Trang chính » Alice Munro và Thể Loại Truyện Ngắn, Bàn Tròn: Văn Học Nghệ Thuật, Chuyên Đề Email bài này

Alice Munro: Truyện ngắn hay, nhưng chưa thể là bậc thầy

2 bình luận ♦ 4.04.2014

 

 

1) Trong giới văn học và xuất bản ở Mỹ hiện nay, tuy trong thời đại internet và social media, truyện ngắn không được đánh giá trị cao như truyện dài. Những nhà văn trẻ thường bắt đầu với truyện ngắn như một cách “học nghề,” nhưng sau đó bước chân vào truyện dài như một lẽ dĩ nhiên. Alice Munro, Raymond Carver, Lydia Davis và Lorrie Moore được coi là ngoại lệ, vì đây là những nhà văn nổi tiếng với những cải cách trong thể truyện ngắn. Hiện số mệnh truyện ngắn trong giới văn học Việt trong và ngoài nước ra sao? Truyện ngắn có được giới độc giả Việt đánh giá cao hơn truyện dài không? Tại sao?

Trong văn chương, tôi vẫn nghĩ rằng truyện ngắn là thể loại khó học hỏi, khó nắm bắt, và khó viết nhất, nên số người viết thì nhiều, mà số người thành công cực ít. Thật khó để luận bàn xem truyện ngắn của Alice Munro hay đến mức độ nào? Hoặc sự hay đó có đến mức để làm thước đo cho những nền văn học còn bên lề, ví dụ như Việt Nam, hay không? Bằng sức đọc hạn hẹp của mình, tôi thấy truyện ngắn của Alice Munro thuộc loại hay, nhưng chưa thể là bậc thầy, theo nghĩa có thể sánh với các bậc thầy truyện ngắn của nhân loại.

Nếu nhìn theo lối vật lý, thì việc đọc một truyện ngắn có vẻ nhanh hơn đọc một tiểu thuyết, nhưng đã là độc giả thực thụ thì ai lại cầm một tập truyện ngắn lên chỉ để đọc có một hai truyện, nên cũng mất thời giờ lắm. Một ngòi bút dửng dưng như Raymond Carver, với tập truyện ngắn Thánh đường (Cathedral) chẳng hạn, chỉ khoảng 300 trang cho 12 truyện ngắn thôi, nhưng đọc mất thời gian hơn khá nhiều tiểu thuyết dài, thuộc dạng hay, ví dụ Ông trăm tuổi trèo qua cửa sổ và biến mất (The Hundred-Year-Old Man Who Climbed Out the Window and Disappeared) của Jonas Jonasson, khoảng 515 trang.

Cái thuận lợi của việc đọc tiểu thuyết là nó thường không buộc ta liên tục thay đổi tâm thế, còn truyện ngắn thì khá mệt, nó thay đổi liên tục. Theo tôi, đọc tiểu thuyết dễ hơn đọc truyện ngắn, đây là lý do chính khiến tiểu thuyết vẫn được ưa thích nhiều hơn. Cũng xin nói rộng ra, phần lớn các tiểu thuyết được xem là “bán chạy” (best-seller) trên các báo này, tạp chí kia, phần nhiều là văn chương hạng hai, không đáng đọc, chưa nói nhiều quyển chỉ là loại “cận-văn học” (paraliterature). Nhưng dưới góc độ kinh doanh và truyền thông, tiểu thuyết có vẻ dễ biến thành món hàng nóng hổi hơn, còn truyện ngắn thì rất khó. Được trao giải Nobel văn chương, truyện ngắn của Alice Munro tại Việt Nam cũng chẳng hề nóng sốt hơn, trong khi với tiểu thuyết Mạc Ngôn thì khác, vốn được dịch và bán khá nhiều trước đó, nhưng sau khi xướng tên, lại được bán ồ ạt hơn.

Hiện số mệnh truyện ngắn trong giới văn học Việt trong và ngoài nước như sao? Đây là một câu hỏi rất khó trả lời, vì chúng ta chưa có một thống kê cụ thể về xuất bản, về bán hàng, nghiên cứu, phê bình… Theo tò mò riêng thì dường như trong các khoa văn chương tại các đại học Việt Nam mà tôi có quen, tiểu thuyết vẫn được chọn làm luận văn, luận án nhiều hơn truyện ngắn. Nhưng cũng có vài trường hợp ngoại lệ, như Nguyễn Ngọc Tư chẳng hạn, thì ngắn hút khách hơn dài, dù tiểu thuyết Sông của cô này đã bán khoảng 25 ngàn quyển.

Có một nghịch lý là trong nhà trường phổ thông, truyện ngắn thường được học nhiều hơn, nhưng kết quả thì sự yêu mến có vẻ lại yếu hơn. Điều này có thể đến từ mấy lý do: Truyện ngắn chọn dạy chưa xứng tầm? Cách dạy méo mó, bậy bạ? Để hiểu truyện ngắn thì khó hơn tiểu thuyết rất nhiều? Và cũng là cảm thức chung như đã nói: Đọc tiểu thuyết dễ hơn truyện ngắn!

Còn: Truyện ngắn có được giới độc giả Việt đánh giá cao hơn truyện dài không? Chịu thua. Tôi không đại diện hết họ nên không thể biết được. Việc nghiên cứu, thống kê xu hướng đọc và thẩm mỹ đọc của độc giả Việt hiện nay cũng chưa có gì cụ thể, nên càng không thể rút ra kết luận. Có một điều dễ thấy là người Việt hiện nay rất ít đọc sách, trong đó có sách văn chương, nên một tuyệt tác như Một mùa thơ dại (たけくらべ [Takekurabe]) của Higuchi Ichiyō (1872 – 1896) cũng chỉ in tới lui một hai ngàn quyển, mà bán trầy trật. Nếu được phép so sánh, trước các truyện ngắn của Higuchi Ichiyō, cùng nữ lưu với nhau, thì Alice Munro là một sự thụt lùi đáng kể.

2) Chúng ta có Cung Tích Biền, Trần thị Ngh., Lê thị Huệ, Nguyễn Thụy Long, Nguyễn Xuân Hoàng, Sơn Nam, Bình Nguyên Lộc, Trần Vũ, Nguyễn thị Thảo An, Phạm thị Hoài, Linh Đinh, Lâm Chương (có thể coi Lâm Chương như một nhà văn viết novella – thể truyện giữa “ngắn” và “dài”), McAmmond Nguyễn thị Tú, Lê Minh Hà, Lê Minh Phong, v.v… là những nhà văn đặc sắc ở thể truyện ngắn. Yếu tố nào là yếu tố chung của các nhà văn viết truyện ngắn đã tạo ra sự chú ý từ độc giả? Ngoài ra, yếu tố nào là đã tạo cho họ vị trí cá biệt trên văn đàn? Những yếu tố này có phải cũng là những yếu tố định nghĩa cho sự sinh tồn của truyện ngắn?

Tôi không nghĩ tất cả những cái tên vừa kể đều là “những nhà văn đặc sắc ở thể truyện ngắn”, nhưng xin miễn bình luận cụ thể những ai là không xứng đáng; và cả về tiêu chí bình chọn. Trong số này, tôi thích Bình Nguyên Lộc, Cung Tích Biền, Trần Thị NgH., Phạm Thị Hoài, Trần Vũ, Đinh Linh, Lê Minh Phong…, vì cách viết của họ văn minh, có tư tưởng trong cả văn phong và câu chuyện.

Tôi cũng muốn nhắc lại tập Những truyện ngắn hay nhất của quê hương chúng ta (Nxb Sóng, Sài Gòn, 1973), nơi có những cái tên mà trong tuyển tập này và trong suốt sự nghiệp, họ đã viết những truyện ngắn rất hay. Trừ Bình Nguyên Lộc, Cung Tích Biền đã nhắc, tập này còn: Nhã Ca, Võ Phiến, Nguyễn Thị Hoàng, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Nguyễn Đức Sơn, Tô Thùy Yên, Thanh Tâm Tuyền, Mai Thảo, Hồ Hữu Tường, Nhất Hạnh, Trùng Dương, Túy Hồng, Vũ Khắc Khoan, Thế Uyên, Nguyễn Đình Toàn, Sơn Nam…

Sau này tôi thích một số truyện ngắn của Trang Thế Hy, Trần Kim Trắc, Kiệt Tấn, Bùi Hoằng Vị, Phạm Lưu Vũ, Vương Văn Quang, Y Ban, Đỗ Phước Tiến, Trần Nhã Thụy, Nhật Chiêu, Vũ Thành Sơn, Trần Thùy Mai, Đỗ Kh., Mai Sơn, Trà Đóa, Nam Lê, Nguyễn Vĩnh Nguyên, Lynh Bacardi, Vũ Lập Nhật (còn ký A Dĩ)… Tất nhiên còn thiếu vài người khác, nhưng do không có sẵn danh sách, hoặc quên, nên không thể kể ra đây. Những nỗ lực trong việc dịch và giới thiệu truyện ngắn của Phạm Viêm Phương cũng rất đáng lưu ý.

3) Có cần nên có ranh giới giữa truyện ngắn và truyện dài? “Ngắn” và “dài” nên là bao nhiêu trang? Một truyện ngắn có thể mô tả một thời gian dài tương đương như truyện dài (10, 20, 50 năm), hay phải ngắn hơn? Nên chú ý việc Alice Munro đã “phá giới” về yếu tố thời gian, không gian, và quan điểm cá nhân của các nhân vật. Trong các truyện “Axis,” The Bear Comes Over the Mountain,” và “Runaway,” Alice Munro cho độc giả trải nghiệm một quãng thời gian dài trong đời sống của các nhân vật chính. Bà không áp dụng một quan điểm (point of view) nhất định trong cách kể truyện, mà di chuyển từ cái nhìn của từng nhân vật, bất kể đàn ông hay đàn bà, làm ta nghĩ đến phim Rashomon của Kurosawa. Trong bối cảnh văn học Việt Nam, đã có nhà văn nào “phá giới” giữa quy luật truyện ngắn và truyện dài chưa? Tại sao chúng ta chưa chịu phá giới thường xuyên hơn?

Có cần nên có ranh giới giữa truyện ngắn và truyện dài? Theo tôi là cần, dù không cụ thể số trang hay số chữ. Riêng giới lý luận thì vẫn tranh luận miên man về điều này, mà theo thuyết nào cũng thấy có lý.

Ta có thể gọi Thư chết (Lettre Morte) của Linda Lê là gì khi nó dài hơn 100 trang (tiếng Việt) mà không có một lần xuống dòng? Thơ xuôi chăng? Truyện ngắn hay truyện dài? Thư dài hay tiểu thuyết ngắn? Viết tầm cỡ như thế này thì thể loại đã gần như bị xóa nhòa đến vô nghĩa.

Franz Kafka (1883 – 1924) hay Kawabata Yasunari (1899 – 1972) có những truyện cực ngắn chỉ một hai câu, nhưng đọc để thâu tóm được nó thì không dễ dàng gì.  Hai vị này còn có những truyện ngắn khá dài, chưa nói tiểu thuyết, đọc vẫn khó và thú vị tương đương. Vậy là sao?

Theo tôi, nhìn chung truyện ngắn thế giới đang tụt lùi, ngay cả với Alice Munro cũng vậy, hay thì hay, nhưng nghe ra ngậm đắng nuốt cay thế nào ấy…

Nếu so về khả năng diễn tả biến chuyển tâm lý trong nhân vật truyện ngắn, Alice Munro còn cách khá xa Dazai Osamu (1909 – 1948?); còn khả năng “phá giới” thì Akutagawa Ryūnosuke (1892 – 1927) mới là bậc thầy. Trên Wikipedia mở tiếng Việt có một nhận xét xác đáng về Ryūnosuke: “là thủ lĩnh của trường phái văn học tân hiện thực (shingenjitsushugi) Nhật Bản, một khuynh hướng dung hòa được những tinh hoa lý trí của chủ nghĩa tự nhiên (shizenshugi) và sắc màu lãng mạn phóng túng của chủ nghĩa duy mỹ (tanbishugi), thể hiện một phong cách riêng biệt, hòa trộn giữa hiện thực và huyền ảo bằng bút pháp hoa mỹ mà súc tích.”

Tại sao chúng ta chưa chịu phá giới thường xuyên hơn? Chịu thua!

4) Trong một cuộc phỏng vấn với tạp chí The Paris Review, Alice Munro nói rằng “[Hồi còn trẻ] tôi đã mê đọc Eudora Welty, Flannery O’Connor, Katherine Ann Porter, Carson McCullers. Tôi nghĩ nhà văn đàn bà có khả năng viết về những điều quái dị, hoặc những chuyện bên lề …. Còn tiểu thuyết vĩ đại trong giòng chính về hiện thực là giang sơn của đàn ông.” (“I loved Eudora Welty, Flannery O’Connor, Katherine Ann Porter, Carson McCullers. There was a feeling that women could write about the freakish, the marginal…. [But] the mainstream…. big novel about real life was men’s territory,” http://www.theparisreview.org/interviews/1791/the-art-of-fiction-no-137-alice-munro.) Hiện tượng “nhà văn đàn bà viết về những điều quái dị hoặc chuyện bên lề” và đàn ông “viết về những đề tài vĩ đại” có phản ảnh bối cảnh văn học Việt Nam của ngày hôm nay hay không? Hay hiện tượng này đã được đảo ngược, với một số nhà văn đàn ông Việt viết theo thể magic realism như một cách theo mốt, nhằm tránh bị kiểm duyệt, hoặc do nỗi “cô đơn” trong một thực tại nghiệt ngã của những biến cố xã hội và lịch sử mà Gabriel García Marquez đã đề cập trong diễn văn nhận giải văn chương Nobel năm 1982 của ông?

Tôi hoàn toàn chia sẻ nhận định của Alice Munro, nhưng tôi không tin, và cũng không biết tại sao như vậy.

Khi nói về những “quái dị”, “huyễn tưởng”, “huyền ảo”, “bên lề”… trong truyện ngắn, tôi nhớ về Jorge Luis Borges (1899 – 1986), Isaac Asimov (1920 – 1992), thậm chí Chuck Palahniuk (1962) và nhiều người khác, trước Alice Munro. Và có thể không cần kể Alice Munro vào nhóm này.

5) Liên hệ với câu hỏi (4) ở trên. Những điều “quái dị hoặc bên lề” ở vùng Ontario của Alice Munro có còn “quái dị” khi áp dụng vào bối cảnh văn chương Việt Nam hay không? Tại sao một số độc giả Việt Nam nghĩ rằng truyện của Alice Munro có phần “ảm đạm”? Định nghĩa “ảm đạm.” Hiện nay, ai là những nhà văn “ảm đạm” của Việt Nam?

Tôi không biết có thể áp dụng được không?

Tôi cũng không quan tâm đến một số độc giả Việt Nam như câu hỏi đặt ra, vì văn chương phải có mùi vị riêng, “ảm đạm” là một mùi vị chung, nếu Alice Munro viết nó thành mùi vị riêng thì đó là tài nghệ của bà ấy.

6) Yếu tố địa lý – vùng Ontario ở miền Trung của Canada – là bối cảnh chính trong nhiều truyện ngắn của Alice Munro. Yếu tố không gian/địa lý có quan trọng trong truyện ngắn Việt Nam hay không? Tại sao (không hay có)?

Cái này còn tùy tác giả chọn lựa. Chọn đúng thì rất quan trọng (ví dụ Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam, Nguyễn Ngọc Tư… với miền Tây Nam bộ; Nam Cao, Nguyễn Huy Thiệp… với miền Bắc; Nam Lê với miền… vượt biên; Phạm Lưu Vũ với miền… điển xưa tích cũ), chọn sai thì đi tong.

Hay như tập truyện ngắn Dịch cát (1966) của Nguyễn Văn Xuân, chọn lọc 9 truyện viết từ năm 1956 đến 1966 là một phác thảo văn hóa nghề và văn hóa vùng miền thú vị.

Yếu tố không gian/địa lý có quan trọng trong truyện ngắn Việt Nam hay không? Đây là một trong những chủ đề thích được biến thành đề tài nghiên cứu, luận văn, luận án… ở Việt Nam. Alice Munro chọn vùng Ontario, có những truyện rất thành công về phác họa văn hóa – lối sống vùng, nhưng không phải tất cả, vì có những truyện chỉ mượn bối cảnh vùng Ontario, thay các vùng khác vào, câu chuyện không có gì thay đổi. Ví dụ truyện ngắn rất hay Nín lặng (Silence), là nỗi dằn xé của người mẹ Juliet trong nỗ lực nối lại quan hệ với cô con giá Penelope tuổi đôi mươi, cũng lấy bối cảnh vùng Ontario, nhưng thay vô số vùng đô thị khác vào đây cũng sẽ ổn thỏa. Vì chuyện đi vào biến chuyển nội tâm, chứ không phải ngoại cảnh, giống như Nguyễn Du viết: “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”.

7) Trong cuộc phỏng vấn với Paris Review, Alice Munro cũng thố lộ bà đã bị băn khoăn/phiền não khi đọc D.H. Lawrence lần đầu tiên trong đời. Bà thường bị xáo động bởi cách các nhà văn đàn ông định nghĩa khái niệm tình dục của phụ nữ. (“I was terribly disturbed when I first read D. H. Lawrence. I was often disturbed by writers’ views of female sexuality. “) Bà tự chất vấn “làm sao tôi có thể thành một người viết khi tôi là đối tượng [tình dục] của các nhà văn khác” (“[H]ow I can be a writer when I’m the object of other writers?”). Ta nghĩ sao về những băn khoăn của Alice Munro nếu đối chiếu với đề tài tình dục trong văn học Việt Nam ở hải ngoại và trong nước? Nhà văn nữ viết truyện ngắn về đời sống phụ nữ Việt ở trong và ngoài nước hiện có còn bị coi là “đối tượng” của các cây bút đàn ông khác? Tại sao?

Viết về nỗi lòng người nữ trong quan hệ với khái niệm dục tình của đàn ông, Alice Munro ngày nay chắc gì đã sánh được, chứ đừng nói vượt được Nguyễn Thị Thụy Vũ từ 50 năm trước.

Vấn đề nữ quyền tại Việt Nam trong lịch sử và hiện tại, theo tôi, có rất nhiều dị biệt, lý thú, không thể dùng chung thước đo nghiên cứu kiểu phương Tây. Nhưng với câu hỏi như trên đây, với tôi là quá khó, nên chịu thua.

bài đã đăng của Lý Đợi


2 bình luận »

  • black raccoon viết:

    Có một yếu tố rất quan trọng mà dường như người VN ít để ý. Đó là yếu tố thời gian dành cho người đoạt giải Nobel văn chương hàng năm. Khôi Nguyên Văn Chương là người vượt trội hơn cả về nghệ thuật viết văn trong “năm đó” thôi.

    Mỗi một tác giả khôi nguyên còn được ban tổ chức tóm tắt đặc điểm văn chương của họ vào một câu ngắn. Với Alice Munro là: “master of the contemporary short story.” Người viết truyện ngắn thời hiện đại bậc thầy. Dĩ nhiên của năm 2013. Biết đâu hiện tại đã có người viết hay hơn bà(?)

    Trước đây, nhà văn Duyên Anh trên tuần báo Tuổi Ngọc đã đặt 6 câu hỏi về truyện ngắn, gởi đến khoảng 20 nhà văn nổi tiếng Miền Nam đương thời. Tôi có cơ duyên mượn bộ TN từ người quen và đọc được. Ông Duyên Anh đưa câu hỏi: “Truyện ngắn nào của thế giới và VN mà ông/bà cho rằng hay nhất?”

    Nhà văn Nguyễn Mạnh Côn trả lời ngay, truyện Ma Đậu của Bùi Hiển là hay nhất. Duyên Anh thì cho rằng truyện Con Trâu của Trần Tiêu. Sơn Nam trả lời ông thích nhất truyện Cõng Vua của Bình Nguyên Lộc. v.v…

    Sau đó thì Duyên Anh cho đăng từng truyệt một mà các nhà văn đã đưa ra ý kiến. Thú thật, tôi học được rất nhiều, biết được một truyện ngắn hay và hay làm sao.

    http://www.nobelprize.org/nobel_prizes/literature/laureates/

  • Tin thứ Bảy, 05-04-2014 « BA SÀM viết:

    […] Alice Munro: Truyện ngắn hay, nhưng chưa thể là bậc thầy 04/04/2014 […]

Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)
porn ficken russian porn japanese porn watch porn watch sex izle sex izle anal porn tube amateur porn watch