Trang chính » Sáng Tác, Tiểu thuyết Email bài này

Núi Đoạn Sông Lìa – phần 35

 

 

NuiDoan-34

 

Dưng không núi đoạn sông lìa
Đêm ôm gối lạnh, ngày chia ngắn dài.

 

(tiếp theo)

Đào đến như được gọi. Nàng mang lại cho ông Khánh chiếc bóng của chính ông tưởng đã đánh mất. Năm cô con gái ra đời sau đó, được đặt toàn tên hoa. Bắt đầu từ đấy, ông Khánh có sở thích vun trồng thược dược. Hạt giống đầu tiên do Đào mang đến, trổ hoa trắng ngứu. Nàng nói, hoa thược dược mang nhiều màu sắc khác nhau, nhưng em chỉ có giống Bạch vân này. Ông Khánh nẩy ra sáng kiến độc đáo. Khi năm cô con gái lần lượt đến tuổi xuân thì, ông rao truyền kén rể trong những buổi chợ phiên. Chợ khởi sự đông đúc từ dạo ấy. Mảnh đất con của gia đình ông Khánh bắt đầu có người lui tới. Luống đất trồng hoa càng lúc càng thắm tươi hương sắc. Ông chọn cho nó cái tên "Hoa viên Đào Khánh". Nhiều mẩu chuyện trà dư tửu hậu được truyền tụng. Rằng, ông Khánh là hoá thân của vượn trắng chùa núi Vạn. Rằng, cốt bà Đào là linh miêu, khéo luyện đào hoa tinh pháp, hoá kiếp mỹ nhân. Rằng, thuỷ thổ nơi ấy nằm ngay hậu môn ông rồng thiêng, nhờ phân và nước tiểu thải ra, nên đất không cần bón xới vẫn tốt lành. Thiên hạ dần dà rủ nhau đến đấy, xin ông Khánh cho phép phát rừng, cất nhà, cuốc rẫy trồng hoa làm kế sinh nhai. Ông Khánh ra luật bất thành văn, cấm không được đốn đào cũng như tất cả đại thụ có thân lớn hơn vòng ôm đứa trẻ lên năm. Làng có tên Khánh từ dạo đó. Dân làng chuyên nghề trồng hoa, đặc biệt là thược dược, nhiều loại không thấy đâu có. Đỏ choé như tiết gà. Vàng khứu như bột nghệ. Tím sảnh như cánh rầy. Hồng xoan như phấn nụ. Vài loại còn dặm sắc đôi. Ngoài trắng trong tím khảnh, hay rìa vàng trong đỏ lựu, …

Thật vậy, hàng hoa tháng chạp của gái làng Khánh là tâm điểm thu hút khách gần xa. Đa số là thanh niên trai trẻ tìm đến, trước để ngắm người và trêu ghẹo, sau để xem hoa. Thiên hạ rỉ tai nhau, gái làng Khánh có làn da mịn mởn trắng hồng nhờ tắm nước hoa đào.

Bố tôi, những dịp ấy, cũng lượn vờn tới lui, xuýt xoa khen tặng. Tia mắt ông lại loé lên, bén ngót như muốn cứa đứt dây yếm lụa cánh gián một sợi mỏng manh thắt sau gáy cô hàng hoa. Mỗi khi bán được chữ, ông mua về một cành hoa đào hay một cặp thược dược cùng màu. Tối tối, ông chong đèn ngồi uống trà, ngắm hoa, ăn kẹo vừng cô Bích. Một mình. Không ai được phép quấy rầy. Mọi cử động đều rón rén. Chúng tôi trở thành những bóng ma chập chờn trong ngôi nhà u tịch, lạnh lẽo phong kiến. Bố tôi, một cụ đồ nho thất chí, không bắt kịp tốc độ của văn tự. Con rùa ấy còn chất nặng trên lưng những bia miếu trăm năm rêu bám.

Truyền thuyết làng Khánh không phải do bố, mà do cu Nhẵn kể tôi nghe. Gọi "cu" vì quen mồm chứ Nhẵn đã trổ mã, vỡ giọng ồ ề, mép cằm đã phun phún râu non. Nhẵn là đứa chạy việc trong chợ. Ai cần sai bảo gì, cứ ới một tiếng là Nhẵn xoắn chân chạy đến. Một bát nước vối cho mụ Phái cà pháo. Nhẵn này, giúp cụ đây khuân thúng nếp xuống thuyền, rồi tao cho tiền ăn xôi. Canh hàng cho bà cả Bạch Tạng đi giải. Nhẵn ơi, đuổi chó hộ tao, dải nhớt gớm ghiếc thế này, có là chó điên. Nhẵn có diện mạo là lạ, bên to bên nhỏ lệch lạc. Nó nói, vì nó có thói ngủ nghiêng bẩm sinh. Cụ Lý xem tướng, bảo Nhẵn nửa sang nửa hèn, nửa vua nửa dân, nửa Phật nửa ma. Đến mười tám tuổi, bên nào lấn lướt, sẽ định đoạt phần số Nhẵn sau này. Nhẵn nghe vậy, lộ vẻ thích, vui vẻ hoàn tất việc làng việc chợ. Thấy tôi ngơ ngác, ủ dột bên cạnh bố tôi trịnh trọng gò lưng kẻ chữ trên manh chiếu lát, trong bóng râm tàn cổ thụ già cỗi, gốc chè hẽ lỗ nẻ, trẻ con chui lọt; cạnh đó ai đặt một miễu thờ, lúc nào cũng phất phơ hương khói, hoa đèn túm tụm sơ sịa; Nhẵn mở lời làm quen. Tôi thường để mắt dõi xem Nhẵn khập khễnh thoăn thoắt bến sông cuối chợ như thoi đưa. Vậy mà thỉnh thoảng vẫn thấy nó rỗi tay quay con vụ hay đánh đáo với mấy đứa khác. Mùa nóng cũng như mùa rét, lúc nào cũng thấy nó sơ sịa mỗi cái quần xồi nâu tưa gấu ngang bắp chuối, buộc dây lưng đen đủi sợi ngắn sợi dài tới đáy. Rõ ràng cái quần người lớn, không biết của ai cho. Thế mà dường như chưa lần nào tôi thấy Nhẵn bệnh hoạn gì.

Nhẵn đứng thẳng, cao hơn tôi cả cái đầu. Có lần tôi hỏi Nhẵn, bao nhiêu tuổi, nó đáp gọn, không biết. Tôi ngơ ngác. Phải sống lâu như rùa như gỗ đá mới không nhớ nổi tuổi mình, đằng này Nhẵn … Tôi đoán, nó lớn hơn tôi độ chừng năm hay sáu tuổi. Cũng có thể nhiều hơn, vì Nhẵn chuyện trò ra vẻ sõi đời như người lớn. Những dịp chỉ có hai đứa tôi, nó thường nhỏ giọng tục tằn chuyện trai gái.

Trưa ấy nắng gắt, chợ tan, bố không về nhà ngay mà dặn tôi chờ ông đi lấy vài lạng kẹo vừng, kẹo lạc đặt từ tuần trước. Bố cho phép tôi theo Nhẵn chơi đùa, không quên dúi vào tay tôi cái bánh giò còn ấm. Bánh giò bà cả Bạch Tạng ngon có tiếng. Bột trắng mịn, thơm dịu hương lá chuối, nhân thịt lợn băm, mộc nhĩ thái chỉ giòn khấc, gia vị tiêu hành không thừa không thiếu. Ánh mắt Nhẵn loè lên thèm thuồng khi thấy tôi tẩn mẩn bóc lá. Rồi, không nén được, nó nuốt nước bọt đánh "ực". Tôi xót lòng, xẻ cho nó một góc bánh không nhân. Chúng tôi ngồi cạnh nhau trước chòi lá nhỏ bằng cái chuồng trâu nhà phú hộ. Nhẵn ngấc mặt tự hào, nhà tao đấy. Nhẵn còn chỉ tôi xem chỗ nó nằm ngủ, trông như ổ rơm lợn nái ở cữ, đùm đụp bện trên tấm vải rách vá lỗ chỗ. Nhà không bàn ghế, không cửa sổ. Một hoả lò ba chân đất nặn, hỏn hon vài thanh gỗ cháy nám. Bên cạnh, một nồi không quai, một ấm đen xỉn, và một cái bát đôi đũa vơ vất trên đất. Tôi chưa từng thấy căn nhà nào thô sơ đến thế. Nhưng chẳng hiểu sao, cảnh tượng ấy kích thích tâm hồn trẻ thơ trong tôi mạnh mẽ đến nỗi bắt tôi khao khát có một cuộc sống như Nhẵn. Không phải đến trường mỗi ngày. Không bị gò bó trong khuôn tấc dạy dỗ cổ điển nghiêm ngặt của cha tôi. Từ đó tôi sẽ tháo bỏ chiếc bóng lẽo đẽo hiu quạnh bên mình. Tôi sạch. Tôi vô sắc như gió, thảnh thơi như sâu bọ, vô tư như cào cào châu chấu, tự do như cánh chim vui thì hót, chán thì chắp cánh bay đi.

Có lẽ Nhẵn nhận ra vẻ mặt rực lên khác lạ của tôi, nên ra giọng ít nhiều tự hào:

– Không phải ai trong làng này cũng được như tao.

Đúng rồi. Chẳng biết từ đâu, những lúc sau này, nhác thấy nhiều khuôn mặt lạ về đây. Có người là thân quyến của dân trong làng. Có kẻ không quen biết ai, như bộ xương trăm năm đội mồ vất vưởng trở lại dương trần, gầy rạc, rách rưới, đói khát. Họ sùi bọt mép thuật lại những vụ đói hoành hành, những chứng bệnh kỳ dị lan tràn, những mùa màng bị chuột đồng toa rập cùng châu chấu phá hoại. Và cuộc chiến kháng Pháp dai dẳng nhiều thập niên qua. Rồi đột ngột Pháp đi, Nhật đến, gieo rắc cái đói lớn. Hai lá phổi đồng bằng sông Hồng bị vi khuẩn thực dân da vàng gặm mòn. Mặt đất suy dinh dưỡng, không đủ sức làm đầy ngần ấy triệu dạ dầy. Những phong trào cách mạng, chủ nghĩa xã hội nổi lên như những đám cháy mùa nắng hạn. Có khuya, tôi ra nhà sau đi tiểu, sật sừ nom thấy viền trời núi Vạn lấp loé đỏ ngời. Tôi tưởng ra nơi đó có ánh sao trời vĩ đại vừa giáng xuống, phực lửa, làm chấn động một góc trời. Sáng hôm sau nghe người lớn rủ rỉ kể nhau, đêm qua có đoàn du kích về ngang núi Vạn, tiến công đánh phá đồn Nhật. Đánh lớn. Nhiều người tử vong. Xong, tiêu thổ kháng chiến. Phá sạch. Đốt trụi. Tôi không hiểu tại sao, chỉ đọc được qua ánh mắt mẹ tôi trĩu nặng những âu lo, lâu lâu lại thở dài rười rượi.

Tháng mười, có hôm tôi hân hoan theo chân mẹ ra thăm mấy thửa đất sắp gặt. Lúa nghiêng rạp, đơm hạt vàng lườm. Gió bấc phất phơ vành khăn mỏ quạ vấn đầu mẹ tôi. Tôi nắm chặt tay mẹ, tâm tư dấy lên nỗi rung động lần đầu tôi cảm nhận theo tiếng thở dài khẽ khàng của mẹ. Hay đó chỉ là hơi gió chuyển mùa trở về thăm hỏi những đất đai sông núi đã bấy lâu đoạn lìa? Xúc cảm ấy lạ lùng lắm. Như ẩn sâu trong kén sắc, nôn nao chờ khắc điểm hoá bướm, điểm chút bàng bạc tuyệt vọng của lá chờ tuổi rụng.

Me bất chợt gập người quì xuống, cặp mắt mi cặm nhoèn nhoẹt nhìn tôi không chớp:

– Hoàng, nhớn lên, con phải đi thôi!

Tôi chớp mắt hoang mang không hiểu.

– Đi Hà nội, vào Nam, đâu cũng được, nhưng phải đi!

Mẹ nói nhanh, như để lấp liếm hai hàng lệ lăn trên má. Tôi không biết phải nói gì, cũng không hỏi tại sao, chỉ chơm chớm hiểu ra câu trả lời, sau đó. Có lẽ mẹ muốn dặn dò, vì chỉ ở những chốn ấy, sâu sẽ có cơ hội hoá thân rực rỡ, lá sẽ không rơi rụng thuở còn xanh tươi. Nhưng tôi không cảm thấy phấn khởi, mà buồn bã thắc mắc vì sao mẹ tôi nỡ thốt ra những lời đành đoạn ấy. Tôi nghĩ mình đã tìm được câu giải đáp qua những bộ xương người từ chốn nào lạc về đây nương náu, qua nhiều lời oán than của người lớn, qua những cuộc nổi dậy vũ trang chống thực dân càng lúc càng loang rộng như cánh rừng bén lửa…
 

(còn tiếp)

bài đã đăng của Ngô Nguyên Dũng


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006*2018 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)