Trang chính » Biên Khảo, Học Thuật, Lịch Sử, Nghiên Cứu Email bài này

Lê Quýnh – phần 4

LÊ QUÝNH

1750-1805

(Kỳ 4)

Một nhà nho chống Pháp bị bắt cuối thế kỷ XIX

Nguồn: Georges Buis & Charles Daney: Quand les Français découvraient l’Indochine

Paris: Herscher, 1981 tr. 39

我輩頭可斷,髮不可薙,皮可削,服不可易也。

Ngã bối đầu khả đoạn,

phát bất khả thế, bì khả tước,

phục bất khả dịch dã.[1]

(Bọn ta đầu có thể chặt,

[nhưng] tóc không thể cắt, da có thể lột,

[nhưng] y phục không thể đổi.)

PHẦN IV

TRỞ VỀ NƯỚC

VẬN ĐỘNG TRỞ VỀ NƯỚC

Ðến năm Giáp Tí (Gia Long thứ 3, 1804) khi nhà Tây Sơn đã diệt vong, được sự đồng ý của nhà Nguyễn, Thanh triều mới cho các vong thần mang quan tài vua Lê, thái hậu và nguyên tử (con trai vua Lê chết ở bên Tàu) trở về nước. Quốc Sử Di Biên chép rằng:

… Tháng Tám [năm Giáp Tí] Trường Phái Hầu của nhà Lê cũ Doãn Hựu [黎允佑][2] đem hài cốt vua Lê từ nước Thanh trở v. Khi trước, vua tôi họ Lê ở bên nước Thanh từ năm Tân Hợi [1791] thì đã thất tán chỉ còn vài chục người. Người đi theo phần nhiu lấy vợ phương bắc sinh con cái, riêng Hựu bị giam lâu ngày ở Bắc sở, chỉ còn được một chiếc mũ rách nát đội đã trên mười năm. Năm Canh Thân vua Gia Khánh mới lên thân chính nên được thả ra cho sống ở bên ngoài. Khi đó Hựu mới biết vua Lê đã qua đời bèn chịu tang. Năm Nhâm Tuất, nghe tin nguỵ Tây [tức Tây Sơn] mất nước, nhiu lần khẩn thiết xin đưa hài cốt vua Lê v nước nhưng không được trả lời.

Đến khi quốc sứ sang cầu phong, con Hựu là Trắc [允側] xin làm hành nhân[3] sang để thăm dò vua và cha. Vua Thế Tổ [tức vua Gia Long] vốn đã nghe tiếng Hựu từ trước nên đồng ý cho đi theo lời tâu. Khi Trắc đi đến Trác Châu [涿州] gặp được Hựu đợi sứ đoàn ở đó, cha con gặp nhau mừng quá nên có thơ rằng:

纔聞每謂人欺我,

及見驚呼汝是誰。

Tài văn mỗi vị nhân khi ngã,

Cập kiến kinh hô nhữ thị thuỳ.

Thoạt nghe cứ tưởng đâu đuà cợt,

Gặp mới kêu lên ai thế này?

Nhân thế Hựu cùng đi với phái đoàn đến Yên Kinh cùng với khâm sứ bái yết vua Thanh. Thanh đế khen ngợi bảo cha là tôi trung, con là con hiếu nên ban thưởng rất hậu. Khi sứ thần v nước, Hựu dặn con làm biểu tâu lên vua Thế Tổ, xin cho được v nước và đem hài cốt vua Lê v táng ở nơi tĩnh địa. Vua Thế Tổ thuận cho, khi đó Trắc mới viết thư báo cho Hựu đông dâng biểu lên vua Thanh xin v. Vua Thanh cũng bằng lòng và cho tất cả những người lưu vong v nước.

Ngày 24 tháng Ba năm nay, Hựu lấy áo mũ quan tài cải thố cho vua Lê, thái hậu và nguyên tử và những người đi theo lớn nhỏ 18 cỗ, làm thơ khóc Lê đế trong đó có câu:

雲暗龍髯無覓處,

雪封馬鬛有開時。

Vân ám long nhiêm vô mịch xứ,

Tuyết phong mã liệp hữu khai thời.

Mây phủ râu rồng tìm đâu thấy,

Tuyết che bờm ngựa có ngày tan.

Vua Thanh sai làm bảng ghi rõ, chia ra thành ba nhóm, đi đến đâu được quan lại châu phủ hộ tống [vợ con người tòng vong đi đợt đầu, kế đến là hài cốt, các tòng thần còn sống đi sau cùng].[4]

SAU KHI VỀ NƯỚC

Trong Bắc Hành Tùng Ký, Lê Quýnh không viết gì nhiều về cuộc đời ông sau khi từ Trung Hoa trở về. Ngay cả những biến cố lớn liên quan đến việc gặp gỡ tổng trấn Bắc Thành là Nguyễn Văn Thành hay vào kinh yết kiến vua Gia Long ông cũng đề cập đến rất sơ lược khiến nhiều người phải đặt câu hỏi về tính chính xác của các sự việc xảy ra sau khi ông rời Trung Hoa. Những chi tiết đó dựa vào lời thuật lại của người khác nên chưa chắc đã hoàn toàn là sự thực.

Điều này cũng có thể giải thích được:

– Thứ nhất, từ khi ông về nước đến khi ông qua đời chỉ chưa đầy một năm [ông qua đời ngày 15 tháng Chín năm Ất Sửu (1805)] nên có thể ông chưa có dịp đề cập đầy đủ chi tiết những việc mới xảy ra. Ước vọng sau cùng của vua Chiêu Thống là được đưa về táng ở quê nhà ông đã hoàn thành, coi như làm tròn nhiệm vụ nên không còn gì đáng nói. Vả lại, theo lời kể của chính ông thì ông vào chùa tu và đã đi tu ắt không còn lưu luyến việc bên ngoài.

– Thứ hai, Lê Quýnh đặt nặng những biến cố khi ông làm quan cho nhà Lê và vì lòng trung nghĩa của mình mà bị tù đầy tại Trung Hoa nên không muốn nhắc đến những việc khác dưới triều Nguyễn. Vả lại, tuy vua Gia Long đã diệt được nhà Tây Sơn, gián tiếp trả thù cho vua Lê nhưng cũng không trả nước cho cựu triều khiến ông bất mãn, oán trách luôn cả những cựu thần nhà Lê làm việc cho Tây Sơn nay lại sang làm bầy tôi nhà Nguyễn.

Cũng may, một nhà nho miền Bắc là thám hoa Phan Thúc Trực nhân những chuyến công du ở Bắc Hà để sưu tầm tài liệu đã chép tương đối chi tiết. Ðó cũng là điều đáng nói vì làm việc trực tiếp với triều đình, thám hoa họ Phan đã ít nhiều nhận ra sự vô tình hay cố ý phủ nhận tiền triều, không muốn ai còn lưu luyến đến những dòng vua cũ. Tâm lý đó cũng bình thường, những người – ở một vùng đất nay có chủ mới – không thể không có những hoài cảm khi nhìn lại cảnh cũ, gặp lại người xưa. Tâm lý đó thể hiện dưới nhiều hình thức, phần lớn chỉ là thơ văn nhưng cũng có những người ghi chép lại qua sử sách để bổ sung cho những gì mà tân triều cố tình không nhắc đến.

Quốc Sử Di Biên (tập thượng) chép như sau:

… Tháng Bảy năm đó đến Nam Quan vào trấn Lạng Sơn, lập bàn thờ ở ngoài thành, hiệp trấn Nguyễn Duy Thản xuất thân tiến sĩ, người xã Hương La cùng các tù trưởng các phiên đu đến khóc.

Lê Quýnh đi xuống Thăng Long ngày 26 yết kiến quận công Nguyễn Văn Thành [khi đó là tổng trấn Bắc Thành], quì hồi lâu nhưng không lạy nói rằng vì chưa bái yết vương thượng nên không dám bái tôn công, nay cởi mũ ra xin chịu tội. Nguyễn Văn Thành xua tay:

Xin ông đứng lên mời uống trà.

Lê Quýnh tạ ơn nói:

Nước mất không mưu tính lấy lại, ấy là tội nhân của ngài, nay gặp tôn công, mồ hôi ướt áo. Thế nhưng di hài của cố quân chưa có được một tấc đất để ninh táng, mong tôn công giúp cho.

Thành Quận Công đáp:

Ông đừng lo, vương thượng trông ông như người khát nước, vẫn thường nói rằng khi nào ông v đến nơi thì mau mau đến yết kiến, đãi đằng ít lâu. Còn việc của vua cũ, tôi bảo đảm là sẽ vì ông mà hoàn thành.

Lê Quýnh ở lại ba ngày, các quan văn võ cũ mới đu tới gặp nhưng ông từ tạ rồi ra yết kiến tán lý Thường [Đặng Trần]. Thường vừa gặp ông gọi ngay là Khổng Minh[5], Hựu không nhận, Thường lại đổi gọi là Tử Phòng.[6] Hựu nói:

Tướng công gặp được minh quân nên làm được những điu mình muốn nên có thể nhận cái danh Tử Phòng, Hựu này không được như vậy.

Nhân đó xin cáo biệt trở v.

Ngày mồng 6 tháng Tám Hựu từ Thăng Long lên đường v quê, uống rượu với người thân kể lại nỗi nim mong nhớ cũ. Ngày mồng 7 đến yết từ đường dòng nhà mình, nhân dịp ăn giỗ bà thím [vợ ông Doãn Trọng]. Ngày 12 quay trở lại Thăng Long bẩm với Thành Quận Công xin được v kinh trình lời tâu lên vua Thế Tổ, được nhà vua thuận cho đem hài cốt vua Lê v chôn ở làng Bố Vệ.

Ngày 24 tháng Chín, Thành Quận Công cho binh lính Bắc thành cùng đinh phu các huyện và trấn Lạng Sơn đưa linh cữu vua Lê v Thăng Long, lập trai đàn ở nhà Diên Tự Công [tức Lê Duy Hoán, con trai Lê Duy Chỉ được vua Gia Long cho thừa tự tông miếu nhà Lê]. Các di thần và quan văn võ đu mặc đồ tang đến phúng điếu. Các quan tài từ Đinh Nhạ Hành trở xuống được thân quyến tiếp nhận theo các bảng tên đem v mai táng.

Hậu [tức vương phi Nguyễn Thị Kim] người Tì Bà vào chùa Lã tu từ năm Kỷ Dậu [1789] đến khóc với Doãn Hựu, hỏi kế cho mình, Hựu nói:

Xuống đất để gặp tiên quân, ấy là thượng kế. V trông coi hương hoả ở lăng, ấy là thứ hai.

Hậu nghe lời, uống thuốc độc chết, khi đó 40 tuổi. Tán lý Thường viếng có câu:

節義殘燈下,綱常一酌中。

Tiết nghĩa tàn đăng hạ,

Cương thường nhất chước trung.

Giữ tiết nghĩa dưới ngọn đèn tàn,

Đạo cương thường ở trong chén thuốc.

Nhà vua hạ chiếu ban cho 4 chữ “Thủ Trinh Tuẫn Tiết” [守貞徇節].

Ngày 28 tháng Mười, Thành Quận Công phụng mệnh đưa linh cữu vua Lê v táng ở làng Bố Vệ có hiệp trấn Thanh Hoa cùng đi lo việc lễ nghi, phụ táng hậu Tì Bà ở bên cạnh, thần chủ của hậu thờ ở tả vu miếu nhà Lê, lại dựng bia cho bà ở quê quán [làng Tì Bà], cho hai người lính trông coi.[7]

Sau khi chôn cất vua Lê, Lê Quýnh quay lại Thăng Long bái tạ Thành Quận Công rồi từ biệt về quê. Ông nhịn ăn 3 ngày, sau đó đến tu ở chùa xã Ðại Ðồng. Ông có làm thơ rằng:

佛祖容為初弟子,

皇王許作舊閒民。

Phật tổ dung vi sơ đệ tử,

Hoàng vương hứa tác cựu nhàn dân.

Phật tổ rộng lòng cho làm đệ tử mới,

Nhà vua thuận cho làm người dân nhàn cũ.

Lúc đó ông vừa tròn 55 tuổi. Ông thường nói với người quen cũ là Nguyễn Huy Phác rằng:

– Quýnh cũng giống như con gái quê mùa, nhan sắc chẳng lấy gì đẹp đẽ, lại cũng không có nghề ngỗng gì, được người ta lấy làm vợ đã là may mắn lắm. Nay chẳng may chồng chết sớm nên sống đời đàn bà goá cho tròn danh tròn tiết, nếu không thì còn ra gì nữa.

Nguyễn Huy Phác cho là khéo ví von. Qua đây, chúng ta cũng biết ông tuy về nước nhưng không phục những ai đã làm quan cho nhà Lê nay lại ra làm quan dưới triều Nguyễn. Mà số này không phải ít, có người làm quan cả ba triều kế tiếp, Lê-Trịnh rồi Tây Sơn, nay lại hàng Gia Long. Có lẽ đó cũng là một lý do Lê Quýnh không chép gì thêm những việc ông làm sau khi đưa quan tài vua Lê về táng ở Thanh Hoá.

Theo Quốc Sử Di Biên, ông bị cướp đâm ngày mồng 1 tháng Chín năm Gia Long thứ 4 (1805) và từ trần gần nửa tháng sau đó.

Mồng Một tháng Chín, kẻ cướp giết Lê Doãn Hựu và con là Thốt. Hồi đó ở Bình Ngô có tên đầu đảng cướp tê là Bi, tự xưng là Bắc Sứ Soái, thường hay bất ngờ ra cướp bóc. Lần đó bi ra cướp và đốt phá ở Ngâm Đin, lấy được rất nhiu tài sản, súc vật. Hựu dẫn người nhà chặn đường đoạt lại. Bi thù hận lắm nên khi đang đêm đem rất đông đồng đảng đến đốt phá nhà Hựu, đâm ông vài mươi nhát. Quan phủ là Nguyễn Đình Tôn lập án sống [nạn nhân còn sống]. Đến ngày 15 [tháng Chín] ông chết, lại lập án chết [nạn nhân đã chết]. Con của Hựu là Trắc và Thốt có ý báo thù, khi đi đâu thường mang binh khí trong người, Bi lại phục kích giết Thốt ở ngoài đồng. Thành Quận Công sai quan điếu tặng, lại theo lệnh vua đem tin gạo đến để chôn cất, Nguyễn Đăng Sở làm điếu văn.[8]

Trong dịp này Nguyễn Đăng Sở [阮登璴] làm văn tế như sau:

蕉鹿壑蛇,童牛角馬。

千萬里波濤無恙,忽然旣岸卸虛舟。

二八朞霜雪不侵,何者未寒凋老柏。

惟餘義烈於人間,可對君親於地下。

形歸窀穸,焄蒿之精爽如存。

神返斷堂,藔草之明誠以妥。

Dịch âm

Tiêu lộc hác xà, đồng ngưu giác mã.

Thiên vạn lý ba đào vô dạng, hốt nhiên ký ngạn tá hư chu.

Nhị bát ky sương tuyết bất xâm, hà giả vị hàn điêu lão bách.

Duy dư nghĩa liệt ư nhân gian, khả đối quân thân ư địa hạ.

Hình qui truân tịch, huân cao chi tinh sảng như tồn.

Thần phản đoạn đường, liêu thảo chi minh thành dĩ thoả.

Dịch nghĩa

Hươu nơi tàu chuối, rắn ở trong hang.

Trâu còn non, ngựa mọc sừng.

Nghìn vạn dặm sóng to gió cả chẳng h chi.

Bỗng nhiên đến bờ thuyn lại đắm.

Mười sáu năm sương tuyết không xâm,

Sao không được thành cây tùng già chịu rét.

Thế nhưng ông để lại nghĩa liệt chốn nhân gian,

Không thẹn với vua, với mẹ cha nơi chín suối.

Hình v dưới huyệt nhưng hương thơm tinh sảng vẫn còn,

Thần trở lại nhà, lu cỏ sáng soi cũng thoả.

Lại có đôi câu đối:

文丞相孤忠,故鄕更遂黄冠願

蘇中郞大節,勝國難欺白髮心

Văn thừa tướng cô trung, cố hương cánh toại hoàng quan nguyện

Tô trung lang đại tiết, thắng quốc nan khi bạch phát tâm

Trung nghĩa không khác gì Văn thừa tướng, được v nước thoả nguyện đội mũ vàng

Tiết lớn giống như Tô trung lang, nước kia không thể khinh tấm lòng tóc bạc được.

箕在已非商,龜範莫能渝厥志

蘇還猶是漢,麟臺何恥殿諸臣

Cơ tại dĩ phi Thương, qui phạm mạc năng du quyết chí

Tô hoàn do thị Hán, lân đài hà sỉ điện chư thần

Ông Cơ còn nhưng Thương đã mất, qui phạm trong chí vẫn không quên

Ông Tô v thì nhà Hán còn, đài lân không thẹn với các bầy tôi khác

Nguyễn Đăng Sở cũng viết bài văn bia ca ngợi khí tiết của hai anh em Lê Quýnh và Lê Trình vào tháng Sáu năm Gia Long thứ 12 [Quí Dậu, 1813].

故黎朝從臣墓碑

侯姓黎,超類縣大卯社人,黎朝景興癸亥科進士,刑部左侍郎岱岩侯之冢子,名囧。侯之堂弟黎值,乃黎朝景興戊辰科進士,諒山總鎮秀川侯之弟五男也。

侯以掌侍衛有功,累封長派[9]侯,黎值奉執羈靮有功,賜爵超嶺侯。

昭統元年十二月朔,西山將兵侵薄昇龍城,御駕北遜于諒江,侯率家丁翊駕,自北而東。二年戊申二月,侯奉跟尋太后與元子于高平,爲西兵所迫,遂奉投内地之南寧府。

事聞大清皇帝,特命侯從廣東路回探國情。旣復,乃命兩廣總督孫士毅提師救援。十一月克復京城,乘輿反正。時用乏兵少,侯以平章事總督兵餉,超嶺侯北使迎太后與元子至自南寧。

三年己酉正月,西山兵潛至,孫總督兵潰退北走,御駕亦從北幸。比至燕京,悉令薙髮受封,無復有再援[10]意。侯居國募兵裹糧,預先措置,日望援兵再來。

涉夏徂冬,竟無聲息,乃與弟黎值及同志鄭憲,李秉道等進關,謀圖恢復。旣至,竟不許面君,迫之剃髮改裝。不受,拘禁于獄,凡十三年,脅威利誘,終不能奪。侯嘗有詩云:

身困十年懷素節,

命隨一髮表丹衷。

其見於文墨者非一。黎故君在日,命綠其辭,顏曰:四公詩集。北朝稱爲黎家四義士。

逮嘉隆元年壬戌,西山賊旣平,侯長子允倬奉從使部來探聲息。三年甲子,北朝咨交回國,乃得全髮以歸。再願奉迎黎故君玉棺及太后元子骸骨,返葬于清化。禮畢,卽于本縣大同社寺居住。其詩有云:

佛祖遺來訓弟子,

皇天許作舊閒人。

壯哉!

十七年間,始終不變,黎從義臣有四,而侯之兄弟居其二,成[11]古人所謂罕見也。

夫讀聖賢之書,行聖賢之道,侯之謂乎?

我朝皇帝嘉其志節,屢年恩頒,閒養餘年,侯遂其願。

乙丑九月十六日,侯卒。

超嶺侯遵其遺囑,上京晉謁,再乞回貫安養,日久與親舊娛樂者,嘗粘[謝天清福]四字以見志。

十年辛未三月初八日,以夀終於家。

噫!二侯故家令胄,體國遺臣,進退之間,忠孝無慊,其操守爲何如?

蓋有長派侯爲之兄,所以識超嶺侯之志; 有超嶺侯爲之弟,益以白長派侯之忠。

一間兄弟,忠義攸兼,有以光前史,而揚後來,炳炳燐燐,視列先君子真無忝矣。

爰祀其事,以夀于石云。

皇朝嘉隆十二年癸酉復月榖日,黎昭統丁未正進士阮堅甫撰。

Dịch âm

Cố Lê triều tòng thần mộ bi

Hầu tính Lê, Siêu Loại huyện Đại Mão xã nhân, Lê triều Cảnh Hưng Quí Hợi khoa tiến sĩ, Hình bộ tả thị lang Đại Nham Hầu chi trủng tử, danh Quýnh. Hầu chi đường đệ Lê Trị, nãi Lê triều Cảnh Hưng Mậu Thìn khoa tiến sĩ, Lạng Sơn tổng trấn Tú Xuyên Hầu chi đệ ngũ nam dã.

Hầu dĩ chưởng thị vệ hữu công, luỹ phong Trường Phái Hầu, Lê Trị phụng chấp cơ đích hữu công, tứ tước Siêu Lĩnh Hầu.

Chiêu Thống nguyên niên thập nhị nguyệt sóc, Tây Sơn tương binh xâm bạc Thăng Long thành, ngự giá bắc tốn vu Lạng Giang, hầu suất gia đinh dực giá, tự bắc nhi đông. nhị niên Mậu Thân nhị nguyệt, hầu phụng cân tầm thái hậu dữ nguyên tử vu Cao Bình, vi Tây binh sở bách, toại phụng đầu nội địa chi Nam Ninh phủ.

Sự văn Đại Thanh hoàng đế, đặc mệnh hầu tòng Quảng Đông lộ hồi thám quốc tình. Ký phục, nãi mệnh Lưỡng Quảng tổng đốc Tôn Sĩ Nghị đề sư cứu viện. Thập nhất nguyệt khắc phục kinh thành, thừa dư phản chính. Thời dụng phạp binh thiểu, hầu dĩ bình chương sự tổng đốc binh hướng, Siêu Lĩnh Hầu bắc sứ nghinh thái hậu dữ nguyên tử chí tự Nam Ninh.

Tam niên Kỷ Dậu chính nguyệt, Tây Sơn binh tiềm chí, Tôn tổng đốc binh hội thoái bắc tẩu, ngự giá diệc tùng bắc hạnh. Tỉ chí Yên Kinh, tất lệnh thế phát thụ phong, vô phục hữu tái viện ý. Hầu cư quốc mộ binh khoả lương, dự tiên thố trí, nhật vọng viện binh tái lai.

Thiệp hạ tồ đông, cánh mô /vô thanh tức, nãi dữ đệ Lê Trị cập đồng chí Trịnh Hiến, Lý Bỉnh Đạo đẳng tiến quan, mưu đồ khôi phục. Ký chí, cánh bất hứa diện quân, bách chi thế phát cải trang. bất thụ, câu cấm vu ngục, phàm thập tam niên, hiếp uy lợi dụ, chung bất năng đoạt. Hầu thường hữu thi vân:

Thân khốn thập niên hoài tố tiết,

Mệnh tuỳ nhất phát biểu đan trung.

Kỳ kiến ư văn mặc giả phi nhất. Lê cố quân tại nhật, mệnh lục kỳ từ, nhan viết: Tứ Công Thi Tập. Bắc triều xưng vi Lê Gia Tứ Nghĩa Sĩ.

Đãi Gia Long nguyên niên Nhâm Tuất, Tây Sơn tặc ký bình, hầu trưởng tử Doãn Trác phụng tòng sứ bộ lai thám thanh tức. Tam niên Giáp Tý, bắc triều tư giao hồi quốc, nãi đắc toàn phát dĩ qui. Tái nguyện phụng nghinh Lê cố quân ngọc quan cập thái hậu nguyên tử hài cốt, phản táng vu Thanh Hoá. Lễ tất, ký vu bản huyện Đại Đồng xã tự cư trú. Kỳ thi hữu vân:

Phật tổ di lai huấn đệ tử,

Hoàng thiên hứa tác cựu nhàn nhân.

Tráng tai !

Thập thất niên gian, thuỷ chung bất biến, Lê tòng nghĩa thần hữu tứ, nhi hầu chi huynh đệ cư kỳ nhị, thành cổ nhân sở vị hãn kiến dã.

Phù độc thánh hiền chi thư, hành thánh hiền chi đạo, hầu chi vị hồ ?

Ngã triều hoàng đế gia kỳ chí tiết, lũ niên ân ban, nhàn dưỡng dư niên, hầu toại kỳ nguyện.

Ất Sửu cửu nguyệt thập lục nhật, hầu tốt.

Siêu Lĩnh Hầu tuân kỳ di chúc, thướng kinh tấn yết, tái khất hồi quán an dưỡng, nhật cửu dữ thân cựu ngu lạc giả, thường niêm “tạ thiên thanh phúc” tứ tự dĩ kiến chí.

Thập niên Tân Mùi tam nguyệt sơ bát nhật, dĩ thọ chung ư gia.

Y ! Nhị hầu cố gia lệnh trụ, thể quốc di thần, tiến thoái chi gian, trung hiếu vô hiềm, kỳ thao thủ vi hà như ?

Cái hữu Trường Phái Hầu vi chi huynh, sở dĩ chí Siêu Lĩnh Hầu chi chí; hữu Siêu Lĩnh Hầu vi chi đệ, ích dĩ bạch Trường Phái Hầu chi trung.

Nhất gian huynh đệ, trung nghĩa du kiêm, hữu dĩ quang tiền sử, nhi dương hậu lai, bính bính lân lân, thị liệt tiên quân tử chân vô thiểm hĩ.

Viên tự kỳ sự, dĩ thọ vu thạch vân.

Hoàng triều Gia Long thập nhị niên Quí Dậu phục nguyệt cốc nhật, Lê Chiêu Thống Đinh Mùi chính tiến sĩ Nguyễn Kiên Phủ soạn.

Dịch nghĩa

Bia mộ tòng thần triều Lê cũ

Hầu họ Lê tên Quýnh là người huyện Siêu Loại, làng Đại Mão. Hầu là con trưởng của tiến sĩ khoa Quí Hợi đời Cảnh Hưng triều Lê là Hình Bộ Tả Thị Lang Đại Nham Hầu [tức Lê Doãn Giản].

Đường đệ [em họ] Lê Trị là con trai thứ năm của Tú Xuyên Hầu, tổng trấn Lạng Sơn, tiến sĩ khoa Mậu Thìn đời Cảnh Hưng triều Lê. Hầu cai quản thị vệ có công nên được phong Trường Phái[12] Hầu còn Lê Trị có công đi theo hộ giá nên được ban tước Siêu Lãnh Hầu.

Ngày sóc tháng Chạp năm Chiêu Thống nguyên niên [Đinh Mùi], Tây Sơn đem binh xâm phạm kinh thành Thăng Long, nhà vua phải chạy lên phương bắc lánh ở Lạng Giang, Hầu đem gia binh bảo vệ từ đất Bắc chạy sang xứ Đông. Tháng Hai năm Chiêu Thống thứ hai [Mậu Thân], Hầu được lệnh đi tìm thái hậu và nguyên tử ở Cao Bình, bị quân Tây Sơn bức bách nên phải chạy vào phủ Nam Ninh thuộc nội địa [tức đất Trung Hoa].

Nội vụ tâu lên hoàng đế Đại Thanh nên đặc biệt sai Hầu đi theo đường Quảng Đông về thám thính tình hình trong nước. Khi quay trở lại, vua Thanh sai tổng đốc Lưỡng Quảng Tôn Sĩ Nghị đem binh cứu viện.

Tháng Một lấy lại kinh thành, vua Lê trở về nắm quyền. Lúc đó quân dụng thiếu thốn, binh lính ít ỏi nên Hầu được giao cho chức Bình Chương Sự đốc thúc việc quân nhu, còn Siêu Lãnh Hầu thì được sai đi sang đất bắc nghinh đón thái hậu và nguyên tử ở Nam Ninh.

Tháng Giêng năm Chiêu Thống thứ 3 [Kỷ Dậu], quân Tây Sơn lẻn tới, tổng đốc Tôn Sĩ Nghị bị thua chạy về phương bắc, nhà vua cũng sang theo. Khi đi gần tới Yên Kinh thì có lệnh phải cắt tóc để được phong chức, không còn có ý giúp đỡ nữa.

Hầu ở trong nước mộ binh tích lương, sắp đặt mọi việc để chờ viện binh quay lại. Hết hạ sang đông, vẫn không nghe tin tức gì nên cùng em là Lê Trị và các đồng chí Trịnh Hiến, Lý Bỉnh Đạo tiến quan để mưu tính chuyện khôi phục.

Khi sang đến nơi rồi thì bị ép phải cắt tóc, thay đổi y phục nhưng Hầu không chịu nên bị giam vào trong ngục. Trong 13 năm, dù lấy uy mà ép, lấy lợi mà dụ nhưng vẫn không khuất phục được. Hầu thường ngâm thơ rằng:

Thân khốn thập niên hoài tố tiết

Mệnh tuỳ nhất phát biểu đan trung

Thân phải tù đày mười năm vì giữ khí tiết trắng

Số mệnh theo mái tóc để tỏ tấm lòng son

Những câu như thế trong văn chương không phải chỉ một lần. Khi vua Lê còn sống đã sai người sao lục các câu đó thành một tập nhan đề “Tứ Công Thi Tập” còn triều đình phương bắc thì gọi là “Bốn Nghĩa Sĩ họ Lê”.

Mãi đến năm Nhâm Tuất, Gia Long nguyên niên, sau khi bình xong giặc Tây Sơn, con trưởng của Hầu là Doãn Trác được sai đi theo sứ bộ để thăm hỏi tin tức. Năm Giáp Tí, Gia Long thứ 3, triều đình phương bắc thuận cho về nước, Hầu được mang theo mái tóc trở về. Lại xin được mang ngọc quan của vua Lê và hài cốt thái hậu, nguyên tử đem về táng tại Thanh Hoá.

Sau khi tang lễ xong, Hầu liền về chùa xã Đại Đồng bản huyện cư ngụ. Có thơ rằng:

Phật tổ di lai huấn đệ tử

Hoàng thiên hứa tác cựu nhàn nhân

Phật tổ để lại dạy đệ tử

Hoàng thiên vẫn cho người cũ được sống nhàn

Thật là hùng tráng thay!

Trong mười bảy năm, trước sau không dời đổi, nghĩa thần nhà Lê đi theo vua có bốn người thì anh em của Hầu đã chiếm hai, thành một việc xưa nay ít thấy. Phàm những ai đọc sách thánh hiền, đi theo đạo thánh hiền thì phải như Hầu vậy.

Hoàng đế triều ta ngợi khen khí tiết, ban ơn nhiều năm cho hưởng nhàn lúc cuối đời để Hầu được toại nguyện.

Ngày 16 tháng Chín năm Ất Sửu, Hầu qua đời. Siêu Lãnh Hầu tuân theo di chúc, về kinh yết kiến hoàng đế rồi xin về quê an dưỡng, vui vầy với thân thuộc nhiều năm, thường dán bốn chữ “Tạ Thiên Thanh Phúc” để tỏ chí mình.

Ngày mồng 8 tháng Ba năm Tân Mùi, Gia Long thứ 10, ông chết già ở nhà.

Ôi! Cả hai Hầu đều thuộc dòng thế gia, di thần nước lớn, trong điều tiến thoái, trung hiếu không hiềm thì giữ gìn như thế nào? Ấy là vì Trường Phái Hầu là anh, biết cái chí của Siêu Lãnh Hầu. Lại nữa Siêu Lãnh Hầu là em, làm sáng tỏ cái trung của Trường Phái Hầu.

Hai anh em như thế, trung nghĩa kiêm toàn không những làm rạng vẻ sử đời trước mà còn cho cả đời sau, vằng vặc bừng bừng, thật không thẹn với các vị quân tử.

Nay ghi lại để khắc lên trên đá.

Cốc nhật phục nguyệt năm Quí Dậu, hoàng triều Gia Long thứ 12, chính tiến sĩ triều Lê Chiêu Thống Nguyễn Kiên Phủ soạn.

Ngoài bài văn bia Nam Thiên Trung Nghĩa Thực Lục cũng còn chép những câu đối [có lẽ do người đồng thời phúng viếng]:

華夏春秋留姓字

泉臺面目見君親

Hoa hạ xuân thu lưu tính tự

Tuyền đài diện mục kiến quân thân

Sử sách Trung Hoa để lại tên tuổi

Dưới suối vàng còn mặt mũi thấy nhà vua

名節鳴千古

風標作十夫

Danh tiết minh thiên cổ

Phong tiêu tác thập phu

Danh tiết vang mãi đến nghìn năm

Phong cách có thể bằng mười người

山河正氣文丞相

拘禁貞心蘇子卿

Sơn hà chính khí Văn thừa tướng

Cẩu cấm trinh tâm Tô tử khanh

Chính khí sơn hà như Văn thừa tướng

Tấm lòng trinh giữ được như Tô tử khanh

有誓往周鼎,寧甘屈宋轅

君親如可報,生死安足論[?]

名節俱千古,忠賢萃一門

貞砥留姓字,正氣浩如存

Hữu thệ vãng Chu đỉnh

Ninh cam khuất Tống hiên

Quân thân như khả báo

Sinh tử an túc luận

Danh tiết câu thiên cổ

Trung hiền tuỵ nhất môn

Trinh để lưu tính tự

Chính khí hạo như tồn

Đã thề giữ đỉnh nhà Chu

Nên đành theo vua như đời Tống

Thờ vua nếu báo được

Sống chết đâu có tính đến

Danh tiết còn mãi đến nghìn năm

Một nhà có cả trung lẫn hiền

Kiên trinh giữ mãi để lại tên tuổi

Chính khí mênh mông vẫn còn đó

clip_image003

clip_image005

clip_image007

Tóc đuôi sam [queue] và cạo nửa đầu trước theo qui định Mãn Thanh

được coi như một biểu tượng thần phục triều đình

Nguồn: Jonathan D. Spence và Annping Chin

The Chinese Century: A Photographic History of the Last Hundred Years [1996] tr. 18-9

(Còn một kỳ.)


[1] Trần Khánh Hạo chủ biên, Việt Nam Hán Văn Tiểu Thuyết Tùng San, Lịch Sử Tiểu Thuyết Loại, đệ ngũ sách: Hoàng Lê Nhất Thống Chí, (Ðài Loan: Học Sinh thư cục, 1987) tr. 241

[2] Tên khác của Lê Quýnh.

[3] Người đi trong phái đoàn nhưng chỉ đảm trách những việc không quan trọng

[4] Phan Thúc Trực. Quốc Sử Di Biên [1965] tr. 39-40 (NDC dịch)

[5] Tức Gia Cát Lượng, quân sư của Thục Tiên Chúa Lưu Bị đời Tam Quốc.

[6] Tức Trương Lương, quân sư của Hán Cao Tổ Lưu Bang.

[7] Quốc Sử Di Biên [1965] tr. 40-1 (NDC dịch)

[8] Quốc Sử Di Biên [1965] tr. 50 (NDC dịch)

[9] Trong sách viết nhầm thành chữ hà [河]

[10] Trong sách viết nhầm thành chữ thụ [授]

[11] Trong sách viết nhầm thành chữ thành [誠]

[12] Trong Nam Thiên Trung Nghĩa Thực Lục chép là Trường Hà Hầu, ở đây chúng tôi đổi sang Trường Phái Hầu cho thống nhất với các tài liệu khác.

bài đã đăng của Nguyễn Duy Chính


2 bình luận »

Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)
porn ficken russian porn japanese porn watch porn watch sex izle sex izle anal porn tube amateur porn watch