, Sư cảm giác như mình bước hụt một bậc thềm. Trong khoảng trống của tri giác ấy, Sư nhận ra một tín động rất xa vắng, đúng ra Sư nghe một đâu đó nói: “Sư ạ, ngươi đang trên đường trở về. Ngươi sẽ ra đi trong đêm tối nơi này để nhìn thấy ánh sáng vĩnh cửu.”

Mọi sư sãi và đạo hữu trong chùa, buổi chiều ấy, chẳng một ai được linh tính báo cho một Sự Lạ, nhưng rất buồn của chia ly, rằng Sư sắp Trở Về.

Rất khuya, khi các đạo hữu đã rời chùa, không gian rất tịch lặng của một đêm không trăng, bốn con chó cùng âm thầm, khác với mọi ngày chúng phải ngủ chỗ đã sẵn, mà cùng nhau đi trong bóng tối, đến phòng ngủ của Sư, chúng tuần tự nằm theo bốn góc chân giường, thuận theo chiều nằm của Sư. Chúng thở rất nhẹ hơn mọi ngày, nằm một thế nằm sấp, bụng áp đất, không hề trở nghiêng hay ngửa. Chúng nằm như chờ hóa đá. Lúc đó Sư đang nằm ngửa, tĩnh mịch. mặt hướng lên trần nhà, hai tay phủ lên trước ngực, hai bàn tay nắm nhẹ vào nhau, viên tịch một cách nhẹ nhàng.

Nửa khuya có cơn mưa lớn. Con chim của thằng Còi, từ lâu im tiếng, bỗng hát tụng bốn tiếng “bắt cô trói cột” trong đêm gần về sáng. Nó là loại chim hay hót vào ban ngày, thường buổi trưa, lúc nắng vàng buồn bã chạy vô tình trên những sườn đồi còi cây, những loại cây ít xanh lá về mùa đông nhưng chịu đựng tuyệt vời trong suốt mùa hè không giọt mưa trên núi đồi.

Thằng Còi cầm theo cái đèn bấm xuống chân đồi báo tin cho Cư sĩ. Từ lâu con “bắt cô trói cột” không bị nhốt trong lồng. Nó quanh quẩn trong khuôn viên chùa chẳng bay đi đâu. Bây giờ nó đậu trên vài thằng Còi cùng xuống đồi. Thằng Còi nói đùa, “Phải mày con đại bàng tao ngồi trên lưng mày bay là nhanh và quá đã”. Nói xong Còi bất ngờ nhận ra trên vai mình con chim chừng nặng hơn, to hơn. Còi hoảng hốt than van, “Mày con nhà Phật mà còn tham lam vậy ư?” “Bắt cô trói cột” ngưng việc “tự bành trướng” nhưng nó không thể tự thu nhỏ mình mẩy lại như thưở ban đầu.

Buổi sáng những nghi lễ được bày biện. Thành kính và trang trọng. Nhưng tuyệt không tiếng chuông mõ, lời kinh được thầm tụng một cách không thành tiếng. Đó là di ngôn của Sư.

Lúc tẩm liệm mọi người nhận ra thần thái Sư như khi hãy còn sống, bình thản và kỳ bí. Cái này ẩn trong cái kia. Đặc biệt đôi cánh tay của Sư rất ấm, chừng máu nóng vẫn còn chạy đó đây trong ấy.

Theo di ngôn, Sư được hỏa thiêu và tro cốt được rải nơi sườn đồi Thịt Băm, có con suối chảy qua, dẫn xuống một cánh đồng, nhập vào con sông, ra biển.

Đám tang rất đông đạo hữu cả những người ngoài đạo vốn tôn kính nhà Sư. Mấy con chó được ngồi xe đến nơi dự lễ hỏa thiêu. Chúng ngồi yên nhìn lửa bùng cháy qua một cánh cửa nhỏ miệng lò. Một lúc, chúng rời khỏi đám người đưa tang, không cùng về chùa, mà cùng đi về phía con suối. Chúng ngồi trong nắng, nhìn nước chảy, và đợi chờ. Nhưng hãy còn rất lâu, những bốn mươi chín ngày sau, lễ thất tuần, Sư mới về trong lòng suối.

Chùa khá buồn sau khi Sư viên tịch. Một buổi chiều, Còi ngồi chỗ ghế đá nhớ bốn con chó đang bên bờ suối. Hằng ngày Còi vẫn đem thức ăn đến cho chúng bên dòng nước, trắng xóa một vực đá. Bên cạnh Còi trong nắng chiều là “bắt cô trói cột.” Bộ lông nó xưa kia trên lưng màu xám đậm xù xì, dưới lườn bụng những vạch ngang trắng đen chen nhau, nay mịn màng, sáng óng một màu vàng như một bộ áo cà sa. Còi nói với chim, “Hãy hót vài tiếng đi mày, tao không chặt cánh mày đâu”. Bắt cô trói cột kêu bốn tiếng, không phải tiếng hót, giọng nhỏ nhoi, xa vắng như một lời thì thầm.

Cư sĩ trở lại. Ông nói như nói với cái bóng của nhà Sư chỗ trai phòng: “Ông ở đâu? Một mai đến lượt tôi. Chúng ta vẫn cứ là bạn nơi chốn ấy, như chưa từng ở chốn này.”

Gia Định, mùa Phật Đản, 2012

bài đã đăng của Cung Tích Biền


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)
porn ficken russian porn japanese porn watch porn watch sex izle sex izle anal porn tube amateur porn watch