Trang chính » Alice Munro và Thể Loại Truyện Ngắn, Chuyên Đề, Dịch Thuật, Sáng Tác, Sang Việt ngữ, Truyện ngắn Email bài này

Đam mê


♦ Chuyển ngữ:
0 bình luận ♦ 1.04.2014

 

Khi Grace đi tìm căn nhà nghỉ hè cúa gia đình Travers trong Lũng Ottawa, đã nhiều năm chị không ghé vùng này. Dĩ nhiên đã có thay đổi. Xa lộ 7 giờ đây nằm ngoài những thị trấn trước kia nó chạy ngang qua, và thẳng ở những khúc chị nhớ đã là đường cong. Đa số bản đồ không đủ chỗ để vẽ những hồ nhỏ ở vùng Shield của Canada. Thậm chí khi chị tìm thấy Hồ Sabot, hoặc nghĩ chị đã tìm thấy, dường như có quá nhiều đường nhỏ từ đường quận đến hồ, và rồi, khi chị chọn một lối, quá nhiều đường tráng nhựa cắt ngang lối ấy, với những cái tên chị không nhớ. Thực ra, khi chị ở đây hơn 40 năm về trước thì không có cái tên đường nào cả. Cũng không có lớp nhựa tráng – chỉ một con đường đất chạy về phía hồ, rồi một con đường khác ngẫu nhiên chạy dọc theo bờ hồ.

Giờ thì có một ngôi làng. Hoặc có lẽ là một khu ngoại ô, vì chị không thấy sở bưu điện hoặc thậm chí một tiệm tiện lợi ít hứa hẹn nhất. Khu dân cư nằm trên dãy 4,5 con đường dọc bờ hồ, với những căn nhà sát nhau trên những lô đất nhỏ. Một số chắc hẳn là nhà nghỉ hè – những cửa sổ đã được đóng nẹp gỗ như thường lệ cho mùa đông. Nhưng nhiều căn nhà khác dường như là nơi ở quanh năm – phần nhiều của những người chất đầy sân nhà với những bộ tập thể dục bằng nhựa, lò nướng ngoài trời, xe tập thể dục, xe gắn máy, và bàn picnic, nơi họ đang ngồi ăn bữa trưa hoặc uống bia trong ngày tháng 9 ấm áp hôm nay. Những người khác, không lộ diện – có lẽ những học trò hoặc những người hippie sống một mình – treo cờ hoặc giấy thiếc làm màn cửa. Những căn nhà nhỏ, rẻ tiền, không đến nỗi tệ, một số đã được sửa để chống đỡ mùa đông và một số thì không.

Lẽ ra Grace đã quay về nếu chị không nhìn thấy căn nhà hình bát giác với hình chạm trổ viền theo mái nhà và mỗi hai bức tường lại có một cửa. Căn nhà của gia đình Woods. Chị vẫn nhớ nó có 8 cửa, nhưng dường như nó chỉ có 4. Chị chưa bao giờ vào nhà để xem nếu nó chia thành phòng thì cách chia phòng như thế nào. Lúc ấy ông bà Woods đã già – như Grace bây giờ – và dường như không có con cái bạn bè nào thăm viếng. Căn nhà kiểu cổ, độc đáo của họ giờ đây có vẻ trơ trọi và sai lầm. Láng giềng sát hai bên nhà là những người với máy chơi nhạc cầm tay và những chiếc xe tháo gỡ dang dở, những đồ chơi và đồ giặt.

Căn nhà của gia đình Travers cũng thế, khi chị tìm thấy nó, xa hơn một phần tư dặm. Con đường giờ đây chạy quá căn nhà, thay vì chấm dứt ở đấy, và những căn nhà bên cạnh chỉ cách hàng hiên rộng vòng quanh nhà vài bộ Anh.

Nó là căn nhà đầu tiên kiểu ấy Grace nhìn thấy – một tầng, mái nhà phủ liền với mái hàng hiên – kiểu nhà khiến người ta nghĩ đến những mùa hè nóng nực. Từ ngày đó chị đã thấy nhiều căn nhà tương tự ở Úc.

Trước kia, người ta có thể chạy từ hàng hiên đến cuối khoảng đậu xe bụi bặm, qua một mảnh đất cát đầy cỏ và dâu dại bị dẫm đạp rồi nhảy – không, thực ra là lội – vào hồ. Giờ đây Grace gần như không thể thấy mặt hồ, vì một căn nhà lớn – một trong vài căn nhà ngoại ô thông thường ở đây với nhà để xe hai chỗ – đã mọc lên trên chính lối đi ấy.

Thực sự Grace tìm kiếm điều gì khi chị vào chuyến thám hiểm này? Có lẽ điều tệ nhất là tìm thấy đúng thứ chị nghĩ chị muốn tìm – mái nhà che chở, những cửa sổ lưới, hồ nước trước mặt, hàng cây phong và cây tuyết tùng và cây nhựa Gilead phía sau. Sự bảo tồn toàn hảo, quá khứ nguyên vẹn, khi với chị thì hoàn toàn không phải thế. Tìm thấy một thứ đã suy giảm đến mức ấy, vẫn tồn tại nhưng đã biến thành vô nghĩa – dường như là căn nhà gia đình Travers bây giờ, với những cửa sổ trên mái, màu sơn xanh đến giật mình – về lâu dài có thể ít đau đớn hơn.

Và nếu nó đã hoàn toàn biến mất thì sao? Chị có thể rối lên, nếu có người lắng nghe, chị có thể than vãn sự mất mát của nó. Nhưng chị cũng cảm thấy nhẹ nhõm vì rối rắm và ràng buộc xưa đã không còn, phải không?

o0o

Ông Travers đã xây căn nhà – đúng ra là thuê xây – làm món quà cưới bất ngờ cho bà Travers. Khi Grace thoạt nhìn thấy nó, có lẽ nó khoảng 30 năm tuổi. Con cái của bà Travers cách nhau nhiều năm. Gretchen, 28 hoặc 29, đã kết hôn và làm mẹ; Maury, 21, sắp học năm cuối cùng đại học, và Neil, giữa độ 30. Nhưng Neil không phải mang họ Travers. Anh là Neil Borrow. Trước kia bà Travers đã từng kết hôn, với người đàn ông lúc ấy đã mất. Trong vòng vài năm, bà đã kiếm sống và nuôi con bằng nghề giáo dạy tiếng Anh kinh doanh ở một trường thư ký. Ông Travers, khi nhắc đến giai đoạn này trong cuộc đời bà, cho nó là một thời gian khó khăn, gần như hình phạt khổ sai, một điều chưa hoàn toàn được đền bù bằng cả cuộc đời êm ấm ông vui lòng cung cấp.

Chính bà Travers thì không nói thế. Bà đã sống với Neil trong một căn nhà lớn chia thành những chung cư, gần đường rầy ở thị trấn Pembroke, và nhiều câu chuyện bà kể trong bữa ăn tối là về những sự kiện ở đấy, về những người mướn chung nhà, và người chủ nhà dân vùng Pháp Canada có giọng Pháp gay gắt và tiếng Anh lẫn lộn bà nhái lại. Những câu chuyện có thể có tựa đề, như những câu chuyện của James Thurber mà Grace đã đọc trong “Toàn tập khôi hài Mỹ,” không hiểu sao nằm trên kệ thư viện phía sau phòng học lớp 10 của cô. “Đêm bà lão Cromarty leo lên nóc nhà.” “Làm thế nào người đưa thư tán tỉnh Cô Flowers.” “Con chó ăn cá mòi.”

Ông Travers không bao giờ kể chuyện và ít nói trong bữa ăn tối, nhưng nếu ông thấyngười nào nhìn lò sưởi bằng đá chẳng hạn, ông có thể nói, “Có thích đá không?” và kể rằng ông đã tìm mãi loại đá granite màu hồng, vì có lần bà Travers đã bật thành tiếng khi nhìn thấy loại đá ấy ở một vết cắt trên đường. Hoặc ông có thể chỉ ra những đặc điểm không hẳn khác thường chính ông đã thêm vào căn nhà – ngăn tủ chén đĩa trong góc nhà bếp xoay ra ngoài, khoảng chứa đồ dưới bệ cửa sổ. Ông là một người cao, khòm với giọng nói nhỏ nhẹ và làn tóc thưa rẽ lệch trên đầu. Ông mang giày tắm khi ông vào nước, và dù ông không có vẻ mập khi mặc quần áo, một mảng thịt màu trắng thõng xuống qua cạp quần tắm của ông.

o0o

Grace đang làm việc mùa hè ở khách sạn tại Thác Bailey, ngay phía bắc của Hồ Sabot. Đầu mùa, gia đình Travers đã đến dùng bữa tối ở đấy. Cô không chú ý đến họ – tối ấy nhiều khách, và họ không ngồi bàn thuộc phần cô. Cô đang chuẩn bị bàn cho một nhóm khách mới khi cô nhận ra có người đang chờ để nói với cô.

Đấy là Maury. Cậu nói “Tôi muốn biết cô có bằng lòng đi chơi với tôi không?”

Grace hầu như không rời mắt khỏi muỗng nĩa. Cô nói “Bị thách à?” Vì giọng cậu cao và bối rối, vì cậu đơ người đứng đấy, như thể tự bắt buộc, và ai cũng biết đôi khi một nhóm thanh niên ở những nhà nghỉ sẽ thách nhau mời một cô hầu bàn đi chơi. Cũng không hẳn là trò đùa – họ sẽ đến, nếu được đồng ý, tuy đôi khi họ chỉ định đậu xe mà không đưa cô gái đi xem phim hoặc thậm chí uống cà phê. Thế nên sự chấp thuận của cô gái sẽ bị xem là đáng hổ thẹn hơn là cứng cỏi.

“Sao hả?” cậu khổ sở nói, và Grace ngừng tay nhìn cậu. Dường như cô đã nhìn thấy tất cả cậu trong khoảnh khắc ấy, con người thực của Maury. Sợ hãi, dữ dội, ngây thơ, kiên quyết.

“O.K,” cô nói nhanh. Có thể cô định nói O.K, bình tĩnh lại, tôi biết không phải anh bị thách. Hoặc, O.K, tôi sẽ đi chơi với anh. Chính cô cũng không rõ cô định nói gì. Nhưng cậu chấp nhận đấy là sự đồng ý, và thu xếp ngay – mà không hạ giọng hoặc chú ý đến những cái nhìn của thực khách chung quanh họ – để đón cô sau giờ làm việc vào tối ngày hôm sau.

Cậu đưa cô đi xem phim thực. Họ xem “Cha của cô dâu.” Grace ghét cuốn phim. Cô ghét những cô gái như nhân vật của Elizabeth Taylor – những cô gái nhà giàu được nuông chiều không bị yêu cầu làm điều gì ngoài việc nũng nịu và vòi vĩnh. Maury nói rằng đấy chỉ là cuốn phim hài, nhưng cô bảo cậu rằng đấy không phải là vấn đề. Cô không thể nói rõ vấn đề là gì. Ai cũng có thể cho rằng đấy là vì cô làm việc hầu bàn và nghèo quá không thể đi học đại học, và vì, nếu cô muốn một đám cưới như thế, cô sẽ phải dành dụm nhiều năm để tự trả. (Maury quả thực nghĩ như thế, và lập tức kính trọng cô, gần như là tôn thờ).

Cô không thể giải thích hoặc thậm chí hiểu rằng cô không cảm thấy ghen tỵ mà là giận dữ. Và không phải vì cô không thể mua sắm như thế hoặc ăn mặc như thế nhưng vì làm con gái là phải như thế. Đấy là điều đàn ông – người ta, bất cứ ai – nghĩ con gái phải như thế: xinh đẹp, được nâng niu chiều chuộng, ích kỷ, ngu ngốc. Con gái phải như thế thì mới được yêu. Rồi cô ta sẽ thành mẹ và sướt mướt tận hiến cho những đứa con thơ của mình. Không còn ích kỷ, nhưng vẫn ngu ngốc như thế. Mãi mãi.

Grace bực tức về chuyện này trong khi ngồi cạnh cậu trai đã yêu cô vì cậu đã tin – ngay lập tức – vào sự chính trực và độc đáo của tâm trí và linh hồn cô, thấy sự nghèo khó của cô như lớp sơn bóng lãng mạn phủ lên. (Cậu phải biết cô nghèo, không những chỉ vì việc làm của cô, mà còn vì giọng nói Lũng Ottawa của cô).

Cậu tôn trọng cảm giác của cô về cuốn phim. Quả thế, sau khi lắng nghe cô chật vật giải thích một cách giận dữ, cậu chật vật đáp lời. Cậu nói cậu nhận ra rằng đấy không phải điều rất đơn giản, rất nữ tính, như ghen tỵ. Cậu biết thế. Đấy là cô không chịu nổi sự phù phiếm, không bằng lòng giống như đa số các cô gái. Cô đặc biệt.

Lúc ấy Grace đang mặc một váy đầm kiểu ballerina màu xanh dương đậm, áo trắng, vòm ngực lộ rõ qua những lỗ ren, và một dây lưng to bản bằng thung màu hồng. Rõ ràng có sự bất đồng giữa cách cô ăn mặc và cách cô muốn người ta xét đoán mình. Nhưng cô không có vẻ gì đỏm đáng hoặc kiểu cách hoặc lịch lãm theo lối của thời ấy. Thật ra thì trông cô không thanh lịch mấy. Làm ra dáng Gypsy, với những vòng sơn màu bạc rẻ tiền nhất, và mái tóc dài quăn rối cô phải buộc lưới khi hầu bàn.

Đặc biệt.

Cậu kể về cô với mẹ cậu, và mẹ cậu bảo “Con phải mang cô Grace này đến ăn tối mới được.”

Tất cả mới mẻ đối với cô, tất cả lập tức thú vị. Thật ra, cô yêu bà Travers gần hệt như Maury yêu cô, dù dĩ nhiên theo bản tính cô không để lộ vẻ kinh ngạc, tôn thờ rõ rệt như Maury.

o0o

Dì và dượng của Grace, thật ra là bà dì và ông dượng, đã nuôi cô lớn lên. Mẹ cô mất khi cô 3 tuổi, và cha cô dời đi Saskatchewan, rồi lập gia đình khác ở đấy. Cha mẹ thay thế của cô tử tế, thậm chí hãnh diện về cô. Nhưng họ không nói chuyện nhiều. Ông dượng kiếm tiền bằng nghề đan ghế mây, và đã dạy Grace cách đan mây để cô có thể giúp ông và sau này nối nghiệp khi mắt ông kém đi. Nhưng rồi cô có việc mùa hè ở Thác Bailey, và dù ông không muốn để cô đi – bà dì cũng thế – họ tin rằng cô cần nếm vị cuộc đời trước khi ổn định.

Cô 20 tuổi và mới tốt nghiệp trung học. Lẽ ra cô phải học xong một năm trước, nhưng cô đã có một lựa chọn lạ lùng. Thị trấn nơi cô ở – không xa Pembroke của bà Travers – rất nhỏ, thế mà cũng có một trường trung học năm cấp lớp, để chuẩn bị học sinh cho những kỳ thi chính phủ và điều lúc ấy có tên là tuyển sinh đại học. Không hề cần thiết phải học hết các môn, và đến cuối năm học đầu tiên của cô ở cấp lớp 13 – lẽ ra là năm cuối của cô – Grace thi lịch sử và thực vật học và động vật học và Anh ngữ và Latin và Pháp ngữ, được điểm cao hơn mức cần thiết. Nhưng cô trở lại vào tháng 9, xin học vật lý và hóa học, lượng giác, hình học, và đại số, dù những môn này được xem là khó đối với phái nữ. Cô khá trong cả 3 ngành toán và khoa học, tuy kết quả không ngoạn mục như năm trước. Lúc ấy cô nghĩ đến chuyện tự học tiếng Hy lạp và Tây Ban Nha và Ý và Đức, để cô có thể thử những kỳ thi ấy vào năm sau – những môn không có giáo viên nào ở trường cô dạy – nhưng hiệu trưởng gặp riêng cô và bảo cô rằng chuyện này không ích gì cho cô, vì cô không thể vào đại học, và cũng không đại học nào đòi hỏi rất cả mọi môn như thế. Tại sao cô làm thế? Cô có dự tính gì không?

Không, Grace nói, cô chỉ muốn học mọi thứ có thể học miễn phí. Trước khi cô bắt đầu sự nghiệp đan mây.

Chính hiệu trưởng đã quen người quản lý của quán trọ tại Thác Bailey và bảo ông sẽ nói giúp cho cô nếu cô muốn thử việc hầu bàn mùa hè. Ông cũng nhắc đến việc “nếm mùi đời.”

Thế là ngay cả người phụ trách học vấn ở nơi ấy cũng không tin học hỏi dính dáng gì đến cuộc sống. Như mọi người khác, ông nghĩ điều cô làm là điên rồ.

Ngoại trừ bà Travers, đã được gửi đến trường đại học dạy nghề, thay vì đại học thực thụ, để biến mình thành hữu dụng, và bây giờ rất ước ao rằng phải chi trước đó bà đã nhồi vào đầu mình những thứ vô dụng.

o0o

Đổi giờ làm việc với một cô gái khác, Grace thu xếp nghỉ ngày Chủ Nhật từ bữa điểm tâm. Có nghĩa là cô sẽ luôn làm việc trễ ngày thứ Bảy. Đúng ra, nó có nghĩa cô đã đổi thời gian với Maury thành thời gian với gia đình của Maury. Giờ đây Maury và cô không còn có thể xem phim, không còn có thể có buổi hẹn hò thực sự. Thay vì thế, cậu đón cô khi cô hết giờ làm việc, khoảng 11 giờ đêm, và họ lái xe lòng vòng, ghé ăn kem hoặc hamburger – Maury cẩn thận không dẫn cô vào quán rượu, vì cô chưa đến 21 tuổi – rồi cuối cùng đậu xe ở đâu đó.

Ký ức của Grace về những lúc đậu xe ấy – có thể kéo dài đến 1, 2 giờ sáng – tỏ ra lờ mờ hơn ký ức về những lúc cô ngồi ở bàn ăn tròn của gia đình Travers, trên ghế dựa bằng da màu nâu đỏ hoặc ghế mây lót nệm ở phía bên kia phòng. (Không bao giờ có lôi thôi về chuyện rửa chén; một người phụ nữ bà Travers gọi là “bà Abel tài ba” sẽ đến vào buổi sáng).

Maury lúc nào cũng kéo nệm lót ghế xuống thảm và ngồi ở đấy. Gretchen, không bao giờ mặc quần gì khác ngoài jean và quần quân đội cho bữa ăn tối, thường ngồi bắt chéo chân trong một chiếc ghế rộng. Maury và chị đều có vai to rộng, một chút vẻ đẹp của mẹ – mái tóc gợn sóng màu đường kẹo, đôi mắt màu hạt dẻ ấm áp, làn da dễ rám nằng của bà. Trong trường hợp Maury, thậm chí lúm đồng tiền của bà. (Những cô hầu bàn khác gọi Maury là “dễ thương” và “bảnh trai,” và tôn trọng Grace hơn một chút từ khi cô có cậu). Tuy thế, bà Travers chưa cao đến 5 bộ Anh, và trong những chiếc áo rộng của bà dường như không mập nhưng tròn trĩnh cứng cáp, như đứa trẻ chưa nhổ giò. Không được thừa hưởng là vẻ long lanh, chăm chú của đôi mắt bà, sự vui vẻ luôn sẵn sàng lóe lên trong ấy. Cũng như vệt nhám đỏ, gần như vệt mụn, trên đôi má của bà, có lẽ là kết quả của việc bà ra ngoài bất kể thời tiết và không nghĩ đến làn da, và, như thân hình của bà, như những chiếc áo rộng của bà, nó biểu lộ sự độc lập của bà.

Đôi khi có những người khách, ngoài Grace, vào những buổi tối Chủ Nhật này. Một cặp đôi, cũng có thể chỉ một người, thường gần tuổi ông bà Travers, và tương tự như họ. Những người phụ nữ náo nức và dí dỏm, những người đàn ông ít nói hơn, chậm hơn, khoan dung hơn. Những người này kể những câu chuyện thú vị, thường là tự diễu cợt. (bây giờ thì Grace đã là người nói chuyện duyên dáng lâu lắm rồi, đến nỗi đôi khi chị chán ngấy chính mình, và chị khó nhớ nổi chị đã thấy chuyện trò trong bữa ăn tối có vẻ mới lạ như thế nào. Những dịp hiếm có dì và dượng của chị có khách, chỉ có lời khen và xin lỗi về thức ăn, bàn bạc thời tiết, và ước muốn tha thiết cho bữa ăn kết thúc càng sớm càng tốt).

Sau bữa ăn tối ở nhà gia đình Travers, nếu buổi tối lạnh, ông Travers đốt lửa, và họ chơi trò bà Travers gọi là “trò chơi chữ ngốc nghếch,” một trò người chơi phải khá lanh lợi mới thắng được. Đây là lúc một người khá yên lặng trong bữa ăn tối có thể bắt đầu nổi bật. Những biện luận giả vờ có thể được tạo ra để bảo vệ những định nghĩa vô lý. Chồng của Gretchen, Wat, làm thế, và sau một lúc là Grace, giữa sự vui thích của Maury và bà Travers (Maury kêu lên, “Thấy chưa? Đã nói cô ấy thông minh mà,” khiến mọi người, trừ Grace, thấy buồn cười). Chính bà Travers dẫn đầu trong chuyện bịa những chữ phi lý, bảo đảm trò chơi không trở thành quá nghiêm trọng và người chơi quá lo lắng.

Lần duy nhất có vấn đề là một buổi tối khi Mavis, vợ của con trai bà Travers là Neil, đến dùng bữa tối. Mavis và Neil và hai con ở gần đấy, trong nhà bên hồ của cha mẹ chị. Nhưng tối ấy chị đến một mình – Neil là bác sĩ, và cuối tuần ấy anh bận việc ở Ottawa. Bà Travers thất vọng, nhưng bà trấn tĩnh lại, kêu lên với giọng ngạc nhiên vui vẻ “Nhưnghẳn bọn trẻ không ở Ottawa chứ?”

“Đáng tiếc là không,” Mavis nói. “Nhưng chúng hư lắm. Chúng sẽ la hét suốt bữa ăn tối. Đứa nhỏ bị nổi ban, còn Mikey thì có trời mới biết nó bị cái gì.”

Chị là một phụ nữ mảnh khảnh da rám nắng mặc áo đầm màu tím, một chiếc khăn to bản cùng màu cột mái tóc sậm. Xinh xắn, nhưng bườu buồn chán hoặc chê trách che đi hai khóe miệng chị. Chị không đụng đến phần lớn thức ăn trên đĩa, giải thích rằng chị bị dị ứng với cà ri.

“Ô, Mavis, tiếc thật,” bà Travers nói, “Con mới bị à?”

“Không đâu. Con bị lâu rồi, nhưng con cứ giữ lễ. Rồi con bị bệnh và nôn mửa suốt nửa đêm.”

‘Phải chi con nói cho mẹ biết… Mẹ lấy thức khác cho con nhé?”

“Mẹ đừng lo. Con không sao. Vốn dĩ con không thèm ăn, vì trời nóng và những niềm vui của sự làm mẹ.”

Chị đốt một điếu thuốc.

Sau đó, trong trò chơi, chị cãi vả với Wat vì một định nghĩa anh dùng, và khi tự điển chứng minh nó có thể chấp nhận được, chị nói “Ô, xin lỗi. Thua các người rồi.” Đến lúc mọi người nộp chữ của mình trên một mẩu giấy cho vòng chơi kế tiếp thì chị mỉm cười và lắc đầu ‘Không có.”

“Ôi, Mavis,” bà Travers nói.

Và ông Travers nói “Này Mavis. Chữ nào cũng được mà.”

“Nhưng con không có chữ nào. Con xin lỗi. Chỉ là tối nay con cảm thấy ngu ngốc. Mọi người cứ chơi đi.”

Họ tiếp tục chơi thật, mọi người vờ như không có chuyện gì, trong khi chị hút thuốc và tiếp tục mỉm nụ cười cương quyết và không vui của mình. Một lúc sau chị đứng dậy và nói không thể bỏ mấy đứa trẻ cho ông bà trông lâu hơn nữa. Chị đã có một chuyến viếng thăm vui vẻ và được học hỏi, và giờ chị phải về nhà.

“Giáng sinh sắp tới phải tặng cuốn tự điển Oxford,” chị nói bâng quơ trước khi về, cùng tiếng cười nhỏ vui vẻ, cay đắng. Tự điển của gia đình Travers mà Wat đã dùng là một cuốn tự điển Mỹ.

Khi chị đã về, mọi người không ai nhìn ai. Bà Travers nói “Gretchen, con đủ sức pha cà phê cho mọi người không?” Và Gretchen vào bếp, lẩm bẩm “Vui làm sao, Jesus phát khóc.”

“Cuộc sống của nó khó khăn,” bà Travers nói. “Hai đứa con nhỏ mà.”

o0o

Mỗi thứ Tư Grace được nghỉ từ lúc dọn dẹp bữa điểm tâm đến giờ chuẩn bị bữa ăn tối, và khi bà Travers biết, bà bắt đầu lái xe đến Thác Bailey đưa cô về hồ trong nhưng giờ nghỉ ấy. Những lúc ấy Maury bận làm việc – suốt mùa hè anh sửa chữa Xa lộ 7 cùng nhóm sửa đường – và Wat thì ở trong văn phòng của anh ở Ottawa và Gretchen ra ngoài cùng lũ trẻ, đi bơi hoặc chèo thuyền trên hồ. Chính bà Travers cũng thường nói bà phải đi mua sắm hoặc viết thư, và bà sẽ để Grace một mình trong phòng lớn vừa là phòng khách vừa là phòng ăn che màn cửa, mát mẻ, với chiếc ghế dựa da luôn có vết lõm và những kệ chất đầy sách.

“Cứ đọc sách nào cháu thích,” bà Travers nói. “Hoặc cuộn người mà ngủ, nếu cháu muốn. Công việc của cháu nặng nhọc – chắc cháu phải mệt. Tôi bảo đảm sẽ đưa cháu về kịp giờ.”

Grace không bao giờ ngủ. Cô đọc. Cô hầu như không cử động, và đôi chân trần dưới quần short của cô ướt mồ hôi và dính vào lớp da ghế. Thường cô không thấy bà Travers cho đến khi cô phải về làm việc.

Trong xe, bà Travers sẽ không gợi chuyện cho đến khi đã đủ thời gian để những tư tưởng của Grace rời khỏi cuốn sách cô đã đọc trước đấy. Rồi bà có thể nói bà đã đọc cuốn sách ấy, và nói bà nghĩ gì về nó – nhưng lúc nào cũng ân cần và vui vẻ. Chẳng hạn, về “Anna Karenina,” bà nói “tôi không biết tôi đã đọc nó bao nhiêu lần, nhưng tôi biết lúc đầu tôi thương cảm Kitty, rồi sau đó là Anna – ôi, Anna thật thảm – và bây giờ, cháu có biết không, tôi thấy mình thương cảm cho Dolly. Khi bà ta phải về quê, cháu biết đấy, với cả bầy trẻ, và bà ta phải học giặt giũ, mấy bồn giặt có vấn đề – tôi đoán thương cảm của người ta thay đổi như thế đấy với tuổi tác. Say mê bị đẩy xuống sau bồn giặt. Dù sao thì cháu cũng đừng để ý lời tôi nói. Cháu không để ý, phải không?”

“Cháu không biết cháu có để ý đến ai nhiều không.” Grace ngạc nhiên về chính mình, tự hỏi phải chăng cô có vẻ tự kiêu. “Nhưng cháu thích nghe bà nói chuyện.”

Bà Travers cười. “Tôi cũng thích nghe mình nói.”

o0o

Không hiểu vì sao, đến giữa mùa hè Maury bắt đầu nói chuyện họ kết hôn. Còn lâu lắm, cậu nói – sau khi cậu đủ điều kiện làm kỹ sư và có việc kỹ sư – nhưng cậu nói đến nó như thể nó là điều cô cũng như cậu phải xem là đương nhiên. “Khi chúng ta thành hôn,” cậu sẽ nói thế, và thay vì hỏi han hoặc nói ngược lại, Grace sẽ tò mò lắng nghe.

Khi họ thành hôn, họ sẽ có nhà bên Hồ Sabot. Không gần cha mẹ cậu quá, không xa quá. Dĩ nhiên đấy chỉ là nhà mùa hè. Thời gian còn lại họ sẽ sống nơi nào cậu làm việc. Có thể bất cứ đâu – Peru, Iraq, Lãnh thổ Tây Bắc. Grace thích thú khi nghĩ đến di chuyển – nhiều hơn là thứ cậu nói đến, với niềm tự hào ghê gớm, là “nhà của chúng ta.” Cô không cảm thấy chuyện nào là thực, nhưng cô cũng không cảm thấy ý nghĩ giúp dượng cô, hoặc sống như người đan mây của thị trấn trong chính căn nhà nơi cô đã lớn lên, là thực bao giờ.

Maury hỏi mãi rằng cô đã nói gì về cậu với dì dượng của cô, khi nào cô sẽ dẫn cậu về gặp họ. Thực sự, cô đã không nói gì trong những lá thư ngắn hàng tuần, trừ việc nói rằng cô “đang hẹn hò với một cậu trai làm việc mùa hè quanh đây.” Có thể cô đã ám chỉ rằng cậu làm việc ở khách sạn.

Không phải cô chưa bao giờ nghĩ đến chuyện kết hôn. Khả năng ấy có trong tâm trí cô, cùng với cuộc đời đan ghế mây. Dù trước đấy chưa có ai theo đuổi cô, cô đã chắc chắn rằng một ngày nào đấy nó sẽ xảy ra, đúng như thế này – với một người đàn ông quyết định tức thì. Anh ta sẽ nhìn thấy cô, và khi đã thấy cô, sẽ yêu cô. Trong trí tưởng tượng của cô, anh đẹp trai, như Maury. Nồng nhiệt, như Maury. Những thân mật thể chất vui thú sẽ theo sau.

Nhưng điều ấychưa xảy ra. Trong xe của Maury, hoặc trên cỏ dưới trời sao, cô tự nguyện. Và Maury sẵn sàng, nhưng chưa muốn. Cậu cảm thấy bổn phận của mình là bảo vệ cô. Sự hiến thân dễ dãi của cô khiến cậu bối rối. Có lẽ cậu cảm thấy sự hiến thân ấy lạnh lẽo – một sự dâng hiến có chủ ý cậu không hiểu nổi và không phù hợp với những khái niệm của cậu về cô. Cô không nhận ra sự lạnh nhạt của chính mình – cô tin rằng sự háo hức cô biểu lộ sẽ dẫn đến lạc thú cô biết, khi một mình và trong tưởng tượng , và cô cảm thấy mọi chuyện tùy thuộc vào sự chủ động của Maury. Mà cậu lại không chịu.

Những lần phong tỏa này khiến cả hai xao động và hơi giận dữ hoặc hổ thẹn, vì thế họ không ngừng hôn nhau, níu lấy nhau, và nói những lời âu yếm để đền bù cho nhau khi họ chia tay. Grace cảm thấy nhẹ nhõm được ở một mình, vào giường trong nhà trọ và xóa đi một hai tiếng vừa qua khỏi tâm trí. Và cô nghĩ chắc hẳn Maury cũng nhẹ nhõm, lái xe trên xa lộ một mình, sắp xếp lại những cảm nhận về nàng Grace của cậu để cậu vẫn có thể hết lòng yêu cô.

o0o

Đa số các cô hầu bàn nghỉ việc sau ngày Lao động để trở về trường trung hoặc đại học. Nhưng khách sạn sẽ mở cửa đến tháng 10 cho ngày lễ Tạ ơn, với ít nhân viên hơn – Grace ở trong số đó. Năm nay, nghe nói khách sạn sẽ mở cửa lại vào đầu tháng 12 cho mùa đông, hoặc ít nhất mùa Giáng sinh, nhưng dường như không ai trong đội nhà bếp hoặc phòng ăn biết sự thực ra sao. Grace viết cho dì và dượng cô như thể mùa Giáng sinh là chắc chắn và họ đừng chờ cô về.

Tại sao cô làm thế? Không phải cô có kế hoạch gì khác. Maury đang học năm cuối. Thậm chí cô đã hứa sẽ mang cậu về nhà vào Giáng sinh để gặp gia đình cô. Và cậu đã nói Giáng sinh là dịp tốt để chính thức hóa cuộc đính hôn của họ. Cậu đang để dành lương mùa hè để mua nhẫn kim cương cho cô.

Cô cũng vậy, đang để dành tiền lương, để có thể đi xe bus đến Kingston thăm cậu trong lúc cậu học.

Cô nói thế, hứa thế, rất dễ dàng. Nhưng cô có thực tin tưởng, hoặc thậm chí mong ước, rằng nó sẽ xảy ra?

“Maury là người rất tốt,” bà Travers nói. “Cháu cũng thấy được mà. Nó sẽ là một người đơn sơ đáng quý giống như cha nó. Không giống như anh nó. Neil rất thông minh. Tôi không có ý nói rằng Maury không thông minh – chắc chắn không thể trở thành kỹ sư nếu không có đầu óc – nhưng Neil… Nó sâu sắc.” Bà tự cười mình. “Nằm trong những động thăm thẳm dưới đại dương”(1) – Tôi đang nói gì nhỉ? Trong một thời gian dài, tôi và Neil chỉ có nhau. Vì thế tôi nghĩ nó đặc biệt. Tôi không có ý nói rằng Neil không thể là người thú vị. Nhưng đôi khi người vui vẻ nhất có thể u buồn, phải không? Khiến người ta thắc mắc. Nhưng lo lắng cho con cái đã lớn thì ích gì? Tôi lo về Neil rất nhiều, còn với Maury thì chút xíu thôi. Còn Gretchen thì tôi chẳng lo chút nào. Vì phụ nữ luôn có điều gì thôi thúc họ, phải không?”

o0o

Căn nhà bên hồ không bao giờ đóng cửa trước lễ Tạ ơn. Dĩ nhiên Gretchen và các con phải về Ottawa để tụi nhỏ đi học. Và Maury phải đi Kingston. Ông Travers chỉ có thể đến vào cuối tuần. Nhưng bà Travers đã bảo Grace bà thường ở lại, đôi khi với khách, đôi khi một mình.

Rồi dự định của bà thay đổi. Bà về Ottawa với ông Travers vào tháng 9. Chuyện này xảy ra bất ngờ – bữa ăn tối Chủ nhật tuần đó bị hủy bỏ.

Maury giải thích rằng mẹ cậu đôi khi bị bệnh lo âu. “Bà phải nghỉ ngơi,” cậu nói. “Bà phải vào bệnh viện một hai tuần, và họ khiến bà ổn định. Lúc nào bà cũng khỏe lại.”

Grace nói rằng cô không bao giờ nghĩ bà Travers có vấn đề ấy. “Nguyên nhân là gì?”

“Anh nghĩ họ không biết,” Maury nói. Nhưng sau một lúc cậu nói “Có thể là chồng bà. Ý anh là chồng trước của bà. Cha của Neil. Chuyện xảy ra với ông, vv.

Điều xảy ra là cha của Neil đã tự tử.

“Anh đoán ông không bình thường. Nhưng anh không biết thậm chí có phải đấy là nguyên nhân hay không. Có thể là tuổi tác của bà, và những bệnh phụ nữ và những chuyện đại loại như thế. Nhưng không sao – họ sẽ chữa lành cho bà dễ dàng, với thuốc men. Họ có thuốc rất tốt. Đừng lo.”

o0o

Đến lễ Tạ ơn, như Maury dự đoán, bà Travers xuất viện và khỏe khoắn. Bữa ăn tối lễ Tạ ơn sẽ ở hồ, như thường lệ. Nó xảy ra vào ngày Chủ nhật, thay vì thứ Hai – cũng như thường lệ, để dành thời gian thu xếp và đóng cửa căn nhà. May mắn cho Grace, vì Chủ nhật vẫn là ngày nghỉ của cô.

Cả gia đình sẽ có mặt, ngay cả Neil và Mavis và các con, đang ở nhà của cha mẹ Mavis. Không có khách – trừ khi tính Grace là khách.

Lúc Maury đưa cô đến hồ sáng ngày Chủ nhật, con gà tây đã vào lò. Những chiếc bánh nướng nằm trên quầy bếp – bí đỏ, táo, dâu dại. Gretchen phụ trách bếp núc, nấu nướng phối hợp như chơi thể thao. Bà Travers ngồi ở bàn bếp, uống cà phê và chơi lắp hình với con thứ của Gretchen là Dana.

“A, Grace,” bà nói, nhổm dậy để ôm lấy cô – lần đầu tiên bà làm thế – và bàn tay bà vụng về làm tung tóe những mảnh hình.

Dana khóc thét lên “ngoại,” và chị lớn của nó, Janey, vẫn đang theo dõi với vẻ chê trách, nhặt những mảnh hình lên.

“Lắp lại dễ mà,” nó nói. “Bà ngoại đâu có cố tình.”

“Mẹ để xốt nam việt quất ở đâu?” Gretchen hỏi.

“Trong tủ,” bà Travers nói, vẫn đang siết cánh tay Grace và bỏ lơ hình ghép bị phá hủy.

Ở đâu trong tủ?”

“Ồ, xốt nam việt quất,” bà Travers nói. “Mẹ nấu lấy. Mẹ cho chúng vào chút nước. Rồi mẹ đun lửa thấp – không, mẹ nghĩ mẹ ngâm chúng trước – “

“Con không có thì giờ đâu,” Gretchen nói. “Ý mẹ là mẹ không có xốt trong hộp sao?”

“Mẹ đoán là không. Chắc mẹ không có, vì mẹ làm lấy.”

“Con sẽ phải kêu ai đó đi mua.”

“Con à, lễ Tạ ơn mà,” bà Travers dịu dàng nói. “Đâu có chỗ nào mở cửa.”

“Chỗ gần xa lộ lúc nào cũng mở cửa.” Gretchen lên giọng. “Wat đâu rồi?”

“Wat đi chèo thuyền rồi,” Mavis gọi từ phòng ngủ phía sau. Giọng chị như cảnh cáo, vì chị đang tìm cách dỗ đứa bé con chị ngủ. “Wat đi với Mikey.”

Mavis tự lái xe đến, với Mikey và đứa bé. Neil sẽ đến sau – anh phải gọi điện thoại.

Ông Travers đã đi đánh golf.

“Chỉ là em cần ai đó đi chợ,” Gretchen nói. Chị đợi, nhưng không có lời tình nguyện nào từ phòng ngủ phía sau. Chị nhướng mày nhìn Grace. “Em không lái xe được, phải không?”

Grace nói không.

Bà Travers ngồi xuống, lịch sự thở dài.

Gretchen nói “Maury biết lái xe. Maury đâu rồi?”

Maury đang ở trong phòng ngủ phía trước tìm quần tắm của cậu, dù mọi người đã bảo cậu nước lạnh lắm không bơi được. Cậu nói tiệm sẽ không mở cửa.

“Tiệm sẽ mở,” Gretchen nói. “Họ bán xăng. Và nếu nó không mở thì có tiệm ngay ở bìa Perth – em biết mà, với mấy cây kem.”

Maury muốn Grace đi cùng với cậu, nhưng hai cô bé, Janey và Dana, đang năn nỉ cô đến xem xích đu ông ngoại chúng mới dựng dưới cây phong Na uy cạnh nhà.

Khi Grace xuống những bậc thềm, cô cảm thấy dây buộc sandal của mình bị đứt. Cô cởi sandal và bước dễ dàng trên mặt đất cát, qua những bụi mã đề bẹp dí và những chiếc lá rụng cong queo.

Đầu tiên cô đẩy hai đứa trẻ trên xích đu, rồi chúng đẩy cô. Lúc cô nhảy xuống, chân trần, là lúc một chân cô gục xuống và cô thét lên đau đớn, không biết chuyện gì đã xảy ra.

Hóa ra là bàn chân, không phải cẳng chân. Cơn đau nhói lên từ lòng bàn chân trái, bị cạnh vỏ sò sắc cắt.

“Dana mang mấy vỏ sò đến đó,” Janey nói. “Nó muốn làm nhà cho con sên của nó.”

“Con sên chạy mất rồi.” Dana nói.

Gretchen và bà Travers và ngay cả Mavis chạy ra khỏi nhà, nghĩ rằng tiếng thét là của bọn trẻ con.

“Bàn chân cô chảy máu,” Dana nói. “Mặt đất đầy máu.”

Janey nói “Cô bị vỏ sò cắt. Dana bỏ những vỏ sò ở đây – nó định xây nhà cho Ivan. Ivan con sên của nó.”

Một cái chậu được mang ra, với nước để rửa vết cắt và một cái khăn, và mọi người hỏi có đau lắm không.

“Không đau lắm,” Grace nói, đi khập khiễng đến bậc thềm, hai cô bé tranh nhau đỡ cô và chung chung là làm vướng chân cô.

“Ô, nặng đấy,” Gretchen nói. “Nhưng tại sao em không mang giày/”

“Đứt dây giày,” Dana và Janey đồng thanh nói, trong lúc một chiếc xe mui trần màu rượu đỏ rẽ gọn gàng vào khoảng đậu xe bên cạnh nhà.

“Đây chính là chuyện tôi gọi là may mắn,” bà Travers nói. “Đúng người chúng ta cần. Ông bác sĩ.”

Đấy là Neil – lần đầu tiên Grace nhìn thấy anh. Anh cao, gầy, thiếu kiên nhẫn.

“Túi của con,” bà Travers vui vẻ gọi. “Chúng tôi có sẵn người bệnh cho con đây.”

“Anh có món khá đấy,” Gretchen nói. “Mới hả?”

Neil nói “Một thứ điên rồ.”

“Giờ thì đứa bé thức mất rồi,” Mavis nói, với một tiếng thở dài buộc tội không biết nhắm vào ai. Chị trở vào nhà.

“Con đừng nói con không mang theo,” bà Travers nói. Nhưng Neil nhấc một túi bác sĩ từ ghế sau, và bà nói “Có thế chứ, con có mang theo. Tốt. Nhỡ khi cần.”

“Cháu là người bệnh sao?” Neil nói với Dana. “Chuyện gì thế? Nuốt phải con cóc à?”

“Cô ấy đấy,” Dana nghiêm trang nói. “Là Grace.”

“Vậy đấy. Cô ấy nuốt con cóc.”

“Cô ấy bị đứt chân.”

“Vì vỏ sò,” Janey nói.

Neil nói với hai cô cháu “Xê ra nào,” và ngồi xuống bậc thềm phía dưới Grace. Anh cẩn thận nhấc bàn chân đau lên và nói “Cho xin miếng vải đó,” và chậm máu để nhìn vết cắt. Bây giờ, khi anh gần sát cô, Grace nhận thấy một mùi cô đã biết nhận dạng qua mùa hè làm việc ở khách sạn – mùi rượu lẫn mùi bạc hà.

“Đau không?” anh hỏi.

Grace nói “Hơi hơi.”

Anh nhìn cô thoáng qua, dù cái nhìn dò xét. Có lẽ tự hỏi cô có ngửi thấy mùi rượu không và cô nghĩ gì về điều ấy.

“Đau là cái chắc. Thấy miếng cắt này không? Chúng ta phải làm sạch bên dưới vết cắt, rồi tôi sẽ may một hai mũi. Tôi có thứ tôi có thể bôi lên, sẽ không đau như cô tưởng.” Anh ngước nhìn Gretchen. “Này, dẹp bớt khán giả đi.”

Anh chưa nói lời nào với mẹ, người lại nói thật may anh đã đến vào đúng lúc ấy.

“Hướng đạo sinh mà,” anh nói. “Lúc nào cũng sẵn sàng.”

Hai bàn tay anh không có vẻ say, và đôi mắt anh cũng không có vẻ say. Anh cũng không giống ông bác vui tính anh giả vờ khi anh nói với lũ trẻ, hoặc người cung cấp những lời an ủi như anh chọn với Grace. Anh có vầng trán cao xanh xao, mái tóc đen nhuốm bạc quăn tít, đôi mắt xám tinh anh nhưng hơi trũng, gò má cao, và má hóp. Nếu khuôn mặt anh không căng thẳng, anh sẽ có vẻ u uất và khao khát.

Khi vết cắt đã được trị xong, Neil nói anh nghĩ nên mang Grace vào bệnh viện trong thị trấn. “Để tiêm ngừa bệnh uốn ván.”

“Đâu có gì tệ lắm,” Grace nói.

Neil nói, “Đấy không phải là điểm chính.”

“Tôi đồng ý,” bà Travers nói. “Bệnh uốn ván – ghê quá.”

“Tụi con sẽ không đi lâu,” anh nói. “Đây. Grace? Grace, để tôi đưa cô đến xe.” Anh đỡ cô bằng một cánh tay. Cô đã buộc dây chiếc sandal còn tốt, và xỏ chân vào chiếc kia để cô có thể lê nó theo sau. Lớp băng cột rất gọn ghẽ và chặt.

“Tôi vào một chút,” anh nói, khi cô đã ngồi vào xe. “Để xin lỗi.”

Bà Travers xuống khỏi hàng hiên và đặt tay lên cửa xe.

“Như thế này là tốt,” bà nói. “Thế này là rất tốt, Grace ạ, cháu là món quà trời ban, Cháu sẽ cố ngăn nó uống rượu hôm nay nhé? Cháu sẽ biết cách làm sao.”

Grace nghe những lời ấy, nhưng không nghĩ ngợi nhiều. Cô đã quá hoảng hốt vì sự thay đổi của bà Travers, vì bà dường như to lớn hơn, vì cử động cứng ngắc của bà, vì vẻ rộng lượng bất ngờ và khá cuống quýt. Và một lớp vảy lờ mờ lộ ra ở hai khóe miệng bà, trông như đường.

o0o

Bệnh viện cách đó 3 dặm. Có một đường bắc ngang xa lộ phía trên đường rầy xe lửa, và họ lái xe trên đường này với tốc độ khiến Grace có cảm tưởng, khi đến đỉnh con đường, chiếc xe đã lao trên mặt đường và họ đang bay. Không có xe cộ nhiều, vì thế cô không sợ, và dù sao đi nữa cô cũng không làm được gì,

Neil biết cô y tá trực ở phòng Cấp cứu, và sau khi anh điền một mẫu giấy và để cô y tá nhìn sơ qua chân của Grace (“Khá đấy,” cô ta thờ ơ nói) anh đã có thể chích cho cô mũi thuốc chống bệnh uốn ván. (“Bây giờ không đau đâu, nhưng có thể sau này sẽ đau”). Khi anh chích xong, cô y tá trở lại và nói.”Có một cậu trong phòng đợi muốn đưa cô ấy về.”

Cô nói với Grace, “Cậu ta nói là vị hôn phu của cô.”

“Bảo nó cô ấy chưa xong,” Neil nói. “Không. Bảo nó chúng tôi đã đi rồi.”

“Tôi đã nói anh ở trong này.”

“Nhưng khi cô trở lại,” Neil nói, “chúng tôi đã đi.”

“Cậu ấy nói là em của anh. Không phải là cậu ấy sẽ nhìn thấy xe của anh trong bãi đậu xe sao?”

“Nhưng tôi đậu xe ở bãi dành cho bác sĩ.”

Ranh ma thật,” cô y tá quay lại nói.

Và Neil nói với Grace, “Em chưa muốn về nhà, phải không?”

“Không,” Grace nói, như thể cô đã nhìn thấy chữ ấy viết trên bức tường trước mặt. Như thể cô đang kiểm tra thị giác mình.

Một lần nữa cô được đỡ đến xe, giày sandal lê theo sau, và ngồi vào ghế xe màu kem. Họ đi ngõ sau ra khỏi bãi đậu, một lối không quen thuộc ra khỏi thị trấn.

Cô biết họ sẽ không gặp Maury. Cô không nghĩ đến cậu. Càng không nghĩ đến Mavis.

Sau này, diễn tả giai đoạn ấy, sự thay đổi ấy trong cuộc đời chị, Grace có thể nói – chị đã nói – rằng như thể một cánh cổng đã sập đóng lại sau lưng chị. Nhưng lúc ấy không có tiếng sập cửa – chỉ có sự phục tùng lan tỏa trong chị, và quyền lợi của những người ở lại bị êm thắm loại bỏ.

Ký ức của chị về ngày hôm ấy vẫn rành rọt và chi tiết trong một thời gian dài, dù có sự thay đổi trong những phần chị suy ngẫm.

Và thậm chí trong những chi tiết ấy hẳn chị đã nhớ sai một vài điểm.

o0o

Thoạt tiên họ lái xe về hướng tây, trên Xa lộ 7. Theo như Grace nhớ, không có chiếc xe nào khác trên xa lộ, và vận tốc của họ gần bằng lúc họ bay qua cầu bắc ngang xa lộ. Điều này không thể nào đúng – phải có người trên đường, nhưng người từ nhà thờ về nhà trong buổi sáng Chủ Nhật ấy, hoặc trên đường đến dự lễ Tạ ơn với gia đình. Neil hẳn phải chạy chậm lại khi lái qua làng mạc, và khi quẹo trên nhiều đường cong trên đường xa lộ cổ. Cô không quen ngồi xe mui trần, gió tạt vào mắt, cuốn tung tóc cô. Nó cho cô ảo giác của một tốc độ hoàn hảo không đổi – không vội vã nhưng kỳ diệu, yên ả.

Và dù Maury và Mavis và những người khác trong gia đình đã bị xóa khỏi trí cô, vài mẩu vụn của bà Travers vẫn còn, lởn vởn, nói thì thầm, với tiếng cười khúc khích là lạ và hổ thẹn, thông điệp cuối cùng của bà.

Cháu sẽ biết cách làm sao.

Dĩ nhiên Grace và Neil không nói chuyện. Cô nhớ rằng phải hét lên người kia mới nghe được. Và nói thực lòng, điều cô nhớ hầu như giống hệt như ý tưởng, sự mơ mộng của cô lúc ấy về tình dục. Cuộc gặp gỡ may mắn, những dấu hiệu thầm lặng nhưng mạnh mẽ, cuộc chạy trốn gần như hoàn toàn im lặng, trong đó cô không nhiều thì ít là kẻ bị bắt đi. Một sự đầu hàng nhẹ bỗng, da thịt cô bây giờ chỉ còn là một dòng khao khát.

Cuối cùng, họ ngừng lại, ở Kaladar, và vào một khách sạn – khách sạn cổ vẫn còn ở đấy. Cầm tay cô, lồng những ngón tay anh vào những ngón tay cô, chậm lại để cùng nhịp với những bước không đều của cô, Neil dẫn cô vào quán rượu. Cô nhận ra đấy là quán rượu, tuy cô chưa hề đến quán rượu nào. (Quán trọ Thác Bailey chưa có giấy phép bán rượu, vì thế người ta uống rượu trong phòng trọ hoặc trong một vũ trường khá tồi tàn bên kia đường). Quán rượu này hệt như cô tưởng tượng – một căn phòng lớn, tối, ngột ngạt, với những bàn ghế sắp xếp cẩu thả sau lần dọn dẹp vội vã, mùi Lysol không xóa nổi mùi bia, mùi whiskey, mùi xì gà, mùi tẩu thuốc, mùi đàn ông.

Một người đàn ông từ phòng khác vào và nói với Neil. Ông ta nói “Chào ông, Bác sĩ,” và đến sau quầy.

Grace sực nghĩ họ đi đâu cũng thế – người ta sẽ biết Neil.

“Ông biết hôm nay là ngày Chủ Nhật,” người đàn ông nói bằng giọng cứng rắn, gần như hét lên, như thể ông ta muốn tiếng vọng ra đến bãi đậu xe. “Ngày Chủ Nhật tôi không bán được gì cho ông cả. Và tôi không bao giờ được bán gì cho cô ta cả. Thậm chí cô ấy không nên có mặt ở đây. Ông có hiểu không?”

“Ô, vâng, thưa ông. Vâng, quả thế, thưa ông.” Neil nói. “Tôi hoàn toàn đồng ý, thưa ông.”

Trong khi hai người nói chuyện, người đàn ông sau quầy đã lấy một chai whiskey từ một ngăn kệ kín, đổ chút rượu vào một cái ly và đẩy nó qua mặt quầy đến Neil.

“Cô khát không?” ông hỏi Grace. Ông đã mở một chai Coke. Ông đưa nó cho cô mà không đưa ly.

Neil đặt một tờ giấy bạc lên quầy và người đàn ông đẩy nó đi.

“Tôi đã nói mà,” ông nói. “Không bán được.”

“Còn chai Coke thì sao?” Neil nói.

“Không bán được.”

Người đàn ông cất chai đi. Neil uống phần rượu trong ly rất nhanh. “Ông là người tốt,” anh nói. “Tinh thần luật pháp.”

“Mang chai Coke theo. Cô ấy đi càng nhanh tôi càng mừng.”

“Chắc rồi,” Neil nói. “Cô ấy là người tốt. Em dâu của tôi. Em dâu tương lai. Tôi hiểu thế đấy.”

“Thật sao?”

o0o

Họ không trở lại Xa lộ 7. Thay vì thế, họ đi về hướng bắc, con đường không tráng nhựa nhưng đủ rộng và khá bằng phẳng. Ly rượu dường như ảnh hưởng tay lái của Neil ngược lại với dự đoán. Anh lái chậm lại đến mức thích hợp, thậm chí cẩn trọng, như yêu cầu của con đường.

“Em không phiền chứ?” anh nói.

Grace nói, “Phiền cái gì?”

“Bị lôi đến chỗ này chỗ kia.”

“Không.”

“Tôi cần em bầu bạn. Chân em thế nào?”

“Không sao.”

“Hẳn phải đau ít nhiều.”

“Không phải đâu. Nó không sao.”

Anh nhấc bàn tay không cầm chai Coke, áp lòng bàn tay vào miệng anh, liếm nó một cái, rồi buông ra.

“Em có nghĩ tôi bắt cóc em để làm em sa ngã không?”

“Không,” Grace nói dối, nghĩ thầm chữ ấy giống mẹ anh làm sao. Sa ngã.

“Đã có lúc em nghĩ thế là đúng,” anh nói, như thể cô đã trả lời phải. “Nhưng không phải hôm nay. Tôi không nghĩ thế. Hôm nay em yên ổn như nhà thờ.”

Giọng nói của anh thay đổi, trở nên thân mật, thành thực, và êm ả, và ký ức của đôi môi anh áp vào, lưỡi anh liếm, trên làn da của cô, đã ảnh hưởng Grace đến mức cô nghe những lời ấy nhưng không hiểu anh nói gì. Cô có thể cảm thấy hàng trăm cái liếm của lưỡi anh, điệu vũ mềm dẻo, trên khắp người cô. Nhưng cô nghĩ đến câu nói “Nhà thờ không phải lúc nào cũng yên ổn.”

“Đúng. Đúng.”

“Và em không phải là em dâu của anh.”

“Tương lai. Tôi có nói tương lai mà.”

“Tương lai cũng không.”

“Ồ, có lẽ tôi không ngạc nhiên. Không. Không ngạc nhiên.”

Rồi giọng anh lại thay đổi, trở thành vô cảm.

“Tôi đang tìm lối rẽ bên mặt. Có một con đường đáng lẽ tôi phải nhận ra. Em có biết vùng này không?”

“Quanh đây thì không.”

“Không biết Trạm Hoa? Ompah? Ba Lan? Đường Tuyết?”

Cô chưa nghe thấy chúng bao giờ.

“Có người tôi muốn gặp.”

Chiếc xe rẽ phải, với những tiếng lẩm bẩm không rõ của anh. Không có bảng tên đường. Con đường càng lúc càng hẹp và gồ ghề, với một cây cầu lát gỗ rộng đủ một xe chạy. Những cây rừng đan nhánh trên đầu họ. Năm nay thời tiết ấm lạ lùng, và những chiếc lá còn xanh, trừ vài lá đây đó nổi lên như cờ hiệu. Có cảm giác trú ẩn. Qua nhiều dặm, Neil và Grace im lặng, và cây cối không dứt, rừng không dứt. Nhưng rồi Neil phá vỡ sự yên lặng.

Anh nói “Em lái xe được không?” Và khi Grace nói không anh nói “Tôi nghĩ em nên học.”

Ý anh là ngay lúc ấy. Anh ngừng xe, ra ngoài và vòng sang phía cô, ra dấu cho cô chuyển sang phía tay lái.

“Không có chỗ nào tốt hơn ở đây.”

“Lỡ có cái gì đến thì sao?”

“Chả có gì đâu. Mà nếu có chúng ta có thể xoay sở. Vì thế tôi chọn đoạn đường thẳng.”

Anh không buồn giải thích xe chạy như thế nào – anh chỉ cho cô biết chỗ đặt chân, và bắt cô tập chuyển số, rồi nói, “Đi nào, và làm theo lời tôi.”

Lần đầu xe lồng lên, cô phát hoảng. Cô rồ ga, và cô nghĩ anh sẽ chấm dứt bài học ngay, nhưng anh chỉ cười. Anh nói ‘Nào, từ từ thôi. Từ từ. Đi tiếp đi,” và cô làm theo. Anh không phê bình cách lái của cô, chỉ nói. “Cứ đi, cứ đi, giữ xe trên đường, đừng để máy tắt.”

“Khi nào em có thể ngừng?”

“Khi nào tôi chỉ cách cho em dừng.”

Anh bắt cô lái xe cho đến khi họ ra ngoài đường hầm hai hàng cây rừng, và rồi anh chỉ dẫn cho cô về thắng xe. Ngay sau khi cô ngừng, cô mở cửa xe để họ có thể đổi bên, nhưng anh nói, “Không. Đây mới là bắt đầu thôi. Em sẽ thích rất nhanh.” Và khi họ lại lái xe cô bắt đầu thấy anh có thể đúng. Tự tin tràn dâng trong thoáng chốc của cô suýt khiến họ lao xuống hố. Tuy vậy, anh vẫn cười khi anh phải chụp lấy bánh lái, và bài học tiếp tục.

Dường như cô đã lái nhiều dặm, thậm chí lái – từ từ – quanh nhiều đoạn đường cong. Rồi anh nói họ nên đổi ghế, vì anh không nhận ra phương hướng trừ phi anh lái xe.

Anh hỏi cô cảm thấy thế nào, và dù cô run rẩy cả người cô nói “O.K.”

Anh xoa cánh tay cô từ vai đến khuỷu tay và nói, “Đồ nói đối.” Nhưng không chạm đến cô hơn mức đó và không cho bất cứ phần nào của cô cảm nhận miệng của anh nữa.

Anh hẳn lấy lại được cảm giác phương hướng khi họ đến một ngã tư vài dặm kế đến, vì anh quẹo trái, và cây cối thưa dần và họ leo lên một con đường gập ghềnh dẫn đến một ngôi làng, hoặc ít nhất một cụm nhà bên đường. Một nhà thờ và một tiệm, cả hai không mở cửa để phục vụ mục đích nguyên thủy của chúng nhưng có lẽ có người ở, nếu xét số xe chung quanh và rèm cửa xấu xí trong cửa sổ. Một hai căn nhà cũng cùng tình trạng, và sau một căn nhà là một vựa thóc đã sụp đổ, rơm khô cũ sậm màu trồi ra giữa những xà nhà rạn nứt như bộ đồ lòng bị trương lên.

Neil kêu lên vui mừng khi thấy chỗ này, nhưng không ngừng lại.

“Đỡ quá,” anh nói “Đỡ – quá. Giờ tôi biết rồi. Cám ơn.”

“Em à?”

“Vì đã để tôi dạy em lái. Nó làm tôi dịu lại.”

“Làm anh dịu lại?” Grace nói. “Thật ư?”

“Thật.” Neil mỉm cười, nhưng anh không nhìn cô. Anh đang bận nhìn quanh quất, qua những cánh đồng hai bên đường sau khi qua khỏi làng. Anh đang tự nói một mình. “Đây rồi. Phải là chỗ này. Giờ chúng ta biết rồi.”

Và cứ thế, cho đến khi anh rẽ vào một con đường nhỏ không chạy thẳng nhưng vòng quanh một cánh đồng, tránh đá và những rặng thông. Cuối con đường là một căn nhà không khá hơn những căn nhà trong làng.

“Chỗ này,” anh nói, “chỗ này tôi sẽ không đưa em vào. Không đến 5 phút đâu.”

o0o

Anh đi lâu hơn thế. Cô ngồi trong xe, trong bóng râm. Cánh cửa nhà mở – chỉ cửa lưới đóng. Cửa lưới có những mảnh vá, sợi kim loại mới đan với sợi cũ. Không ai ra nhìn đến cô, một con chó cũng không. Giờ đây khi xe đã ngừng, không gian ngập đầy sự im lặng bất thường. Bất thường vì trong một buổi chiều nóng nực như thế thường phải có tiếng côn trùng trong cỏ và trong bụi bách xù. Cho dù người ta không thấy chúng, tiếng kêu của chúng dường như dâng lên từ mọi thứ mọc trên mặt đất, xa đến tận chân trời. Nhưng đã gần cuối năm, có thể đã quá trễ thậm chí để nghe tiếng ngỗng kêu khi chúng bay về nam. Dù sao đi nữa, cô không nghe gì cả.

Dường như họ đang ở trên đỉnh thế giới. Bên dưới bốn phía là cánh đồng, chỉ những ngọn cây lộ ra, vì chúng mọc trên chỗ thấp hơn.

Neil biết ai sống trong nhà này? Một người đàn bà? Dường như loại phụ nữ anh muốn khó có thể sống ở một nơi như thế này, nhưng những chuyện lạ kỳ Grace có thể gặp hôm nay là bất tận. Bất tận.

Trước kia căn nhà đã từng là nhà gạch, nhưng có người đã bắt đầu phá những bức tường gạch xuống. Những tường gỗ trơn lộ ra bên dưới, và những viên gạch trước kia phủ quanh chúng giờ xếp ngổn ngang trong sân, có lẽ đang đợi bán. Những viên gạch còn lại trên tường phía trước tạo thành một đường chéo, những bậc thang, và Grace, không có chuyện gì để làm, tựa lưng ra sau và đếm. Cô làm việc này vừa nghiêm trang vừa ngu ngốc, cách người ta hái cánh hoa, nhưng không có những lời rõ ràng như Anh ấy yêu tôi, anh ấy không yêu tôi.

May mắn. Không may. May mắn. Không may. Đấy là tất cả điều cô dám nói.

Cô nhận thấy khó đếm những viên gạch xếp thành đường hình chữ z, nhất là vì đường ấy thẳng ra trên cánh cửa.

Rồi cô biết. Còn là gì được nữa? Chỗ nấu rượu lậu. Cô nghĩ đến người nấu rượu lậu trong thị trấn nơi dì dượng của cô ở – một người đàn ông già gầy gò, say mèm, ủ rũ và đáng ngờ. Ông ta ngồi trên bậc thềm trước nhà với một khẩu súng vào tối Halloween. Ông vẽ những con số trên những thanh củi đốt chất cạnh cửa ra vào để ông biết có khúc nào bị trộm hay không. Cô nghĩ đến ông ta – hoặc người nấu rượu lậu này – ngủ gà gật trong cái nóng, trong căn phòng dơ bẩn nhưng gọn ghẽ của mình (cô biết nó sẽ như thế vì những mảnh vá trên cửa lưới), đứng dậy từ ghế dựa hoặc giường nhỏ kêu cọt kẹt, quấn mình trong một tấm chăn ghép dính bẩn mà một người phụ nữ thân thuộc của ông, một người phụ nữ giờ đã chết, đã may từ rất lâu.

Không phải cô đã từng vào nhà một người nấu rượu lậu, nhưng ở quê cô, những bức chắn mỏng dính phân chia những lối sống cũ mòn đáng trọng và không đáng trọng. Cô biết mọi chuyện như thế nào.

Lạ lùng làm sao là cô đã nghĩ sẽ trở thành một trong số họ – một người nhà Travers. Kết hôn với Maury. Đấy sẽ là một thứ phản trắc. Nhưng đi cùng với Neil thì không phải là phản trắc, vì anh không may – anh biết vài điều cô biết.

Rồi cô dường như có thể thấy dượng của cô trong cánh cửa, lưng còng và kinh ngạc, nhìn cô như thể cô đã cách xa rất nhiều năm. Như thể cô đã hứa về nhà và rồi quên mất, và suốt thời gian ấy lẽ ra ông đã chết nhưng lại chưa chết.

Cô gắng nói với ông, nhưng ông không hiểu. Cô đang thức giấc, đang di chuyển. Cô ở trong chiếc xe với Neil, lại đi trên đường. Cô đã há miệng ngủ và cảm thấy khát. Anh quay về phía cô trong một thoáng, và cô để ý, ngay cả trong làn gió chung quanh họ, một mùi whiskey mới.

“Em thức chưa? Khi tôi ra em đang ngủ say,” anh nói. “Xin lỗi – tôi phải xã giao một lúc. Em buồn tiểu không?”

Thực ra, đấy là một vấn đề cô nghĩ đến trong lúc chờ đợi. Cô đã nhìn thấy nhà tiêu phía sau nhà, nhưng cảm thấy e thẹn không muốn rời xe và bước về phía ấy.

Anh nói, “Chỗ này xem được đây,” và ngừng xe. Cô ra khỏi xe và đi vào đám hoa dại đang nở bông để ngồi xổm xuống. Anh đứng giữa những bông hoa phía bên kia, xoay lưng lại phía cô. Khi cô vào xe, cô nhìn thấy chai rượu trên sàn cạnh chân cô. Hình như nó đã cạn hơn một phần ba.

Anh thấy cô nhìn.

“Ôi, đừng sợ,” anh nói. “Tôi mới đổ ít vào đây.” Anh giơ một bình rượu nhỏ lên. “Tiện hơn khi lái xe.”

Trên sàn cũng có một chai Coca-Cola. Anh bảo cô tìm cái mở chai trong ngăn để găng tay.

“Nó lạnh!” cô ngạc nhiên nói.

“Tủ đá. Họ cắt băng ở hồ vào mùa đông và trữ trong mạt cưa. Ông ta trữ dưới hầm nhà.”

“Em nghĩ em nhìn thấy dượng em ở cửa căn nhà ấy,” cô nói. “Nhưng em nằm mơ.”

“Em có thể kể về dượng em. Kể về nơi em ở. Công việc của em. Gì cũng được. Tôi chỉ muốn nghe em nói.”

Có một sức mạnh mới trong giọng nói của anh, một sự thay đổi trên mặt anh, nhưng không phải là vầng sáng điên rồ của say sưa. Anh như bị bệnh – không nặng lắm, chỉ chớm bệnh, mỏi mệt – và bây giờ muốn cô yên tâm rằng anh không sao. Anh đóng nút bình rượu, đặt nó xuống và tìm lấy bàn tay cô. Anh nắm nhè nhẹ, như một người bạn.

“Ông già lắm,” Grace nói. “Thực ra ông là ông dượng. Ông là người đan mây – có nghĩa ông đan mây cho ghế. Em không thể giải thích, nhưng em có thể làm cho anh xem, nếu chúng ta có ghế để đan – “

“Tôi không thấy cái ghế nào.”

Cô cười, và nói. “Chán lắm, thực đấy.”

“Thế thì nói xem em thích gì. Em muốn biết gì?”

Cô nói, “Anh.”

“Ồ. Em muốn biết gì ở tôi?” Bàn tay anh rời đi.

“Điều anh đang làm,” Grace cương quyết nói. “Tại sao.”

“Ý em là uống rượu? Tại sao tôi uống rượu?” Nút bình rượu lại mở. “Tại sao em không hỏi tôi?”

“Vì em biết anh sẽ nói gì.”

“Cái gì? Tôi sẽ nói gì?”

“Anh sẽ nói, ‘Còn gì khác để làm đâu?’ hoặc đại loại như thế.”

“Đúng vậy,” anh nói. “Tôi sẽ nói thế. Rồi em sẽ tìm cách bảo tôi tại sao tôi sai.”

“Không,” Grace nói. “Em sẽ không nói thế.”

Khi cô nói thế, cô cảm thấy lạnh lẽo. Cô đã nghĩ cô thực lòng, nhưng giờ cô thấy cô đang tìm cách gây ấn tượng với anh, chứng tỏ cô cũng sành sõi như anh, và trong lúc làm thế cô đã nhìn thấy sự thật tuyệt đối, một sự vô vọng chân thực, hợp lý, vĩnh viễn. Bây giờ, khi cô đã có thể nhìn thấy, không có chút gì yên ủi trong điều cô nhìn thấy.

Neil nói “Không à? Không. Em sẽ không nói. Thật là đỡ. Em làm tôi nhẹ nhõm, Grace.”

Một lúc sau anh nói “Em biết không, tôi buồn ngủ. Tìm được chỗ tốt là tôi sẽ ngừng xe và ngủ. Chỉ một lúc thôi. Em có phiền không?”

“Không. Em nghĩ anh nên ngủ.”

“Em sẽ trông chừng tôi chứ?”

“Vâng.”

“Tốt.”

Anh tìm thấy chỗ trong một thị trấn nhỏ tên là May mắn. Ngoài bìa thị trấn, cạnh một dòng sông, có một công viên và một chỗ đậu xe trải sỏi. Anh ngã ghế về phía sau, và lập tức thiếp ngủ. Buổi chiều tối đã đến lúc ấy, vào giờ bữa ăn chiều, chứng tỏ ngày hôm nay quả không phải là một ngày hè. Trước đó ít lâu, người ta đã ăn lễ Tạ ơn ngoài trời ở đây – vẫn còn ít khói tỏa lên từ bếp lửa ngoài trời, và mùi thịt nướng trong không gian. Mùi ấy không hẳn làm Grace đói – nó khiến cô nhớ sự đói bụng trong những tình thế khác.

Người cô lấm bụi vì những lần ngừng và khởi động máy của bài học lái xe của mình. Cô rời xe và ra sức rửa tay rửa mặt ở một vòi nước ngoài trời. Rồi, gượng nhẹ với cái chân bị đứt, cô chậm chạp bước đến bên bờ sông, thấy nó rất nông, với những ngọn cỏ lau trồi lên trên mặt nước. Một dấu chỉ dẫn cảnh cáo rằng chửi thề, nói bậy, nói tục ở đây sẽ bị trừng phạt.

Cô thử xích đu đối diện hướng tây. Nhún mình lên cao, cô nhìn bầu trời trong trẻo – màu xanh lá cây nhàn nhạt, màu vàng đang phai, màu hồng rực ở chân trời. Không gian đã trở lạnh.

Cô đã nghĩ nó là đụng chạm. Miệng, lưỡi, da, thân người, xương va vào xương. Bừng bừng nóng. Đam mê. Nhưng nó không phải là điều cô tìm kiếm. Cô đã nhìn sâu, sâu vào trong anh hơn cô có thể nếu họ đã ngã theo hướng ấy.

Điều cô nhìn thấy là tận cùng. Như thể cô ở bên vùng nước đen thẫm phẳng lặng kéo dài vô tận. Nước phẳng lặng, lạnh lẽo. Nhìn ra mặt nước tối, phẳng lặng, lạnh lẽo ấy, và biết rằng tất cả chỉ có thế thôi.

Không phải vì tật nghiện rượu. Uống rượu, nhu cầu uống rượu – đấy chỉ là một thứ làm xao nhãng, như mọi thứ khác, ngoài thứ đang luôn chờ đợi, cho dù thế nào đi nữa.

Cô trở về xe và tìm cách thức anh dậy. Anh cựa quậy nhưng không thức. Thế nên cô lại đi vòng quanh để làm ấm người, và tập cách dùng cái chân đau dễ dàng nhất – giờ cô đã hiểu ra rằng cô sẽ lại làm việc, phục vụ bữa điểm tâm vào sáng mai.

Cô thử lần nữa, thúc giục anh. Anh đáp lại bằng những lời hứa hẹn và lẩm bẩm khác nhau, rồi lại ngủ. Đến lúc trời tối hẳn thì cô chịu thua. Giờ đây khi hơi lạnh ban đêm đã đến, vài sự thật khác trở nên rõ ràng với cô: họ không thể ở lại đây, rốt lại họ vẫn còn trong thế giới, và cô phải trở về Thác Bailey.

Khá chật vật cô mới dời được anh sang ghế hành khách. Nếu chuyện ấy không đánh thức anh, rõ ràng chẳng còn gì có thể. Phải mất một lúc cô mới biết cách bật đèn xe, và rồi cô bắt đầu lái xe, xóc nảy, chậm chạp, trở lại con đường.

Cô không biết phương hướng, và không có ai trên đường để hỏi. Cô chỉ tiếp tục lái, đến phía bên kia cùa thị trấn, và ở đấy, may mắn làm sao, là dấu chỉ đường đến Thác Bailey, trong số những dấu chỉ đường khác. Chỉ có 9 dặm.

Cô lái dọc theo xa lộ 2 đường xe chạy, không bao giờ quá 30 dặm một giờ. Không có bao nhiêu xe cộ. Một hai lần có chiếc xe vượt qua, bóp còi, và vài xe chạy ngược hướng cũng bóp còi. Một lý do có lẽ vì cô lái quá chậm, và lý do khác là cô không biết cách tắt đèn pha. Không sao. Cô không thể ngừng để thu thập can đảm. Cô phải cứ tiếp tục, như anh đã nói. Cứ tiếp tục.

Thoạt tiên cô không nhận ra Thác Bailey vì cô đến theo hướng không quen. Khi cô nhận ra, cô hoảng sợ hơn suốt 9 dặm vừa qua. Lái xe chỗ xa lạ là một chuyện, rẽ vào cổng quán trọ lại là chuyện khác.

Anh thức giấc khi cô ngừng trong bãi đậu xe. Anh không tỏ vẻ ngạc nhiên rằng họ ở đấy, hoặc vì những chuyện cô đã làm. Thật ra, anh bảo cô, tiếng kèn xe đã đánh thức anh nhiều dặm đường trước, nhưng anh giả vờ ngủ vì điều quan trọng là không nên làm cô giật mình. Tuy thế anh không lo lắng. Anh biết cô sẽ lái được.

Cô hỏi anh đủ tỉnh ngủ để lái xe chưa.

“Hoàn toàn tỉnh táo. Sáng láng như đồng cắc.”

Anh bảo cô tuột chân ra khỏi giày, và anh nắn chỗ này chỗ kia, trước khi nói “Tốt. Không bị nóng. Không bị sưng. Tay của em có đau vì mũi chích không? Có thể sẽ không đau.” Anh đưa cô đến cửa, và cám ơn sự bầu bạn của cô. Cô vẫn kinh ngạc rằng mình đã về an toàn. Hầu như cô không nhận ra đấy là lúc nói từ giã.

Thật ra, cho đến ngày hôm nay, chị không biết anh đã nói những lời ấy hay anh chỉ nắm lấy chị, quàng tay anh quanh người chị, ôm chị thật chặt, với sức ép liên tục và thay đổi như thể phải cần hơn hai cánh tay, như thể anh đã vây bọc lấy chị, thân thể anh vừa mạnh mẽ vừa nhẹ bỗng, vừa đòi hỏi vừa khước từ, nói với chị rằng chị đã sai khi buông rời anh, tất cả là có thể, nhưng quả thật chị không sai, anh đã định đóng dấu ấn của chính mình lên người chị rồi đi.

o0o

Buổi sáng sớm, người quản lý gõ cửa phòng trọ, gọi Grace.

“Cô có điện thoại,” ông nói. “Khỏi phải dậy – họ chỉ muốn biết cô có ở đây không. Tôi nói tôi sẽ đi xem thử. Giờ thì O.K. rồi.”

Đấy chắc là Maury, cô nghĩ. Dù sao cũng là một người trong số họ. Nhưng có lẽ là Maury. Giờ cô phải đối mặt với Maury.

Khi cô xuống phục vụ bữa điểm tâm – mang giày thể thao, một chiếc cột giây lỏng – cô nghe về tai nạn. Một chiếc xe đã đâm vào chân cầu khoảng nửa đường đến Hồ Sabot. Chiếc xe lút sâu vào đấy – hoàn toàn bẹp dí và cháy rụi. Không có xe nào khác trong tai nạn, và rõ ràng không có hành khách. Người lái phải được nhận diện bằng hồ sơ răng. Hoặc đã được nhận diện vào lúc ấy.

“Thật là hết cách,” người quản lý nói. “Tự cắt cổ có hơn không.”

“Có thể chỉ là tai nạn,” người đầu bếp có tính lạc quan nói. “Có thể chỉ là ngủ gật.”

“Còn lâu.”

Cánh tay cô đau, như thể mới bị đánh một cú nặng. Cô không thể cầm vững chiếc khay, và phải dùng hai tay ôm nó trước mặt.

o0o

Cô không phải đối mặt với Maury. Cậu viết cho cô một lá thư.

Em chỉ cần nói anh ấy đã ép buộc em. Em chỉ cần nói em đã không muốn đi.

Cô viết 4 chữ trả lời. Em đã muốn đi.

Cô sắp thêm, Em xin lỗi, nhưng lại thôi.

o0o

Một vài ngày sau ông Travers đến quán trọ để gặp cô. Ông lễ phép và vô cảm, cứng rắn, lạnh nhạt, không phải tàn nhẫn. Giờ cô nhìn thấy ông trong tình thế biểu lộ con người thực của ông. Người đàn ông có thể nắm quyền, có thể thu vén mọi chuyện. Ông nói chuyện ấy rất buốn, tất cả mọi người rất buồn, nhưng tật nghiện rượu là một thứ đáng sợ. Khi bà Travers khá hơn một chút, ông sẽ đưa bà đi du lịch, đến một nơi nào ấm áp.

Rồi ông nói ông phải đi. Ông phải làm nhiều chuyện. Khi ông bắt tay từ giã cô, ông đặt một bao thư vào đấy.

“Cả hai chúng tôi hy vọng nó có thể giúp cháu,” ông nói.

Tấm ngân phiếu một ngàn đô la. Lập tức cô nghĩ đến chuyện gửi trả lại hoặc xé đi, và ngay cả bây giờ chị vẫn nghĩ rằng nếu làm vậy thì rất hay. Nhưng cuối cùng, chị đã không thể làm thế. Lúc ấy, đó là số tiền đủ để bảo đảm cho chị một cơ hội trong cuộc sống.

 

(1) Trích Elegy Written in a Country Churchyard (1750) (Khúc bi thương viết trong sân nhà thờ thôn quê)

Full many a gem of purest ray serene,
The dark unfathomed caves of ocean bear:
Full many a flower is born to blush unseen,
And waste its sweetness on the desert air.

Nhiều châu ngọc tinh khôi nhất
Nằm trong những động thăm thẳm dưới đại dương
Nhiều đóa hoa chào đời rồi nở không ai biết
Hoài phí ngọt ngào giữa trời sa mạc

bài đã đăng của Alice Munro


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)
porn ficken russian porn japanese porn watch porn watch sex izle sex izle anal porn tube amateur porn watch