Trang chính » Sáng Tác, Tiểu thuyết Email bài này

Núi Đoạn Sông Lìa – phần 36

 

NuiDoan-34 

 

Dưng không núi đoạn sông lìa
Đêm ôm gối lạnh, ngày chia ngắn dài.

 

 

(tiếp theo)

 

*

Nhẵn chỉ tôi con chim đậu trên hàng rào bìm bìm nghiêng vẹo, nói:

– Sáo đấy. Khôn lắm, dạy nó nói được tiếng người. Mày thích không, hôm nào tao bắt cho một con?

Tôi sáng mắt, nhưng cương quyết lắc đầu, nghĩ nhanh tới ánh mắt mẹ tôi hôm nào:

– Thích chứ. Nhưng làm thế, chim mẹ nó buồn.

– Buồn gì. Nó đẻ xoành xoạch, đít trơn như bôi mỡ ấy à.

Tôi buột miệng vu vơ:

– Làm chim, thích nhỉ, muốn bay đi đâu cũng được.

Nhẵn reo lên:

– Đúng đấy. Nhưng tao không thích làm chim sẻ, chim sáo đâu, xoàng lắm. Làm diều, làm quạ oai hơn.

Tôi không nói gì, tưởng ra những cánh diều, cánh quạ liệng lờ trên không trung những trưa nắng, rình bắt gà con.

– Làm người dù sao vẫn thích nhất.

Nhẵn lên giọng sành sõi. Tôi nhỏ nhẻ:

– Tao ước gì được như mày, có nhà riêng, có việc làm, không sợ đói. Làm gì, đi đâu không phải xin phép ai.

Mặt Nhẵn vênh váo:

– Cụ Lý tướng số bảo, khi nào tao mười tám tuổi, sẽ phát.

– Thế còn mấy năm nữa?

Nhẵn ngần ngừ, nửa mặt to nghệch ra, nửa mặt nhỏ vẫn trơ trơ đần độn. Bất ngờ nó đứng phắt dậy, vừa nói vừa giật bung gút lưng quần.

– Sắp rồi. Xem này, mọc lông rồi đấy!

Tôi ngẩn mặt, luống cuống nhìn cái giống của Nhẵn bày trước mặt. Đen quắn như một con sâu róm lơ thơ lông xoắn. Tôi thẹn đỏ mặt, chưa biết phản ứng ra sao thì Nhẵn đã dạng chân, xoè ngón cái ngón trỏ kẹp lấy, động tác sục sạo, miệng lảm nhảm:

– Này, mười tám nhanh lên mày! Phát tướng nhanh lên! Này, này …

Tôi sửng sốt chứng kiến cảnh thằng con trai như bị đồng nhập, hai mắt khép rãnh đờ đẫn, gương mặt thoắt chợt biến dạng. Chiếc mặt nạ lúc người lúc ma phù phép luân phiên tháo gắn. Con sâu róm ngâng ngấc phát tướng theo lệnh Nhẵn. Nửa phần teo tóp của Nhẵn đỏ sần như vết bỏng tấy máu. Nó cong lưng, bụm tay túm lấy cái giống sưng sịa, cổ họng ư ử nấc nghẹn, gấp gáp kéo quần che lại. Nhẵn gập người vật ra đất, bần bật như động kinh. Rồi rũ rượi một nhúm co quắp.

Tôi nhận ra nhịp thở Nhẵn xộc xệch như kẻ vừa băng đồng, vẫn chưa ý thức rõ rệt sự việc. Tất cả xảy đến bất ngờ và nhanh chóng. Lồng ngực tôi bấn loạn từng cơn. Tôi muốn bước đến nâng Nhẵn dậy, hỏi han cớ sự, nhưng lo sợ đánh động thần sắc ma ám còn ứa vệt sống sượng khắp thân thể Nhẵn. Lần đầu tiên tôi thấy rõ nửa phần quỉ lộng táo tợn trong người thằng con trai. Thêm vào đấy là nỗi gì lãng đãng như thú vị. Tôi còn điếng người phân vân thì Nhẵn đã nhấc lưng ngồi dậy, cười hềnh hệch:

– Thấy chưa, mày? Lớn là như thế đấy.

Tôi lắp bắp:

– Mày, mày … làm thấy … sợ.

– Sợ đíu gì? Đàn ông, đàn bà làm thế với nhau, thích lắm!

Tôi không rõ ý Nhẵn, nhưng không hỏi vì biết thế nào nó cũng kể cho nghe bằng thứ ngôn ngữ chợ búa tục tằn, với đầy đủ chi tiết. Lúc ấy chúng tôi đã vào nằm gác tay sau gáy, trong ổ rơm lợn nái, cửa trước cửa sau bỏ ngỏ, gió hoang đàng vào ra. Nhẵn hỏi tôi, có ngửi thấy không, mùi gió sông Hồng. Tôi mở rộng hai cánh mũi, hít lấy, chỉ loáng thoáng bắt được chút gay gắt của rác chợ sót lại. Tôi bảo, không. Nhẵn khép mắt ví von:

– Gió sông Hồng thơm như đít cà cuống ấy.

Tôi bật cười, nhắm mắt tưởng ra bát nước mắm thô thơm ngậy nửa giọt cà cuống. Mẹ tôi xoắn đôi nan tre gấp tấm bánh bột gạo trắng phau phập phều mặt vải căng trên miệng nồi tuôn khói, nhấc nhanh ra đĩa. Mẹ giục, ăn đi con, kẻo nguội mất ngon! Vị giác tôi tham lam siết chặt khứu giác, cuống lưỡi hấp tấp hứng lấy hợp khúc của thiên nhiên và con người. Quê hương tôi sau những ngàn năm nô lệ dai dẳng, còn lại chỉ ngần ấy. Những miếng ăn ám ảnh triền miên, chủ động đời sống. Những sở học từ chương, truyền nặng vai thế hệ. Hậu duệ của rồng tiên hoá thành lũ rùa đá ngơ ngác hai hàng văn miếu. Đi, con phải đi thôi, giọng mẹ tôi giục giã với hai hàng nước mắt lông cặm nhoà nhạt trên má. Gió tháng mười loang loáng đồng lúa sương mù. Tiếng mẹ thở dài tan theo gió mùa phơ phất vạt áo mỏng. Tôi chập chờn chìm vào không gian của đất và người bị mùa màng ruồng bỏ trong thời kháng chiến đỏ ngầu khẩu hiệu. Những bộ xương đói chỉ biết phân bua cùng chấy rận. Những người lính du kích về làng trong đêm, hứa hẹn một tương lai độc lập huy hoàng dưới ánh sáng lãnh đạo của chủ nghĩa cờ đỏ, mỗi người mỗi ngày hai bữa cơm no.

Tôi mở mắt, nghe tiếng tắc kè ngán ngẩm trên mái rơm. Cạnh tôi, Nhẵn còn say sưa trong giấc ngủ trưa. Vệt nước bọt rỉ trắng một đường bên mép, khuôn mặt dị dạng khó hiểu như mo cau khô. Tôi ngồi dậy, quay quắt nhớ tới lời bố dặn, đi chơi với Nhẵn một chốc rồi trở lại chờ bố bên gốc cổ thụ trong chợ làng. Tôi cuống chân chạy ra chỗ hẹn. Vắng hoe. Tôi ngồi bó gối bên miễu thờ lạnh tanh hương khói, dáo dác trơ trọi trong hoang vắng buổi chợ tan. Con chó ốm lẩn quẩn bên ô hàng thịt, ngoảnh mắt nhìn tôi dè dặt. Tôi nhớ lời bố dặn, bố đến nhà cô Bích lấy mấy lạng kẹo. Nhà cô cách chợ một khúc quanh đẫm bóng cây, đã có lần Nhẵn chỉ tôi xem, mái lá vách đất khoét hai ô cửa chấn song tre như đôi mắt trông ra núi Vạn chập chùng xa tắp. Một ao con xanh rờn rau muống. Giàn mướp đúng mùa rợp hoa vàng xập xoè bướm trắng. Bước chân tôi tần ngần dừng bên hiên nhà chếch bóng xế trưa, muốn cất tiếng gọi cô Bích, gọi bố, nhưng khung cảnh im vắng, cửa khép kín lặng khiến tôi e ngại. Tôi tưởng mình vừa lạc lối nhập vào bức thuỷ hoạ bố tôi mua ở phố Huế trong một dịp ra Hà nội. Tấm tranh lụa màu nước nhu nhã vẽ cảnh sông núi khôi vĩ, chiếc cầu treo khỏng khảnh vắt ngang hai sườn đá cheo leo một cội sơn tùng, con nước loằng ngoằng bên dưới, lác đác dăm nóc nhà con, trông như những mạn thuyền úp lưng tuân phục thần lực thiên nhiên. Tôi đang thu mình bé lại, vén tranh lách vào. Ô cửa bên hông nhà cô Bích hé cánh hớ hênh. Nắng nhạt nhoè rón rén. Tia mắt tôi ghé lại, soi bói lướt nhìn diện tích chập hẹp nhá nhem bên trong. Mùi ẩm nồng lạ mũi. Dường như có cả hương đường cháy khen khét. Luồng sáng vàng rơm kẻ khung hình học lên nền đất chiếc sấp chiếc ngửa bừa bãi. Ngực tôi thắt nhịp. Đôi giày mõm bít của bố chiếc úp chiếc ngửa. Người tôi nóng ran, hoa mắt chứng kiến trên mặt giường tre, sống lưng dài của ông dán sát thân thể trần trụi bên dưới. Bốn bàn tay xoắn nhau dang rộng. Đầu ông ngấc cao, búi tóc bung vãi, ngấn vai nhấp nhứ theo động tác dồn dập của gò mông trắng hếu giữa ngáng chân dạng ra rồi khoá lại chữ X. Chỉ cần một tiếng tru vọng kèm theo, lập tức ông hoá thành con sói ngẩng cổ hú trăng đỉnh núi đá trong tấm tranh lụa huyễn hoặc. Không, không phải tiếng chó rừng tru tréo mà là tiếng hổn hển của loài dã thú đang vật vã cấy nọc nhau. Dạ dày tôi tiết ra dịch vị chua loét dâng lên cổ, rón rén bỏ đi.

Tôi thất thểu trở lại góc đa chợ làng, mắt cay xè. Tôi trống rỗng như con lợn bị vét sạch bộ lòng. Nhưng khối óc vẫn minh mẫn nguyên vẹn. Giọng bố tôi bóng gió hôm nào lại vang lên, cái ngữ gái ấy chỉ giỏi dạng chân… Cùng lúc là cặp chân của người nằm dưới rập rượn quắp lấy đáy lưng bố ấn dấu sắc nét trong trí tôi, một con lợn bị thọc tiết với khối óc biết suy nghĩ.

Bố trở lại, hỏi tôi đi đâu, làm gì. Tôi mếu máo, con ngủ quên ở nhà thằng Nhẵn. Lần đầu tiên trong đời, bố siết tôi vào lòng, vỗ về, ngoan nào, lớn rồi! Tôi váng vất bắt được trong mồ hôi bố ám mùi thuốc lào, thoảng hương thơm lạ, kín đáo. Không phải hương mực tàu mới mài, cũng không phải hương giấy bổi nhuộm phẩm đỏ. Đúng rồi, chính là cái mùi ẩm nồng của cái ngữ phụ nữ tóc xoăn răng trắng từ gian nhà cô Bích xông lên hăng hắc…

Chiếc kẹo vừng bố cho tôi tan chảy nhão nhoẹt trong lòng tay. Hình tượng bố tôi, một nhà nho khuôn mẫu truyền thống, cũng nhem nhuốc vệt mực đẫm mưa dục vọng. Những gì tôi tai nghe mắt thấy trưa nào tại nhà cô Bích được tôi chôn giấu tận đáy lòng, trong trí nhớ hằn đậm vết chàm bẩm sinh. Và theo cùng bố tôi xuống nấm huyệt mùa đất vữa của kháng chiến bùng lên là ảo tưởng về một mẫu người mực thước. Bố mất sau nhiều năm lao phổi. Tôi nhớ mãi màu nắng hôm hạ quan, rạng rỡ và dửng dưng đến đau lòng. Nhưng sau đó không lâu, tâm trạng tôi như cây dại, thản nhiên đâm chồi, mặc những biến động tang thương của đất nước. Ý nghĩ tôi mọc ra những rẽ sông, những ngả đường, những viền trời không bị núi Vạn che khuất.

Từ độ bị Tây càn quét, chợ làng không còn nhóm họp thường xuyên và đông đảo nữa. Nghe nói, Nhẵn đã bỏ vào chiến khu đâu đấy trong núi rừng tây bắc. Cô Bích kẹo vừng bị Tây đen Tây trắng hãm hiếp, xấu hổ bỏ làng biệt tăm. Một dịp tình cờ, đi ngang vuông đất nhà cô, ma lực nào sai khiến chân tôi bước vào. Giàn mướp um tùm lấn lên song tre, tuyệt nhiên không thấy đơm trái. Vài con bướm mốc nhắp cánh ngẩn ngơ bay tìm hoa. Cửa nẻo hoang hoác. Mái lá nghiêng đổ, cố bám víu cột kèo xiêu vẹo. Tôi đứng giữa vũng nắng xuyên mái lấp loé gian nhà không mùi vị. Quá khứ hiện mất chập chờn trên đất đôi giày mõm bít, chiếc sấp chiếc ngửa của bố tôi. Tâm tư tôi trong suốt như gương. Trong búi cỏ vườn sau, tôi nhặt được nửa chiếc lược sừng trâu giắt tóc. Tôi run rẩy nhớ lại mái tóc óng mượt uốn xoắn úp ngấn cổ thon thả, khoẻ mạnh của cô Bích. Chuỗi cười răng trắng tươi giòn sau lời khách tán tỉnh. Chao ơi, lược nằm đây, còn tóc nơi đâu? Tay tôi bâng khuâng vuốt lên hàng răng lược gẫy đoạn, cõi lòng quặn đau từng cơn. Quá khứ thơm hương, tạp âm tạp sắc, sau những tai ương cuồng nộ, trở nên không mầu, vô tri giác. Tôi hình dung ra cảnh tượng lũ mọi đen mọi trắng dầy vò man rợ thân thể người đàn bà thừa tự những ngàn năm văn hiến. Tôi không khỏi căm phẫn. Răng lược nhói đau trong nắm tay tôi siết chặt. Trong khắc giây đối mặt những chiếc bóng đen đúa mạnh bạo hằng bao thập niên đô hộ, lời mẹ ngậm ngùi khuyên tôi vẳng khẽ bên tai.

Đi! Đâu cũng được, nhưng phải đi!

… Tiếng bánh sắt nghiến sầm sập lên thiết lộ to dần trong đêm trăng khuyết. Tôi nhổm lưng, xốc lại túi vải quàng vai, thấm thỏm lồng ngực, tâm trạng rối rắm những hình ảnh dĩ vãng gần xa. Khoé mắt khô lệ từ khi nào, đăm đăm chọc thủng bóng đêm. Đường đê câm khuất sau cánh rừng âm u cây lá. Con thú hoả xa ngậm lửa mùa ấu thơ rậm rực mơ tưởng trong tôi, khuya nay, sẽ mang tôi đến phương trời ấy. Nơi còn nghe tiếng hổ đồng bằng giỡn trăng bên đầm nước. Nơi còn nghe rạo rực những đốm mắt cá sấu loé lân tinh trong cánh rừng trầm thuỷ. Nơi còn khỉ kêu, vượn hú tìm nhau những hoàng hôn chành chạch ráng đỏ. Chuyến tàu lầm lì xé màn đêm, băng ngang. Không một hồi còi báo hiệu. Chỉ sầm sập, sầm sập chuỗi thanh âm nặng nề, khô khốc. Toa cuối không mái vách, chất đầy thân gỗ. Tôi cuống chân đuổi theo, bất kể sỏi đá cứa buốt gót chân. Tốc độ nhanh hơn tôi tưởng. Tôi cố sức nhoài tay nắm lấy sườn sắt, lấy đà đu lên. Thân tôi lơ lửng như dơi bấu vách đá trong mưa bão. Gió táp mặt phần phật. Bấy giờ còi tàu mới rúc lên, chằm chặp từng cơn vang dội. Như một lời giã từ. Tàu sắp sửa qua sông. Mặt nước lấp lánh từng mảnh gương vỡ trời quê quán. Tôi thấy lại tia mắt lạc thần của bố trong đêm lìa đời. Mẹ tôi che mặt giấu cảm xúc sau lóng tay xương xẩu. Nắm đất hạ huyệt ném xuống lòng mộ ẩm. Tôi nấc lên, nuốt nghẹn lời ly biệt.

Lưng tàu câm nín mang tôi xuôi Nam.

 

(còn tiếp)

bài đã đăng của Ngô Nguyên Dũng


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006*2018 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)