Trang chính » Biên Khảo, Học Thuật, Lịch Sử, Nghiên Cứu Email bài này

Lê Quýnh (phần 3)

 

LÊ QUÝNH
1750-1805

 

 

Một nhà nho chống Pháp bị bắt cuối thế kỷ XIX
Nguồn: Georges Buis & Charles Daney: Quand les Français découvraient l’Indochine
Paris: Herscher, 1981 tr. 39

 

我輩頭可斷,髮不可薙,皮可削,服不可易也。

Ngã bối đầu khả đoạn, phát bất khả thế,
bì khả tước, phục bất khả dịch dã.[1]

(Bọn ta đầu có thể chặt, [nhưng] tóc không thể cắt,
da có thể lột,
[nhưng] y phục không thể đổi.)

 

 

 

PHẦN III

 

BỊ GIAM Ở BẮC KINH

 

 

 

TRONG NGỤC

 

Sau lần đề thẩm, bốn người bị chính thức tống giam với bản án “bất tuân thượng lệnh” mà theo lời thuật của Lê Quýnh thì họ bị quản thúc ở nhà ngục phía bắc bộ Hình [Bắc Sở], hai người một nơi và cũng không được liên lạc với nhau.

Ngày 14 tháng Năm quân cơ đại thần lại tâu lên vua Càn Long như sau:

Ngày mồng 10 tháng này bọn thần tuân chỉ gửi cho đường quan bộ Hình khai đường mở lối cho bọn Lê Quýnh một lần nữa, chia ra vặn hỏi từng người.

Theo như lời trình lại thì bọn Lê Quýnh từ ngày mồng 8 sang ngày mồng 9 hai ngày không chịu ăn uống gì cả. Ti viên đó mới hỏi duyên cớ vì sao không chịu ăn, theo lời Lê Quýnh viết ra [nguyên văn tả xưng – 寫稱 nghĩa là khai bằng cách viết ra giấy vì hai bên không hiểu tiếng nói của nhau] thì y bị chướng muộn trong bụng, xem ra không thể ép được. Bọn họ tính tình ngang bướng vì thế nên nhân viên đ lao theo bình thường cung cấp đăn uống cho họ tự tiện.

Cứ theo lời bẩm của người thừa biện, bọn Lê Quýnh sau lần tra hỏi ngày mồng 8 đã từng viết giấy hỏi rằng liệu họ có được thả ra hay không? Ti viên đó trả lời là khi nào các ngươi chịu cạo đầu thay áo thì sẽ thả ra ngay. Bọn Lê Quýnh viết lại rằng sau khi họ được gặp cố chủ rồi nay chỉ còn cái chết mà thôi.

Bọn họ biết hoàng thượng không nỡ gia hình nên nhất định đòi chết là việc không thể được để mong được thả ra cho v nước chứ không dám nhịn đến chết đói đâu. Thế nhưng vào giờ phút này nếu khuyến dụ thêm nữa thì bọn họ sẽ càng được thể kiên quyết xin được chết.

Xem trong bốn người thì chỉ có Lê Quýnh và Trịnh Hiến tính tình cang cường còn Lê Trị và Lý Bỉnh Đạo có vẻ dễ tỉnh ngộ hơn cho nên nay đã chia bọn Lê Quýnh ra giam riêng biệt không cho gặp nhau, đợi thêm vài ngày nữa xem xét tình hình rồi tuân theo thánh dụ đưa Lê Trị và Lý Bỉnh Đạo ra khai đường mở lối trước.

Nếu hai người này tự biết cải hối mà tình nguyện thế phát dịch phục thì Lê Quýnh và Trịnh Hiến cũng sẽ từ từ cải hoá, lúc ấy sẽ có đầu mối để biện lý và trình lên sau.

Xin tâu lên.[2]

Từ đó cho tới cuối năm, vua Càn Long và các đại thần bận rộn chuyện tổ chức lễ Bát Tuần Khánh Thọ nên không thấy đề cập gì hơn. Những người bị giam chắc chắn không biết gì về bên ngoài và ngay cả nhóm vua Lê đang ở Bắc Kinh cũng chỉ là những bóng mờ chính trị, tin tức biết được đều do lời người khác thuật lại hay tin đồn. Các viên cai ngục thì theo chỉ thị của vua Càn Long thỉnh thoảng tìm cách dụ dỗ bọn Lê Quýnh đổi ý nhưng không đi đến đâu.

Theo lời thuật của Lê Quýnh thì tháng Sáu, quan coi ngục lại đưa những bầy tôi đi theo vua Lê là Đinh Nhạ Hành [丁迓衡], Phạm Như Tùng [范如松], Nguyễn Quốc Đống [阮國棟] vào trong ngục thăm hỏi.

Những người này cho hay họ được lệnh của Kim Giản [tức đô thống Kim Giản, người đảm trách việc quản thúc và lo liệu cho nhóm nhà Lê] sai đến khuyên bảo “các ông [nhóm Lê Quýnh] hãy cạo đầu” nhưng họ biết không thể được nên chỉ tương kế để có dịp đến thăm nhau mà thôi.

Những lời họ trao đổi và an ủi lẫn nhau còn được ghi lại trong Bắc Hành Lược Ký.

Tháng Một năm đó, quan nhà Thanh đưa con trai Lê Quýnh là Lê Doãn Toàn [黎允全] (mới được đưa lên ở với vua Chiêu Thống) đến nói Lê Quýnh cạo đầu thì vua tôi cha con sẽ được đoàn tụ. Lê Quýnh đáp rằng thơ Văn Sơn [文山][3] có viết rằng: “Ta lo việc cương thường, Có nhà nhưng không dám nghĩ đến”[4] không thể vì chuyện riêng tư thân mình, nhà mình mà quên nghĩa công.

Tháng Chạp, thượng thư bộ Hình là Hồ Quí Đường đến tận nơi khuyên rằng nếu như các ngươi không chịu cạo đầu thì sẽ chết già trong ngục, xác bỏ nơi đề lao, hối hận cũng không kịp nữa.

Lê Quýnh đáp rằng nếu quan lớn bảo Lê Quýnh tình nguyện thì vạn lần không dám còn như việc chết già chôn thây thì Lê Quýnh cũng không dám, chỉ có ba chữ “dĩ mạc tu” [以莫須] để trông mong ở đại nhân vậy.

Thấy việc chia họ ra để dụ dỗ không đi đến đâu nên nhà Thanh lại sai giam ở ngục phía bắc, bốn người ở chung một nơi. Xét theo tình hình, thời điểm này lễ Bát Tuần Khánh Thọ đã hoàn tất, phái đoàn Quang Trung đã rời khỏi kinh đô và một số người trong nhóm tòng vong tình nguyện trở về cũng đã được toại nguyện theo thoả hiệp của nhà Thanh và triều đình Tây Sơn. Nhà Thanh cũng yêu cầu vua Quang Trung đi tìm thân nhân những người đang ở Trung Hoa đưa sang đoàn tụ.

Trong những năm tháng kế tiếp, cuộc đời tù ngục thực không có gì đáng nói ngoài một số sự kiện nho nhỏ. Khi vua Lê còn sống, thỉnh thoảng nhóm Lê Quýnh có nhận được một số thư từ thăm hỏi, vài lạng trà, mươi lạng bạc. Tin tức qua lại không nhiều và chúng ta chỉ còn biết đến một số thơ văn xướng hoạ.

 

VỤ ÁN XIN VỀ NƯỚC CỦA VUA LÊ

Như đã tường thuật trong hai biên khảo “Lê Duy Kỳ, đáng thương hay đáng trách?” và “Lễ Bát Tuần Khánh Thọ của vua Cao Tông và phái đoàn Đại Việt” của Nguyễn Duy Chính, sau khi công nhận Tây Sơn, những đòi hỏi không ăn khớp với chủ trương của triều đình nhà Thanh đều bị nghiêm trị.

Lê Quí Dật Sử viết:

[…] Tháng 10 [năm Canh Tuất, 1790], biết không thể trông cậy vào người nhà Thanh, vua Chiêu Thống cùng b tôi đồng tâm quyết chí mưu tính kế khác, lựa chọn 10 người b tôi: Phạm Như Tùng, Hoàng Ích Hiểu, Lê Hân, Nguyễn Quốc Ðống, Nguyễn Viết Triệu, Lê Văn Trương, Lê Quí Thích và Nguyễn Ðình Cẩm (người Từ Liêm), Lê Tùng (người Tây Ðàm), Lê Thức (người Hoằng Hóa) cùng uống máu ăn th, thảo tờ biểu…[5]

Tuy không nói rõ là tờ biểu xin điều gì nhưng theo tài liệu nhà Thanh thì họ xin với vua Càn Long can thiệp để Nguyễn Quang Bình đem một trong bốn tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Hưng Hoá cắt cho con cháu nhà Lê để phụng thờ tông miếu.

[…] Mùa đông năm ngoái [tức năm Canh Tuất 1790] bỗng bẩm với đô thống cai quản Kim Giản khẩn khoản xin trở v An Nam, lại xin cấp cho một trong bốn xứ Cao Bình, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Hưng Hóa để ở, ngu xuẩn hão huyn đến thế. Cứ theo đô thống Kim Giản tâu lên Lê Duy K tầm thường vô năng, nghe lời bọn Hoàng Ích Hiểu, Phạm Như Tùng, Nguyễn Quốc Ðống, Lê Hân xúi biểu nên vọng thỉnh chuyện đó. Còn bọn Lê Quang Duệ 20 người thì cũng không chịu lãnh lương cùng xin theo v đu là bọn gây chuyện nên đã xin phát vãng bốn tên đó [tức Hoàng Ích Hiểu, Phạm Như Tùng, Nguyễn Quốc Ðống, Lê Hân] ra Y Lê làm lính ăn lương, còn bọn Lê Quang Duệ thì đưa đi Giang Ninh an tháp.[6]

Nói đúng ra, việc xin một khu vực để dung thân không phải là chưa từng có trong lịch sử nước ta. Trước đây, khi con cháu nhà Mạc bị đánh bại chạy sang đầu hàng nhà Thanh, năm Khang Hy thứ 8 [Kỷ Dậu, 1669], vua Khang Hy cũng đã sai sứ sang bắt vua Lê Huyền Tông đem bốn châu thuộc Cao Bằng cho Mạc Kính Vũ (tức Mạc Nguyên Thanh theo sử nhà Thanh). Khâm Ðịnh Việt Sử, quyển XXXIII, tr 25-6 viết:

Tháng Giêng, năm ấy [tức năm Kỷ Dậu 1669] sứ nhà Thanh đến Thăng Long, triu đình nhà Lê dùng lý lẽ biện bác bắt bẻ, kéo dài đến hơn 10 ngày mới tuyên bố sắc văn, rồi lại bàn cho họ Mạc được giữ một châu Thạch Lâm, nhưng Lý Tiên Căn cũng cố giữ lẽ, không nghe, thành ra giằng co đến hơn 40 ngày. Sau Tạc [chúa Trịnh Tạc] lấy cớ rằng “thờ nước lớn cần phải cung kính theo mệnh lệnh”, mới tâu với vua gượng gạo theo lời. Triu đình bèn bỏ đất bốn châu thuộc Cao Bằng cho Kính Vũ[7]

Nay vua Chiêu Thống và tòng thần xin một mảnh đất dung thân cũng không có gì trái lệ. Tuy nhiên Thanh triều khi ấy đang có những liên hệ tốt với vua Quang Trung, không muốn làm điều gì bất lợi cho sự ổn định của An Nam nên không chấp thuận yêu cầu đó. Không những thế, những người chủ trương còn bị trừng phạt, Hoàng Ðình Cầu, Bế Nguyễn Cung 49 người bị an trí tại Giang Ninh, cấp đất cho làm ruộng sinh sống, bọn Hoàng Ích Hiểu bị phát vãng sang tận Y Lê (Tân Cương)[8], bọn Phạm Như Tụng thì bị đày lên Hắc Long Giang, Nguyễn Quốc Ðống bị đưa qua Cát Lâm, Lê Hân (黎忺) bị đày đi Phụng Thiên, Lê Quang Duệ (黎光睿) cả bọn 20 người bị đày đi Nhiệt Hà, giao cho quan lại địa phương quản thúc để không còn có thể liên lạc với nhau.[9]

Cũng theo tờ dụ ngày 20 tháng Tư năm Càn Long 56 [1791], bọn Hoàng Ích Hiểu dù đã bị đi đày làm lính thú cũng chỉ được hưởng một nửa lương. Tấu thư của Kim Giản cùng với châu phê của vua Càn Long được gửi cho Nguyễn Quang Bình xem, vua Càn Long ra lệnh thân quyến người nào tìm được thì đưa sang, nếu chưa tìm được thì đình lại.

Vì việc này, bọn Lê Quýnh đang bị giam trong ngục cũng bị cô lập, không còn liên lạc được với vua Lê nữa. Vua Càn Long cũng ra lệnh cho Kim Giản quản thúc riêng một nơi [nguyên văn cấm cố] một số người [bao gồm thủ hạ của Ðinh Nhạ Hành, Phan Khải Ðức, Lê Quýnh] không được tiếp xúc với bên ngoài.[10] Vua Chiêu Thống cũng bị cắt hết bổng lộc, chức tước nên đời sống càng thêm cơ cực.

Tháng Sáu năm Càn Long 56 [Tân Hợi, 1791], Lê Quýnh có nói với quan coi ngục nhà Thanh là quần áo ông rách nát, xin may cho một bộ mới theo kiểu nước Nam. Việc này quan đề lao không dám tự chuyên nên đã trình lên vua Càn Long nay trong Thượng Dụ Đáng còn khẩu dụ của hoàng đế nguyên văn như sau: [11]

Bọn Lê Quýnh vì quần áo đã cũ rách nên xin may cho áo mới để thay nên dụ rằng:

Bọn các ngươi muốn được cấp quần áo thì chỉ chuẩn cho dùng y phục kiểu Trung Hoa. nếu như xin đòi may theo dạng thức nước mình thì Trung Hoa không may theo kiểu này nên không có mà cho được. Còn như không chịu thay đổi y phục thì chỉ đành phải mặc áo rách thôi.

Kể cho họ biết rằng người Hồi không ăn thịt heo, khi bị giam cũng cứ theo lệ cấp cho ăn uống chứ không phải vì không ăn thịt heo mà cho thức ăn khác. Đem lệnh dụ này báo cho A Quế biết để thi hành. Khâm thử.

Có lẽ vì thế mà đến hơn 10 năm sau, nhóm Lê Quýnh vẫn chỉ mặc bộ quần áo rách rưới mang từ trong nước sang như sử nước ta tường thuật.

 

VỤ ÁN ÁM THÔNG CỐ QUỐC

Năm Nhâm Tí [1792] lại nảy ra vụ án “ám thông cố quốc”. Nguyên trước đây khi vua Quang Trung sang Bắc Kinh, vua Càn Long có yêu cầu cho một số người đi theo vua Lê được về nước đồng thời yêu cầu tìm những thân nhân của người muốn ở lại Trung Hoa được sang đoàn tụ.

Ngay khi về đến Thăng Long, vua Quang Trung đã xúc tiến việc này nhưng việc nội trị còn nhiều chuyện quan trọng hơn nên cũng không sốt sắng cho lắm. Năm sau, nhân vụ đánh dẹp dư đảng nhà Lê, Nguyễn Quang Bình đã trình lên rằng một số người trở về đã nhận được lệnh của vua Chiêu Thống liên lạc với ông hoàng Ba Lê Duy Chỉ để âm mưu nổi dậy. Những người bị tra hỏi có cả nhóm Lê Quýnh đang còn ở trong ngục gây ra một số nghi vấn và suy đoán.[12]

Lê Quýnh thuật lại như sau trong Bắc Hành Lược Ký:

Năm Nhâm Tí [Càn Long 57]

Tháng Năm. Được quân cơ đại nhân cho gọi Lê Quýnh lên Nội Vụ Phủ, hỏi rằng trước đây ngươi có ý khôi phục, đến nay số cùng chung chí hướng còn được bao nhiêu người? Người em của chủ ngươi là Lê Duy Chỉ có nên theo giúp không?

Quýnh trả lời rằng:

Họ Lê có được nước hơn bốn trăm năm, ân trạch đối với dân chúng rất sâu xa. Nay bị mất nước nên lòng người thương xót, sau đó được thiên triều lấy danh nghĩa phù Lê, khi đó mọi người trong nước đều theo họ Lê, không ai mưu tính mà cùng một lòng đủ thấy người người đều cùng chí hướng.

Từ khi cố chủ sang phương Bắc, Lê Quýnh ở nhà nhận lệnh vương phi sai đi tụ tập cựu thần và các thế tộc, phiên mục, thổ hào được hơn hai trăm người, thủ hạ kẻ thì hơn nghìn, người vài ba trăm nói chung không phải là ít.

Thế nhưng đến nay cũng đã ngoài ba năm, Nguyễn Huệ được phong vương, thiên mệnh đã định rồi, xem mệnh trời thì biết được lòng người. Ngày hôm nay thời cũng khác mà thế cũng khác, người vẫn một lòng một dạ không biết còn được bao nhiêu.

Nếu như em trai của tệ chủ Lê Duy Chỉ sau khi tệ chủ xuất bôn cũng có thể tụ tập được ba bốn chục người giữ được một mảnh đất chống lại Nguyễn Huệ. Có điều y tuổi còn trẻ lại không có chỗ dựa nên e cũng đã bị Nguyễn Huệ làm hại, nếu như còn sống thì không chắc gì tranh đoạt được mệnh trời.[13]

Nhiều năm sau, bốn người bị giam hầu như biệt lập với bên ngoài không còn biết đến những gì đang xảy ra, kể cả việc vua Chiêu Thống và nguyên tử qua đời [Quí Sửu, 1793]. Lê Quýnh chỉ ghi lại được một số tâm sự qua văn thơ ông làm về một vài biến cố nhỏ. Một đôi khi, nhóm Lê Quýnh lại được gọi lên dụ dỗ cắt tóc nhưng cũng chỉ cho có chuyện.

 

VỤ ÁN HẢI PHỈ NGƯỜI NƯỚC NAM

Năm Kỷ Dậu (1789), giám mục Pigneau de Béhaine từ Pháp trở về đem theo một số chiến thuyền và sĩ quan người Pháp góp phần vào việc cải cách ở Đàng Trong, thế lực chúa Nguyễn ngày càng mạnh lên. Năm Nhâm Tí (1792), quân Nguyễn đánh bại thuỷ quân của Nguyễn Nhạc ở Qui Nhơn, năm sau đã vào đến Nha Trang.

Sau khi vua Quang Trung qua đời năm Nhâm Tí (1792), tình hình Đàng Ngoài lâm vào cảnh rối ren. Năm Ất Mão (1795), Ngô Văn Sở bị Vũ Văn Dũng vu cho là làm phản giết đi. Một số đầu mục thuỷ quân vốn là bộ hạ cuả Ngô Văn Sở không còn phục tùng triều đình nên quay ra biển làm hải khấu. Cũng có tài liệu cho rằng vì tình hình khó khăn, triều đình Tây Sơn phải uy hiếp các thuyền buôn để có thêm ngân khoản trang bị cho quân đội đối phó với chúa Nguyễn.

Theo báo cáo của nhà Thanh, một số thuyền buôn đi Quảng Châu bị chặn lại và một số thuyền của cướp biển bị bắt gần bờ biển Mân Triết, Quảng Đông đã có thuỷ thủ ăn mặc theo lối nước ta mang giấy tờ đóng dấu quan chức An Nam.[14] Sau đây là lời thuật của Lê Quýnh trong Bắc Hành Lược Ký:

Năm Đinh Tị [Gia Khánh thứ 2] (1797)

Gặp được người đàn bà họ Phan, quê ở Nghệ An nước ta vốn là gia quyến của cướp biển, bị bắt giam ở trại tù nữ giới ngục bắc. Bèn hỏi thăm mới biết phía đông thành Phú Xuân thuộc Nguyễn Vương [tên Quang Toản], hiệu Cảnh Thịnh, Quảng Nam thuộc Nguyễn Vương [tên Nhạc], hiệu Thái Đức, Đồng Nai thuộc cháu của chúa Nguyễn tên Chủng, tức Nguyễn Ánh, nhưng vẫn đ niên hiệu Cảnh Hưng. Ba người thế chân vạc. Năm ngoái quân của Cảnh Thịnh và quân Đồng Nai giao chiến trên mặt biển, không phân thắng bại, nay đang đóng thuyn đúc súng, tuyển quân, tích lương để tính chuyện đánh với Đồng Nai lần nữa.

Mấy năm qua mất mùa, dân chúng không sống nổi, quả đúng là:

山河破碎水漂絮,

身世浮沈風打萍。

Sơn hà phá toái thuỷ phiêu nhứ,
Thân thế phù trầm phong đả bình.

Núi sông tan vỡ nước chảy lênh láng,
Thân thế nổi trôi như gió dập cánh bèo.

Người đàn bà họ Phan bị giải lên Bắc Kinh có lẽ là vợ một tướng lãnh Tây Sơn vì bà ta biết khá rõ và chính xác tình hình trong nước mà người thường không thể am tường.

 

 

BẤT KHUẤT TRONG NGỤC

 

Tháng Chạp năm Đinh Tị (1797), một người cai ngục họ Tống tỏ vẻ khinh lờn, Lê Quýnh viết lá thư sau đây trình lên quan:

Lê Quýnh là cô thần từ xa vạn dặm, bị giam nay đã tám năm, từng được liệt vị nhiu lần trông xuống nên mọi sự đu dung tha, để cho loài kiến bọ được theo cái tính của mình, quả thật cảm kích không đâu cho hết. Vì thế nên mới giãi bày mong được chiếu cố.

Lê Quýnh là quan vong quốc nên vốn không mong được sống, còn như bọn Lý Bỉnh Đạo vì việc nước việc nhà còn có điu chưa thoả nguyện nên mới chịu nạn chung với Quýnh này, lòng vẫn chưa an. Nay trong điu ăn tiếng nói, nếu như có chỗ chưa hết lời thì xin cứ tra hỏi một mình Quýnh đây là đủ, lễ thế cũng đủ mà pháp thế cũng vừa chứ còn ngoài ra không có gì khác nữa.

Bọn Lê Quýnh tuy ở bên ngoài vương hoá nhưng cũng sợ thiên hạ vạn đời sau chửi mắng nên mới cam tâm ở nơi đây, vốn chẳng phải tham sống mà bại hoại điu nghĩa, cũng không dám chết uổng để thương tổn điu nhân, trước nay chỉ sao cho son sắt, cốt sao không thẹn với lòng mình chứ có coi mấy chuyện vặt vãnh trong xã hội vào đâu. Cho nên vo tròn bóp bẹp sao cũng được, có gọi là trâu ngựa cũng chẳng sao. Còn lên mặt để ra uy thì cũng phải đến k tước mộc [xoá cái cũ làm cái mới, ý nói thay đổi luật lệ cũ], không phải quát nạt mà chúng tôi chịu nghe đâu.

Những ngày tháng kế tiếp ở trong ngục thực không có nhiều điều đáng nói ngoài một số văn thơ nhưng trong hoàn cảnh nào, bốn người nhóm Lê Quýnh cũng nhất định không chịu khuất phục.

 

BẮC SỞ TỰ TÌNH

Rằm tháng Giêng năm Kỷ Mùi [Gia Khánh thứ tư] (1799) thượng hoàng Cao Tông [tức vua Càn Long] mới qua đời nên triều đình không cho thắp đèn, Lê Quýnh pha trà viết một bài phú nhan đề Bắc Sở Tự Tình [北所叙情] (thở than nơi nhà ngục phía bắc), lời rất lâm ly não nuột.

北所叙情

世事浮雲,飽見狗衣變態。

利腸熱火,空教蟻悃成灰。

値此黎氏弛綱,彼西渠搆難。

乍聽烏州鼓動,踴躍驅摶虎之羣羊。

條聞龍肚鐘移,間關跟渡江之匹馬。

蚊欲奮,負山之勢,

狐擬揚,托虎之威。

存孤初學晉程嬰,轉作包胥復楚佐。

漢後希韓孺子,翻成信國囚燕。

遇機之變靡常。

行事之情何暇。

萬里曾經冬雪。沐頭未剃而自髠。

十年無奈北風。吹冠不毀而盡裂。

心彷彿吐泥之蚓。

身依稀投爥之蛾。

沮洳場狗塢鷄栖,樂安有地。

幽囚境鼠肝蟲臂,賊予隨天。

方寸中惟愼于從。

職分內曷能無愧。

北海未生,馬角絲縈桂嶺九迴腸。

鼎湖莫逮,龍髯球滴冰天雙串淚。

公義已非敢望私情夫復何言。

白雲鎖樹指楡枌,空囑繫書之雁。

紅日含山瞻屺岵[15],偏慚反哺之烏。

致使忠孝字之兩虧。爲欠逋播臣之一死。

嗟自古誰能無死。欲了分恐或傷仁。

且爲人孰不悅生。欲從權恐尤害義。

明白但循天理。雌黄奚管人言。

牛馬任其呼。無羞心卽無愧色。

龍蛇安所遇。不怨天亦不尤人。

嗚呼。

獸有首邱之狐,禽有南枝之鳥。

宋珍裴伯[耆]在昔。拱北見丹衷。

惟僚黎光賁何人。指南完素願。

而今餘生猶未冺。皓首竟何歸。

悠悠彼天。曷其有極。

 

Dịch âm

Bắc Sở Tự Tình

Thế sự phù vân, bão kiến cẩu y biến thái.
Lợi trường nhiệt hoả, không giáo nghĩ khổn thành hôi.
Trị thử Lê thị trì cương, bỉ Tây cừ cấu nạn.
Sạ thính Ô châu cổ động, dũng dược khu đoàn hổ chi quần dương.
Điều văn long đỗ chung di, gian quan cân độ giang chi thất mã.
Văn dục phấn, phụ sơn chi thế,
Hồ nghĩ dương, thác hổ chi uy.
Tồn cô sơ học Tấn Trình Anh[16], chuyển tác Bao Tư phục Sở tá.
Hán hậu hy hàn nhụ tử, phiên thành Tín Quốc tù yên.
Ngộ cơ chi biến mi thường.
Hành sự chi tình hà hạ.
Vạn lý tằng kinh đông tuyết, mộc đầu vị thế nhi tự khôn.
Thập niên vô nại bắc phong, xuy quan bất huỷ nhi tận liệt.
Tâm phảng phất thổ nê chi dẫn.
Thân y hy đầu chúc chi nga.
Trở nhự trường cẩu ô kê tê, lạc an hữu địa.
U tù cảnh thử can trùng tí, tặc dư tuỳ thiên.
Phương thốn trung duy thận vu tòng.
Chức phận nội hạt năng vô quí.
Bắc hải vị sinh, mã giác ti oanh quế lĩnh cửu hồi trường.
Đỉnh hồ mạc đãi, long nhiêm cầu tích băng thiên song quán lệ.
Công nghĩa dĩ phi cảm vọng, tư tình phu phục hà ngôn.
Bạch vân toả thụ chỉ du phần, không chúc hệ thư chi nhạn.
Hồng nhật hàm sơn chiêm kỷ hộ, thiên tàm phản bô chi ô.
Chí sử trung hiếu tự chi lưỡng khuy.
Vi khiếm bô bá thần chi nhất tử.
Ta tự cổ thuỳ năng vô tử, dục liễu phận khổng hoặc thương nhân.
Thả vi nhân thục bất duyệt sinh, dục tòng quyền khủng vưu hại nghĩa.
Minh bạch đãn tuần thiên lý. Thư hoàng hề quản nhân ngôn.
Ngưu mã nhậm kỳ hô, vô tu tâm tức vô quí.
Sắc long xà an sở ngộ, bất oán thiên diệc bất vưu nhân.
Ô hô!
Thú hựu thủ khâu chi hồ.
Cầm hựu nam chi chi điểu.
Tống Trân Bùi Bá [Kỳ] tại tích. Củng bắc kiến đan trung.
Duy Liêu Lê Quang Bí hà nhân. Chỉ nam hoàn tố nguyện.
Nhi kim dư sinh do vị mẫn. Hạo thủ cánh hà quy.
Du du bỉ thiên. Hạt kỳ hữu cực.

 

Dịch nghĩa

Việc đời như mây nổi, thấy thay đổi áo trắng chó xanh cũng đã chán rồi
Ruột gan như lửa đốt, thân kiến nhỏ bỗng chợt hoá thành tro
Họ Lê nay mất cả mối giềng, cũng bởi giặc Tây kia gây nạn
Bỗng nghe châu Ô rầm rập, hung hăng xua đàn hổ xé bầy dê
Lại thấy Long đỗ chuông kêu, vượt ải thúc ngựa bầy cùng theo gót
Sức muỗi muốn vùng lên nhưng thế đà vác núi
Thân cáo định phô trương mượn dáng hổ dương oai
Tưởng học Trình Anh nước Tấn cứu con côi,
Lại thành Bao Tư mong khôi phục nước Sở[17]
Sau Hán mong làm đứa trẻ đất Hàn, lại ra Tín Quốc tù ở bên Yên
Gặp cơ phải biến theo vua, hành sự có đâu rảnh rỗi
Vạn dặm qua đông tuyết giá, gội đầu chưa cắt tóc đã thưa
Mười năm không sợ Bắc phong, thổi mũ không hư mà tự hỏng
Lòng mơ hồ như giun ở đất sâu
Thân chẳng khác bướm đêm vào đuốc
Lầy lội như cũi chó chuồng gà, an nhàn đất ấy
Ngục đen cảnh gan chuột tay trùng, tử sinh trời vậy
Tấc lòng nay dè dặt mà theo, chức phận thấy cốt sao không thẹn
Bể bắc chưa sinh sừng ngựa, ruột gan vấn vít nhớ mẹ cha
Đỉnh hồ nào níu râu rồng, dòng lệ chan hoà khi giá buốt
Vì công nghĩa nên phải bỏ tư tình, nói gì được nữa
Mây trắng che phủ cảnh du phần, nhạn nào mang thư cho được
Mặt trời hồng ngậm núi xem Dĩ Hỗ, càng thẹn với quạ đen bú mớm
Xem ra trung hiếu hai đàng đều thiếu,
Lại không dám chết kém cả kẻ bô thần
Than ôi! Đời xưa nay có ai là không chết,
Muốn kết liễu lại sợ tổn đến đức nhân.
Phận làm người ai cũng đều ham sống
Muốn tòng quyền thì e hại điều nghĩa
Sáng tỏ để theo thiên lý,
Mặc ai nói chuyện thư hoàng
Dẫu gọi mình là trâu là ngựa lòng không thẹn thì mặt không hổ
Dẫu rồng rắn gặp cảnh nhi an không oán trời mà cũng chẳng trách người
Ô hô!
Thú có cáo biết quay đầu về núi
Cầm có chim biết đậu ở cành nam
Tống Trân, Bùi Bá Kỳ đời trước, quay về bắc để thấy đan trung
Duy Liêu, Lê Quang Bí là ai, chỉ về nam mong thành tâm nguyện
Nay kiếp sống thừa còn chưa hết, tóc bạc biết lúc nào về
Trời xanh kia thăm thẳm, bao giờ mới hết.

 

ÂN XÁ

Cuối tháng đó, vua Gia Khánh thân chính[18] nên ban ân điển cho các tù nhân, lang trung bộ Hình họ Kim đến hỏi Lê Quýnh xem ông có cầu xin điều gì thì cho biết nên ông viết biểu tâu lên về tình tiết tại sao lại bị giam cấm:

Nguyên năm Càn Long thứ 54 [Kỷ Dậu, 1789], Phúc công gia có lệnh chúng tôi đường xa đến gặp, vốn mong được nhờ uy của thiên triu may mà có thể lấy lại nước, hưng vong cũng do mệnh trời nhào nặn dẫu có hết sức cũng không quản ngại. Đến lúc đó ngẩng trông đại đức của thiên triu ra ơn vượt mức ra lệnh cho cạo đầu đổi y phục, cho gia nhập k binh thật là cảm kích vô bờ bến, không đức nào bằng.

Thế nhưng nghĩ đến việc pháp luật kỷ độ mù mờ không biết cho đến nơi đến chốn [懵懂侏儒], cha đã qua đời còn lại mẹ già cách xa vạn dặm quan san không ai coi sóc, nhung nhớ vô chừng nên đã mấy bận khẩn thiết cầu xin chỉ mong sao làm tròn đạo hiếu.

Hạ ngu bị giam ở đây nhưng cái ý nghĩ đó vẫn còn, nay đã mười năm cũng chưa biết mình tội gì. Nay đại hoàng đế sáng láng như vầng nhật mới lên[19] soi sáng mọi tăm tối, thể lòng hiếu sinh nhân đức của trời cho đến khắp mọi nơi trên mặt đất. Nay vạn vọng liệt vị đại nhân, trông vào đại ân của thánh thượng mà cúi xuống soi xét nguyên tình để tha cho trở v, bọn Lê Quýnh không đến nỗi bị mất cả ngũ luân [五倫][20], cho sống cái đời còn lại của sâu kiến thì ân trạch thật là lớn lao, toàn gia lớn bé ai ai cũng được hưởng.

Có lẽ chính vì lời tâu này nên ngày 14 tháng Hai năm đó Lê Quýnh lại được đưa lên hỏi cung, ông xin cho về sống gần bên biên giới nước Nam để có dịp qua lại thăm nom mẹ:

Nguyễn Huệ đã được phong [vương] đến nay tròn mười năm, thiên mệnh đã định, lòng người cũng an, thế cũng khác mà thời cũng khác, không còn cách gì có thể xoay chuyển được nữa rồi. Thế nhưng lòng nhớ mẹ càng tha thiết nên đem cái tình mọn ấy mà cầu xin, nếu được lòng chí nhân mậu đức của đại hoàng đế xét tình thực mà tha cho để có một đường sống đem thân v, thoát khỏi cảnh tăm tối thì cái ơn thành toàn ấy thật bao la, bọn Lê Quýnh xin nguyện cạo đầu để tạ ơn tái sinh đó.

Cúi trông trời che đất chở, độ lượng vô cùng, bọn Lê Quýnh sẽ làm người dân thường sống ở nơi ranh giới Lưỡng Việt, qua lại bán buôn không bị theo lệ an tháp, kẻ hèn này có thể qua lại thăm mẹ cho đến khi qua đời thì không còn gì ân hận. Còn nếu như có thể đưa gia quyến sang nội địa thì cũng tu theo hoàn cảnh mà làm.

Tuy nhiên nhà Thanh vẫn ngại việc thả ông ra sẽ gây rắc rối trên phương diện ngoại giao nên không thuận và chỉ bằng lòng cho sống ở An Nam doanh [với gia quyến vua Lê] với điều kiện phải cạo đầu theo kiểu Trung Hoa, nếu không sẽ an tháp ở Nhiệt Hà nhưng nhóm Lê Quýnh nhất định không chịu. Khi hỏi về tâm sự muốn gì, Lê Quýnh chỉ trình lên hai bài thơ sau đây:

Bài 1

浮沈萍世遇時窮,且載南冠任北風。

身困十年懷素節,命隨一髮表丹衷。

倘能合義無慚愧,只爲求仁肯怨恫。

五十年來成一夢,幾多辛苦總還空。

 

Dịch âm

Phù trầm bình thế ngộ thời cùng,
Thả tải nam quan nhiệm bắc phong.
Thân khốn thập niên hoài tố tiết,
Mệnh tuỳ nhất phát biểu đan trung.
Thảng năng hợp nghĩa vô tàm quí,
Chỉ vị cầu nhân khẳng oán đồng,
Ngũ thập niên lai thành nhất mộng,
Kỷ đa tân khổ tổng hoàn không.

 

Dịch nghĩa

Chìm nổi như cánh bèo vì gặp phải lúc cùng
Đội mũ phương nam để chống lại gió bắc
Thân phải tù đày mười năm vì giữ khí tiết trắng
Số mệnh theo mái tóc để tỏ tấm lòng son
Miễn sao hợp với điều nghĩa nên không có gì phải thẹn
Chỉ vì điều nhân mới phải giận kẻ hung hăng kia
Năm mươi năm qua như một giấc mộng
Chịu bao nhiêu cay đắng mà rồi cũng như không

 

Bài 2

知幾爲達士,殉髮豈人情。

大誼千金重,微軀一葉輕。

丹心如盡死,皓首豈虛生。

今我春秋義,饒他月旦評。

 

Dịch âm

Tri cơ vi đạt sĩ,
Tuẫn phát khởi nhân tình.
Đại nghị thiên kim trọng,
Vi khu nhất diệp khinh.
Đan tâm như tận tử,
Hạo thủ khởi hư sinh.
Kim ngã xuân thu nghĩa,
Nhiêu tha nguyệt đán bình.

 

Dịch nghĩa

Biết thời cơ ấy mới là đạt sĩ
Cắt tóc thì đâu còn gì là tình người
Nghĩa lớn nặng như nghìn vàng
Thân hèn thật nhẹ như chiếc lá
Lòng son nếu như đã mất cả
Dẫu tóc bạc thì cũng sống thừa thôi
Nay ta theo nghĩa kinh xuân thu
Để sau này người đời sẽ bình phẩm

 

Tháng Sáu năm Kỷ Mùi (1799), con trai Lê Quýnh là Lê Doãn Toàn được đưa đến thăm cha. Hai cha con đã xa cách mười năm nay gặp lại nên ông thật bàng hoàng nhất là biết con ông hiện đang sống với gia đình vua Lê ở ngoại ô. Quan nhà Thanh lại dụ rằng nếu ông chịu cắt tóc thì cha con sẽ được đoàn tụ. Ông lại trình lên:

Cung tạ ơn này, xin tỏ thực nỗi lòng. Trộm nghĩ bọn Lê Quýnh bồng bnh vạn dặm, tù tội mười năm cũng vì cái tâm ngu si không thay đổi nên phải chịu khổ không biết là chừng nào. Vì vua tôi, cha con chia cách không được thấy nhau, quả là cái mà tình người không kham nổi vậy nên triu đình đã thi ân ngoài mức. Trong mấy tháng qua cha con đã được gẵp nhau ấy cũng là nhờ hồng từ quảng đại nên chúng tôi hết sức cảm kích.

điu thiên triu giáo hoá cõi nam đã một trăm rưởi năm [ý nói nước ta thần phục nhà Thanh], vừa sâu vừa dài, bọn Lê Quýnh được thấm nhuần trong nơi đạo đức nên không dám lấy tình riêng để làm lệch nghĩa công.

Đến nay đã là một kỷ rồi, thời cũng khác và việc cũng khác, dẫu có muốn phục thù cũng chưa chắc còn thù mà phục, đến như theo chủ thì chủ cũ cũng còn đâu mà theo.[21] Công nghĩa đã không làm được, nhưng cũng vì cực chẳng đã mà phải làm mà thôi. Nay không dám lấy chút tình riêng cha con mà phản lại trung hiếu là điu đã được khuyên, chỉ còn một việc xin được giữ tóc để tỏ lòng ngay [衷旗] chứ không dám quay lại đỡ cho nó được. Nay đưa đứa con ngu tới thăm ấy cũng là ơn lớn như núi cao bể cả của đại nhân, nếu muốn cha con đoàn tụ, đưa ra một ý thành mà cầu thì cũng có con đường sống.

Trộm nghĩ ơn không thể dễ mà đòi, thời khó mà có thêm lần nữa nếu như chọn cơ hội này thì chim được sổ lồng, trâu được liếm nghé, chút đời còn lại cũng thảnh thơi. Thế nhưng há có thể đổi tấm lòng trong sáng để lấy kiếp sống hay sao nên chỉ mong chiếu cho nguyên tình mà tha tội[22], ra khỏi phép nước mà thi ân thì kiếp sống thừa của Lê Quýnh cũng do cái đức của đại nhân thành toàn.

Tháng Tám năm đó, quan nhà Thanh lại đưa Lê Doãn Toàn và một số gia nhân cũ của ông là Nguyễn Nghiêm và Đỗ Suất cùng vào để mong ông siêu lòng. Ông lại bẩm lên:

Trộm tưởng bọn Lê Quýnh là cô thần ở nơi xa xôi, mười năm giam cấm, mong đại nhân lượng rộng bao dung, nhân sâu ngó đến nên nới lỏng việc giam cấm, lại thương đến cái cảnh trâu với nghé mà soi xuống trỏ cho một đường sống để có thể thoát được đời giam hãm.

Ngày đông, gió xuân, bọn Quýnh ngẩng đầu nghĩ ngợi không khỏi cảm kích nên làm bài bẩm này.

Nguyên năm Càn Long thứ 54 [Kỷ Dậu, 1789], bọn Quýnh tiến quan, vốn mong nhờ vào uy vọng thiên triu để mưu đồ chuyện phục quốc. Vừa khi đó, Phúc công gia chủ trương thụ hàng[23] nên mới giữ lại đưa lên kinh. May được đại hoàng đế xét thấu cho cái tình nhỏ nên không khiển trách thêm.

Nay liệt vị đại nhận khuyên nên cắt tóc cải trang, thật quả từ xưa đến nay chưa từng có, bọn Quýnh chỉ xin được mặc quần áo An Nam mãi mãi không đổi, quả thật phụ ân lớn của hoàng đế nên phải lâm vào vòng lao lý cho đến ngày nay.

Tháng Hai năm nay lại được các đại nhân bộ đường tận miệng dụ nếu như cạo đầu thì sẽ cho ở An Nam doanh, còn nếu giữ tóc thì sẽ an tháp ở Nhiệt Hà. Bọn Quýnh trộm nghĩ mình vố là kẻ bầy tôi lưu lạc, dưới khắp gầm trời ở đâu cũng thế nên dù ở Nam doanh hay ở Bắc sở, hay ở núi lạnh nơi Nhiệt Hà thì cũng không mong sống sót, nếu được cho miếng ăn, sống đời thừa thì cũng là nhờ đức dung chứa của thiên triu cả.

Thế nhưng trong nhà còn mẹ già không ai chăm sóc nên còn một chút nghĩa mà lòng không yên, thành ra cầu được mở lòng nhân. Còn như bị giam thân nơi đây thì trung cũng không toàn mà hiếu thì đánh mất, đành phải ôm mối hận chung thân. Trông vào đại hoàng đế lấy tấm lòng hiếu làm gương trị thiên hạ nên Quýnh này thống thiết mong mỏi được v đất cũ đấy thôi chứ không có ý gì khác.

Nếu ví như được thả v mà Lê Quýnh tôi không gây ra chuyện rắc rối, nhưng họ Nguyễn vẫn tàn ác làm hại thì còn thể thống gì nên nhất định không có chuyện đó. Nghĩ rằng họ Nguyễn nay đã truyn được một đời rồi, mệnh trời đã định, lòng người đã yên, thế cũng khác mà sự cũng khác, thời đã dời mà tục cũng đổi, Sở Bình[24] [vương] đã chết nên cũng không còn kẻ thù nữa, tuy có thây đấy để mà đánh nhưng cũng phải có cái tài của họ Ngũ thì mới nhân nước Ngô có kẽ hở mà làm chứ không thì cũng vô vọng. Còn như không ai giúp đỡ thì dù có tài trí như Lưu hầu cũng vị tất quạt được lửa Hán mà hưng lên.

Nay tôi tính toán thời thế, dẫu có trí tuệ quyết tâm nhưng làm sao cử sự được, huống chi chỉ có những người ngu muội dưới tay thì khác nào thiêu thân bay vào lửa nên không những bọn Lê Quýnh không dám làm càn mà cũng không có khả năng để làm nữa.

Từ khi Nguyễn Huệ được nước đến nay, bầy tôi dân chúng nhà Lê trừ những người chết trận hay kẻ cứng đầu bị giết ra còn cả những người được Trung Quốc thả v cũng không bị gia hại, huống chi Lê Quýnh một thân một mình ở tuổi tàn niên, chịu sống yên thì không chỉ là họ không nỡ giết, không thèm giết mà còn kính sợ thiên triu nên cũng không dám giết. Nếu như thả cho v mà ngại rằng giao cho họ Nguyễn e không dung thì còn ra sự thể gì nữa.

Theo lệ cống sứ cũng như can phạm chạy trốn qua biên giới thì không nói làm gì[25], còn như thuyn buôn, thuyn đánh cá bị gió thổi thì cũng đưa trả v, chưa từng nghe phải giao lại cho ai. Tôi không phải là người chạy trốn vượt qua ải, có thả v thì củng chỉ như xua một con muỗi mà thôi. Nếu như sau khi xuất quan, chẳng may bị kẻ họ Nguyễn làm hại thì cũng là chết nơi đất cũ của họ Lê thì cũng thoả tấm lòng mong muốn mà không thẹn, còn may mà họ Nguyễn không giết thì được sống làm dân đen họ Lê, cũng toại chí con quạ quay v tổ không còn mong gì hơn nữa.

Ấy là điu may và không may của Quýnh này chứ không liên quan gì sự thể nặng hay nhẹ, cũng là lấy người di cai trị người di theo qui tắc của tiên vương, phương nam hoang địa vốn là không trị để trị, người tị nạn chạy sang thì thương xót mà an tháp ấy là chí nhân mà mà thả v cũng là chí tình, vì tội nghiệp mà làm như thế, vì chí đức mà bỏ công uốn nặn như thế, tu theo vật mà tạo hình do cái tâm dung chứa vậy.

Muôn vàn mong đợi xét cái lý ở trong tình để làm ơn ra ngoài khuôn phép thì tuổi già của Quýnh này từ nay v sau cũng đu do đức tái sinh của đại hoàng đế ban cho, kính mong đại nhân thương xót đến lòng thành của kẻ cô thần, thương đứa con côi phải đi theo mà tha cho để theo v phụng dưỡng, ấy là lòng khoan dung trong năm điu của người giúp vua khiến cho gió của bốn phương đu thổi.

Đến tháng Mười, Lê Doãn Toàn lại vào thăm cha đem theo thư của những người tòng vong khác. Lê Quýnh trả lời:

đày quạnh quẽ, thấm thoát mười năm.

Chim nhạn lẻ loi, không được một chữ.

Nay được dịp thuận tiện, nhân lúc cao hứng mong liệt vị quí đài có duyên khuê ngộ nên được dẫn dắt việc nghĩa theo đuổi việc đức, cầm cương ngựa mà theo sau, qua ải lặn lội, trèo non vượt biển thật là gian nan khiến cho chính khí vằng vặc, tinh trung sáng như vầng nhật, dù như Trình Ứng Năng [程應能], Viên Bân[26] [袁彬] cũng không khác gì, tuy chưa được thành tên tuổi như Yển Suy [偃衰], Phạm Lãi [范蠡], âu cũng là do trời vậy.

Theo ngu ý thì nhận lệnh lúc lưu lạc lênh đênh không thể nào không nặng nhưng hết sức làm cũng chỉ được như con muỗi mà thôi, con ong có theo thì dẫu bảy ngày khóc chảy máu mắt ở sân Tần, ba tấc lưỡi cũng không lay được màn Hán mà bụi trần thấm thoát ôm mối tịch liêu, không được k cận gần bên khiến đành đắc tội với chúa cũ.

Cho nên cắt tóc không thể tính được mà cũng là việc cực chẳng đã đấy thôi, đem sợi tóc tỏ tấc lòng thật có ích gì cho nước đâu? Tuy chín chết không đổi dạ thực cũng nhẹ như lông hồng mà thôi. Đến như lông hồng cũng chẳng được rồi cũng đem mối sầu xuống đất. Râu rồng không nắm được, nước mắt chảy như mưa. Trên không sánh được với lòng trung của Lý Nhược Thuỷ[27] [李若水], dưới lại ngượng với liệt vị quí đài. Thẹn cùng trời đất, hổ với xưa nay, không đủ sánh với bằng hữu mà lòng luyến chúa thì so với chó ngựa cũng thua xa.

Hôm nay nhân được quí liệt vị vì tình mà hỏi xuống thật là ném viên ngọc khiến cho cỏ bồng, sợi tóc cũng rạng ngời, được mắt xanh nhìn đến khiến cho chiếc khăn nước nam nổi sắc, thân già này cảm kích xiết bao.

Mong các ngài tự trân trọng, nhẫn nại để cho đến khi xong việc, tu gặp gỡ mà làm theo, ngày vui chắc không lâu nữa.

Đã từng thấy ơn trời lồng lộng, mưa móc thấm nhuần, tuy ở nơi tăm tối cũng được tắm tưới đến.

Ngoài ra ông cũng viết thư gửi cho Đinh Nhạ Hành, Phạm Trần Hi, Phan Khải Đức, Lê Duy Án nên chúng ta cũng đoán được rằng đây là những người đã gửi thư riêng cho ông. Có lẽ trong những lần thăm viếng trao đổi ông cũng biết được tin vua mới sắp xét lại vụ án “thế phát dịch phục” của bốn người nên giọng văn có chiều phấn khởi hơn trước, nhất là tin tưởng rằng “ngày vui chắc không lâu”.

Tháng Một năm đó ông nghe tin thái hậu – mẹ vua Chiêu Thống – qua đời nên viết thư cho Lê Duy Án khi ấy thế tập tước tá lãnh của vua Lê.

Nhìn lại suốt 10 năm bị giam hầu như họ hoàn toàn bị xa cách với thế giới bên ngoài và mọi việc chỉ biến chuyển tương đối dồn dập sau khi vua Càn Long qua đời. Dưới triều Gia Khánh chính sách ngoại giao của Thanh triều với Tây Sơn không còn như trước nữa nên nhóm vua Lê ở bên ngoài cũng được thoải mái hơn.

 

 

RA KHỎI NGỤC

 

Theo lá thư của Lê Quýnh gửi cho Phụ Thành Hầu Lê Duy Phổ thì bọn Lê Quýnh được ân xá từ tháng Hai năm Canh Thân, Gia Khánh thứ 5 (1800) nhưng đến ngày mồng 4 tháng Tư [tức mồng 4 tháng Ba nhuận theo lịch VN], bốn người bọn Lê Quýnh mới được thả ra khỏi ngục. Họ được cho sinh sống ở 12 dặm phía tây kinh thành bên ngoài xưởng nhuộm của Hoả Khí Doanh. Điều an ủi nhất là họ được tuỳ tiện để tóc và ăn mặc theo lối nước ta.

Nguyên từ đời Minh Vĩnh Lạc, vì nơi đây đất trũng có suối hồ nên triều đình cho trồng cây chàm [Indigo Naturalis] để nhuộm quân phục cho binh lính. Sau nhiều giai đoạn biến chế, thuốc nhuộm này cho ra vải màu đen ánh sắc xanh [暗青黑色] có tên là lam điện [藍靛][28]. Kỹ nghệ này thuộc Chức Nhiễm Cục [織染局][29] gồm ba phần điện viên [vườn trồng], đả điện [khu xay và tiến hành bào chế], lam điện [nhuộm vải].

Hoả Khí Doanh – cơ quan lo liệu việc chế tạo các loại súng ống lớn [pháo] nhỏ [thương] – chung quanh có tường dày, có đến 1700 phòng ốc cho hơn một vạn người bao gồm binh lính bát kỳ và quyến thuộc. Ra vào doanh có hai cửa đông nam, tây bắc nên có thể coi là một pháo đài quan trọng bảo vệ hoàng thành. Nói chung đây là một khu gia binh khổng lồ sống bằng lương của triều đình tương đối sung túc, hấp dẫn nhiều thương nhân đến mua bán, qua lại biến khu vực chung quanh thành những nơi sầm uất.

Bên ngoài chung quanh xưởng nhuộm có 5 toà miếu thờ sơn thần còn gọi là Bích Hà Nguyên Quân Miếu chia thành đông tây nam bắc và trung đính. Hiện nay bốn toà miếu không còn nữa nhưng tây đính miếu vẫn còn, chính là nơi mà nhóm Lê Quýnh bị an tháp.[30]

Theo tường thuật trong Bắc Hành Lược Ký bốn người ở dưới quyền giám sát và quản thúc của Định Cung Thân Vương Miên Ân [cháu nội vua Càn Long] – khi ấy trông coi Hoả Khí Doanh. Khi Lê Quýnh biết tin cố chủ đã qua đời cảm tác bài thơ sau đây:

南冠而縶十餘年,優渥鴻霑降自然。

擢髮難酬新雨露,囘頭恐負舊山川。

忠魂他日餘恩補,苦節如今宿志全。

紅日方升高爥照,肯教冀北有啼鵑。

 

Dịch âm

Nam quan nhi chấp thập dư niên,
Ưu ác hồng triêm giáng tự nhiên.
Trạc phát nan thù tân vũ lộ,
Hồi đầu khủng phụ cựu sơn xuyên.
Trung hồn tha nhật dư ân bổ,
Khổ tiết như kim xúc chí tuyền.
Hồng nhật phương thăng cao chúc chiếu,
Khẳng giao ký bắc hữu đề quyên.

 

Dịch nghĩa

Mũ phương nam nên bị giam mười năm,
Tự nhiên được ơn từ trên giáng xuống.
Xoã tóc không báo được ơn mưa móc mới,
Nhìn lại sợ rằng mình đã phụ núi sông xưa.
Hồn trung ngày khác sẽ đn bù ân thêm nữa,
Khổ tiết nên hôm nay chí mới được toàn vẹn.
Mặt trời lên cao chiếu sáng xuống,
Ai ngờ ở đất bắc mà cũng có tiếng chim quyên kêu.

 

Việc đầu tiên sau khi được tự do là chuẩn bị để đi viếng mộ vua Chiêu Thống ở phía đông Bắc Kinh, trong dịp này con ông cũng đi theo. Lê Quýnh có làm bài thơ sau đây:

展墓感作

黑暗重犴似九幽,移郊仍是築燕囚。

身西頂火愁雲罩,目北津冰淚雨流。

此日綱常黄絹底,何年骸骨大刀頭。

烏牙黑髮堂堂去,惟有丹心為我留。

 

Dịch âm

Triển mộ cảm tác
Hắc ám trùng han tự cửu u,
Di Giao nhưng thị trúc Yên tù.
Thân tây đính hoả sầu vân tráo,
Mục bắc tân băng lệ vũ lưu.
Thử nhật cương thường hoàng quyên để,
Hà niên hài cốt đại đao đầu.
Ô nha hắc phát đường đường khứ,
Duy hữu đan tâm vị ngã lưu.

 

Dịch nghĩa

Cảm tác khi đi viếng mộ [vua Lê]
Trời u ám tiếng sói kêu tưởng như ở nơi địa ngục
Tuy dời qua ngoại ô nhưng có khác gì người tù đất Yên
Thân ở phương tây gần Hoả Khí doanh nhưng mây sầu canh cánh
Mắt từ đất bắc nước băng chảy ra như suối
Ngày nay cương thường để bên dưới tấm lụa vàng
Biết bao giờ mới được cầm dao chém đầu hài cốt
Răng nhuộm, tóc đen cứ thế mà trôi đi
Chỉ còn tấm lòng son còn ở với ta thôi

 

Tuy không biết gì nhiều về cuộc đời sống đơn độc ở xưởng nhuộm nhưng qua văn chương ta thấy Lê Quýnh vẫn canh cánh mong đợi có ngày được về cố quốc. Một đêm trăng ông đi chùa thấy một cỗ quan tài đã mục nát và cáo văn không biết là ai nên tức cảnh mà thương cho phận mình rồi mai đây cũng thế nên làm một bài văn tế dài rất lâm ly.[31]

Tháng Sáu năm đó, trời mưa dầm lại hết đồ ăn, nhận được thượng dụ không cho vào trong thành nên làm bài thơ sau:[32]

纔抵藍橋早作霖,沮洳塲裏度光陰。

近郊匪洞幽還邃,旅舍如僧寂又岑。

仙不擎漿難潤喙,佛非懷餅易空心。

玉京何必崎嶇上,但望南車指有針。

 

Dịch âm

Tài để lam kiều tảo tác lâm,
Tự như trường lý độ quang âm.
Cận giao phỉ động u hoàn thuý,
Lữ xá như tăng tịch hựu sầm.
Tiên bất kình tương nan nhuận uế,
Phật phi hoài bính dị không tâm.
Ngọc kinh hà tất kỳ khu thượng,
Đãn vọng nam xa chỉ hữu châm.

 

Dịch nghĩa

Vừa đến Lam Kiều thì trời đổ mưa
Vì lầy lội nên phải ở lại trong nhà cho qua thì giờ
Gần bên không có động ẩn bậc cao thâm
Nơi ở trọ thì như nhà sư vừa vắng lặng vừa cao cả
Tiên như không có rượu cũng khó mà trơn miệng
Phật bụng không có bánh thì dễ trống lòng
Đường về kinh đô sao mà gian nan thế
Chỉ mong xe có kim chỉ về hướng nam

 

Tuy bài thơ nói về kinh đô nhà Thanh nhưng ông ám chỉ kinh thành Thăng Long, nhất là lại nhắc đến “chỉ nam xa” là xe có nam châm chỉ đường về hướng nam.

 

VuaGiaKhanh

Vua Gia Khánh

 

yphucdoiThanh

Y phục nam nhân đời Thanh
Chinese Costumes, Part II
T’ang –Ch’ing Dynasty

 
KinhthanhBacKinh

Kinh thành Bắc Kinh
E. R. Scidmore, China: The Long-Lived Empire
New York: The Century Co., 1900 tr. 67

 

(Còn tiếp)


[1] Trần Khánh Hạo chủ biên, Việt Nam Hán Văn Tiểu Thuyết Tùng San, Lịch Sử Tiểu Thuyết Loại, đệ ngũ sách: Hoàng Lê Nhất Thống Chí, (Ðài Loan: Học Sinh thư cục, 1987) tr. 241

[2] Tấu thư ngày 14 tháng Năm, Càn Long 55. Càn Long Triều, Thượng Dụ Đáng (1991) q. XV tr. 671.

[3] Tức Văn Thiên Tường [1236-1273], thừa tướng nhà Tống, bị quân Nguyên bắt không chịu hàng, đem vợ con ra uy hiếp ông hiên ngang chịu chết.

[4] 我爲綱常謀,有家不得顧。

[5] Lê Quý Dật Sử (1987), tr. 99-100

[6] Cao Tông thực lục, quyển 1377, thượng dụ ngày Giáp Tí [20] tháng Tư năm Càn Long 56 [1791], Vương Tiên Khiêm, [Càn Long Triều] Ðông Hoa Tục Lục, quyển 45, thượng dụ gửi Nguyễn Quang Bình ngày 20 tháng Tư, Càn Long 56, Càn Long Triu Thượng Dụ Đáng [XVI] tr. 248

[7] Khâm Ðịnh Việt Sử, tập II, bản dịch Viện Sử Học (1998), tr. 321

[8] theo tài liệu nhà Thanh, Hoàng Ích Hiểu khi đến Tân Cương có vợ một con trai, sau có thêm một con gái. Con trai ông ta sau lấy vợ có một con gái.

[9] theo báo cáo của bộ Binh và Minh Thanh sử liệu.

[10] Ngô Thì Nhậm tác phẩm I, tr. 449

[11]黎囧等因舊服垢敝懇求給衣更換應諭。以爾等求給衣服自當用中華服式方可准。爾所請若爾本國式樣,中華無此製造,不能另製給予,自此曉諭。倘伊等仍不願改服衹可任其破敝。又燕起係回人不食猪肉,在監内亦只可照舊給以牢食,不必因其不食猪肉另行給予食物也。將此諭令阿桂知之。欽此。

Lê Quýnh đẳng nhân cựu phục cấu tệ khẩn cầu cấp y cánh hoán ứng dụ. Dĩ nhĩ đẳng cầu cấp y phục tự đương dụng Trung Hoa phục thức phương khả chuẩn. Nhĩ sở thỉnh nhược nhĩ bản quốc thức dạng, Trung Hoa vô thử chế tạo, bất năng lánh chế cấp dư, tự thử hiểu dụ. Thảng y đẳng nhưng bất nguyện cải phục kỳ khả nhiệm kỳ phá tệ. Hựu yên khởi hệ Hồi nhân bất thực trư nhục, tại giam nội diệc chỉ khả chiếu cựu cấp dĩ lao thực, bất tất nhân kỳ bất thực trư nhục lánh hành cấp dư thực vật dã. Tương thử dụ lệnh A Quế tri chi. Khâm thử. Càn Long Triu Thượng Dụ Đáng [XVI] tr. 328

[12] Xem Văn Liệu 3, An Nam Đáng II, bản dịch NDC

[13] Bắc Hành Lược Ký, bản dịch NDC

[14] An Nam Đáng III, bản dịch NDC

[15] 《詩‧魏風‧陟岵》:“陟彼岵兮,瞻望父兮……陟彼屺兮,瞻望母兮。”《詩‧序》謂為行役者思念父母之作。後因以“屺岵”代指父母。 唐 顏惟貞 《蕭思亮墓志》:“未及庭闈之養,遂纏屺岵之悲。” 元 揭傒斯 《陟亭記》:“朝暉夕景,長雲廣霧,明滅變化不可殫紀,宜乎孝子慈孫于此興屺岵之悲而無窮也。”《花月痕》第五回:“天寒歲暮,游子鄉關之感,風人屺岵之思,麇至沓來。”

[16] Nghĩa sĩ đời Tấn

[17] Thân Bao Tư cầu viện binh khóc bảy ngảy đêm ở sân vua Tần

[18] Tuy vua Gia Khánh lên ngôi từ năm Bính Thìn [1796] nhưng mọi việc vẫn do thượng hoàng Cao Tông quyết đoán, kể cả việc tế lễ và tiếp đón sứ thần. Chỉ đến khi vua Càn Long từ trần [Kỷ Mùi, 1799] vua Gia Khánh mới thực sự cầm quyền nên gọi là thân chính.

[19] Đây là dịp đại xá nhân khi thái thượng hoàng Cao Tông [Càn Long] vừa mất, vua Nhân Tông [Gia Khánh] chính thức kế nhiệm.

[20] Ngũ Luân là vua tôi, cha con, anh em, vợ chồng, bạn bè 5 mối liên hệ trong xã hội. Lê Quýnh xin được tha về để cho tròn đạo hiếu.

[21] Vua Chiêu Thống đã qua đời từ năm Quí Sửu [1793]

[22] Tức là ông không phải sang Trung Hoa để xin tị nạn

[23] Tức nhận cho Nguyễn Quang Bình làm An Nam quốc vương, trên danh nghĩa nhà Thanh gọi là “thụ hàng” [chấp nhận đầu hàng].

[24] Câu này lấy tích Ngũ Tử Tư quật mồ Sở Bình Vương lấy roi đánh vào xác kẻ thù mà cũng muốn dùng chữ Bình là tên vua Quang Trung.

[25] Tức là thành phần có luật lệ qui định hẳn hoi

[26] (1401-1488) Một người bầy tôi theo chăm sóc cho vua Minh Anh Tông khi vua Minh bị quân Nguyên bắt.

[27] (1093-1127) Một trung thần đi theo vua Tống Khâm Tông khi bị bắt sang nước Kim.

[28] indigo, indigotin

[29] Tức cơ quan dệt và nhuộm quân phục

[30] Bắc Hành Lược Ký chép là 西頂藍頂靛廠之外火器營[tây đính lam đính điện xưởng chi ngoại Hoả Khí Doanh]

[31] Bắc Hành Lược Ký “Nguyệt Dạ Du Phật Tự Kiến Bĩ Thượng Hủ Quan” [月夜遊佛寺見圮上朽棺]

[32] Bắc Hành Lược Ký “Lục Nguyệt Lâm Vũ Lương Tuyệt. Hựu Kiến Thượng Dụ Bất Hứa Tiến Thành Ngẫu Tác” [六月霖雨粮絕踅。又見上諭不許進城偶作]

bài đã đăng của Nguyễn Duy Chính


1 bình luận »

Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)
porn ficken russian porn japanese porn watch porn watch sex izle sex izle anal porn tube amateur porn watch