Tạp chí Da Màu – Văn chương không biên giới » Kỉ Niệm (trước) “Ngàn Năm Thăng Long”: Vị trí Việt Nam của Lí
Trang chính » Học Thuật, Lịch Sử Email bài này

Kỉ Niệm (trước) “Ngàn Năm Thăng Long”: Vị trí Việt Nam của Lí

Trích từ tác phẩm sử học mới nhất của sử gia Tạ Chí Đại Trường: “Sơ Thảo: Bài Sử Khác Cho Việt Nam.” Tác phẩm này sẽ được lần lượt giới thiệu trong mục “Học Thuật” và toàn bộ sẽ được ấn hành ở Trên Kệ Sách sau đó.

 

Có thể kể Lí là triều đại xuyên suốt dài nhất trong lịch sử Việt. Hậu Lê cai trị từ thế kỉ XV đến thế kỉ XVIII nhưng có thời gian gián đoạn vì Mạc, chưa kể thời Trung hưng chỉ ngồi làm vì. Nguyễn phải trải qua thời kì làm Chúa còn dài hơn thời làm Vua của mình. Lí, trong sự củng cố ngôi vị của mình sau thời chông chênh của các triều vua Hoa Lư, đã đặt nền móng vững chãi cho nền độc lập về sau. Cũng nên nghi ngờ về một ngộ nhận rằng bài thơ “Nam quốc sơn hà Nam đế cư…” là của đương thời vì nó đã xuất hiện trong truyện tích chiến tranh Lí Tống. Nhưng bài thơ thần giáng đó thật lạc loài trong thơ văn Lí mà lại có giọng hùng hổ của thời chống Nguyên: “Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm…” đúng với thời đại thế kỉ XIV của xuất xứ chứng tích sách vở.  Tuy nhiên điều lệch lạc đó không làm thay đổi vị trí của Lí trong lịch sử Việt Nam.

Đã nói, từ sự chọn lựa kinh đô mới, tuy chỉ là “về quê,” nhưng không phải Lí chỉ giản dị làm một sự chuyển dịch nơi chốn. Tất nhiên Hoa Lư khuất lấp cũng thật thuận tiện cho sự chống đỡ buổi đầu, khiến cho kẻ thù ngần ngại khi muốn lấn áp, lấy lại uy thế cũ. Nhưng với thời gian kéo dài trong tình thế mới thì những nhược điểm sẽ lộ ra: Khung cảnh chật chội của Hoa Lư đóng khung tầm mắt của người nắm quyền – và cả những thế lực khác muốn tranh quyền, khiến cho sự tranh chấp chỉ quanh quẩn trong một khu vực nhỏ hẹp. Ưu thế xa khuất đối với chủ nhân ông cũ lâu dần sẽ có ý nghĩa của một sự co rút, trốn chạy. Những điều đó đã không xảy ra chỉ vì Lí dời đô, đến một nơi mà tương lai được bảo đảm bằng các dấu hiệu của quá khứ. Tách rời khỏi chủ nhân cũ là để đòi quyền riêng biệt của một địa phương, nhưng muốn tồn tại thì không thể trở về với thời bộ lạc xưa mà phải là tiếp tục hướng tiến đã mở ra trong thời thuộc trị, chỉ vì giản dị đó là hướng văn minh đương thời độc nhất, có tính kết tập cao trong vùng. Như thế sự trở về cựu thủ phủ thuộc địa Đại La, trên đại thể sẽ không gây ra sự gãy đổ trong tình hình quản lí đất nước của người cầm quyền mới,  không có sự gián đoạn mà chỉ là tiếp tục, trong nếp sinh hoạt của những người sống trên mảnh đất đã thay đổi chủ quyền, và đó là cơ sở lâu dài cho sự tồn tại của Lí.

Lí về kinh đô Cá Sấu Thăng Long, tầm mắt vươn xa trên một vùng đồng bằng lớn rộng, có đất đai để khai thác giàu mạnh theo một cung cách khác với lối cướp đoạt thông thường, mở ra trên một cơ sở quản lí của thời thuộc địa nay đã phân rã gần một thế kỉ nhưng còn giữ được khuynh hướng tập trung rồi sẽ giúp họ, cũng như những dòng họ tiếp theo, nắm tư thế gom góp quyền hành càng lúc càng xứng với danh nghĩa “triều đại” vốn thật mờ nhạt lúc khởi đầu. Không có việc dời đô, không có Lí, Trần hay ai đó về sau chắc hẳn không đủ khả năng đương cự với sức mạnh tràn lấn của Nguyên Mông. Chính sự tồn tại lâu dài của Lí đã khiến cho chủ nhân cũ phải dứt khoát từ bỏ ý định chiếm lại thuộc địa xưa, công nhận một nước mới ở sát phía nam của mình. Tên nước An Nam tuy còn vướng vít quá khứ nhưng ở đó đã có một “quốc vương” mang tính tự chủ chứ không phải là một “quận vương” của triều đình phương Bắc phái đến cai trị nữa. Chính Lí đã chính thức nêu danh hiệu Đại Việt lâu dài cho đất nước mình cai quản (1054) qua những dò dẫm của các triều trước, hình như là nước Đô Hộ của Ngô vướng qua thời Đinh, lẫn lộn với Đại Cồ Việt như một nối kết với nước Nam Việt của Triệu Đà xưa đã làm gàn trở mà thành hình tên Việt Nam ngày nay.

Nhưng không phải vì công cán kết tập ban đầu đó mà ta phải nhìn Lí như một triều đại rực rỡ theo cách nhìn tán tụng của người thời nay. Sử xa đời tuy mờ mịt, sử quan hay bị chê trách nịnh bợ chủ nhưng nhìn vào các ghi chép để lại, ta thấy họ thật thà một cách đáng ngạc nhiên. Đó cũng vì may mắn chúng ta có được quyển sử tuy cũng do nho sĩ viết nhưng thuộc vào thời đại ít khuôn thức gay gắt hơn lớp người sau họ. Quyển Đại Việt sử lược lưu lạc ở Trung Quốc, thoát được nạn tiêu huỷ trên đất gốc, trở về Việt Nam trong thế kỉ XX, mang lại những thông tin về Lí sát đời-thường hơn quyển sử Đại Việt sử kí toàn thư của triều đình Tống nho Hậu Lê. Và cũng để ta hiểu được tính chất thần thuyết lẫn lộn người việc thật trong quyển Sử kí của Đỗ Thiện đời Lí qua những mảnh vụn còn lại.

Triều đình Lí vẫn có dáng hào nhoáng của người chủ nước qua các xây cất thành quách, cung điện, đền tháp có tên trong sách vở mà ngày nay chỉ còn là vật chứng sứt vỡ, gãy nát. Nhưng không phủ nhận được, vẫn là hình bóng những ông chủ hung tợn cầm quân mà “quê mùa” nắm cày cuốc, kiên trì chăm nom ruộng nương, hưởng thụ đàn ca hát xướng với nhà cao cửa rộng nhưng tâm thần không ổn định, ngu ngơ bị gạt gẫm trong một đất nước đè nặng hình ảnh thần linh. Giống như sự mập mờ lẫn lộn những con cá sấu xuất hiện trong, ngoài nhà cửa, cung điện của đất Thăng Long đầy hồ ao, lạch nước mà mang dáng các con rồng cao quý của kinh sách xa vời. Tuy nhiên chính qua các dấu vết thô phác của triều đại chưa bị khuất lấp đó mà ta nhận ra tiếng nói của thời đại, tiếng nói bị lấn lướt chỉ vì sử kí mượn một thứ chữ cao cấp bên ngoài để ghi chép cho xứng bực cao sang – cái thứ tâm lí kênh kiệu đó cũng khiến cho người thời nay không quan tâm hoặc ngại ngùng khi phải nhắc tới những điều tầm thường – “bình thường.”

Với thời đại, nhu cầu quản lí ruộng đất của các lãnh chúa lớn nhỏ, nhu cầu quản lí đất nước nói chung, đòi hỏi triều đình phải mở ra những kì thi làm tính, viết chữ. Một đất nước “bản xứ” phải ghi chép bằng thứ chữ bản xứ mới ứng hợp với thực tế cho nên từ đó phát triển lối chữ dành cho địa phương, chữ Nôm, “quốc ngữ.” Đã thấy trong quá khứ tên nước Đại Việt mang kèm chữ “cồ” (viết theo chữ Hán “cù” để mượn âm) nhưng đó là ghi nhận có lẽ của thế kỉ XV vì không thấy ở sách xưa hơn. Lạc loài trong triều đình có chữ “chàng lớn” mà ta dịch từ “hạng lang” tuy không biết đích thực người xưa có đọc như thế không. Cũng như trường hợp danh vị Bố Cái Đại Vương (hay Vua Cái Đại Vương, theo K.W. Taylor) tuy chỉ người của thế kỉ VIII nhưng lại thấy ở sách thế kỉ XIV. Với phần rất lớn dấu vết để lại, tiếng nôm bị gò ép, uốn éo vào thơ văn, không còn là tiếng nói bình thường nữa. Trên bia đá thì chỉ còn dấu vết vài chữ của năm 1210. Ông Nguyễn Trãi chắc không nói chuyện như khi ông xếp đặt câu cú trong các bài thơ “quốc âm” của ông. Các bài văn Phật của đời Trần trước ông lại còn nặng nề thêm bởi tính triết lí của chúng. Các lời nói trong triều đình thì đã chuyển qua chữ Hán. Các chiếu chế, sắc lệnh từng được ghi, là khi tuyên đọc có người giải thích ra chữ “quốc ngữ” nhưng chẳng thấy một lời nào để lại.

Thế mà, không đừng được, Toàn thư khi nhắc đến biến động đảo chính và phản đảo chính năm 1150 nhằm lật đổ quyền thần Đỗ Anh Vũ, cho biết nhân vật Vũ Đái đã bị mắng là Vũ “Cứt”, phải ghi bằng chữ Hán (Việt) là “Cát”, nhân tiện chú thêm lời cho rằng đương thời có dùng chữ “cứt đái” (cát đái.) Lời nói trong lúc giận dữ thì không thể “hiền lành, nho nhã” được, và có lẽ chỉ vì tính cách này mà ngày nay ta còn nghe được nhóm từ đó vì hợp với các ông sử quan ưa làm thầy, muốn dạy dỗ vua chúa, triều đình, nên chịu để chúng lọt vào tai, phóng tay giữ làm chứng tích rao giảng. Nhưng tập họp “cứt đái” của mười thế kỉ trước sao cứ như là lời chửi mắng vừa mới nghe lúc nãy, của ai đó quanh quẩn đâu đây? Cho nên ta có quyền suy đoán thêm. Một danh tướng đương thời được nho thần Bắc ghi là Lí Thượng Cát và sử thần ta ghi là Thường Kiệt. Chữ “thượng” thấy trong văn bia đương thời là dùng cho tiếng gọi “thằng”. Qua lời Nguyễn Ánh của thế kỉ XVIII thì “thằng” còn có ý khinh miệt, nhưng ông chủ ruộng trong văn bia Lí 1210 thì hẳn không phải là nô bộc của ai. Vậy “thượng cát” là “thằng Cứt.” Và “thường kiệt” là “thằng Cặt.” Ông danh tướng này có tên gốc chữ Hán: (Quách) Tuấn, tên dùng đặt cho người con trai, đàn ông – chỉ là một cách gọi nho nhã, chủ đích làm nổi bật tính cách giống đực của ông, nhưng vẫn cùng một ý nghĩa: thằng Cặt, bình thường. Không có ý gì khinh miệt cả vì người ta đã dùng tên này cho ông suốt cuộc đời, không bỏ nó khi ông làm quan đầu triều, Thái úy, tư lệnh quân đội, khi là Thiên tử nghĩa nam, nghĩa là thuộc dòng vua, cuối cùng, cả khi đi vào sử sách cho đời sau ngưỡng vọng – tên “xấu” được che chắn qua một sự chuyển đổi văn tự và nhờ thời gian khoả lấp.

Thế rồi không phải tiếng nói lúc đương thời chỉ được ghi lại qua một hai chữ lạc lõng. Ta đoán rằng tầng lớp cầm quyền buổi đầu của Đại Việt đã dùng song ngữ trong giao thiệp hàng ngày. Ngô Chân Lưu, Tăng thống “khuông (phò nước) Việt,” Đại sư của Đinh được Thiền Uyển Tập Anh ghi là dòng dõi Ngô Thuận Đế, hẳn không phải xuất thân từ đất Ngô Việt tan rã (978) vì người chủ nơi này không xưng Đế, mà chỉ có thể là từ nước Ngô của Dương Hành Mật, mất (936) vào tay Nam Đường. Tống Cảo kể chuyện một cách suôn sẻ khi đi theo Lê Hoàn nghe ông ta khoe cái lầu Đại Vân nhưng đến khi nghe hát thì ông sứ giả mới giật mình: tiếng Man! Lí gốc Mân (Phúc Kiến), ngưòi phụ giúp rất nhiều là gốc Mân như đã nói. Có lẽ vì nhìn theo hướng như vậy mà Phạm Thành Đại, tác giả Quế hải ngu hành chí (1175) đã cho rằng dân bản thổ Đại Việt không còn mấy, quá nửa là dân Quảng Đông, Quảng Tây đến ở! Và chứng cớ không phải chỉ từ sách vở rách nát mà còn từ các hòn đất chịu đựng qua năm tháng: Các tượng đào được ở Quần Ngựa (Hà Nội) do J.Y. Claeys đưa ra (1934), hẳn từ những hội Thiên Phật của Lí, rõ ràng đã lấy mẫu ở các người danh giá đương thời, và rất giống người Hán! Thế mà lớp người đó đã dùng một từ bản xứ để gọi con người từng một lúc nắm cả vận mệnh dòng họ cầm quyền, con người nếu xuất hiện sớm hơn, có thể lập một triều đại khác.

Họ còn dùng tiếng bản xứ để nói với nhau, nguyên cả một câu phẩm bình đầy giận dữ: “Ngô Phụ quốc là lồn, Lê Đô quan là cứt! (cặt?)” (Từ nguyên văn “Ngô Phụ quốc thị Lan, Lê Đô quan thị Kích.”) Câu nói được sử gán cho “người dân” tức giận vì triều đình không dám xử tội ông Thiếu sư tư thông với Thái hậu. Có điều gây thắc mắc là năm 1189 đó dính líu tới ông Mạc Hiển Tích mà Toàn Thư ghi đỗ trong kì thi chỉ lấy một người năm 1085, được đi sứ Chiêm năm 1094, nghĩa là ông ta không thể sống lâu đến lúc có chuyện đó để lưu danh đặc biệt. Toàn Thư nho giả nghiêm minh hơn đã bỏ câu chuyện mắng mỏ “dơ dáy” của Đại Việt Sử Lược nên khỏi cần thắc mắc tại sao Mạc Hiển Tích không ve bà Ỷ Lan mà lại ve bà Thái hậu của 100 năm sau? Tuy nhiên hai nhân vật kia lại là có thật. Thái phó Ngô Lí Tín làm Phụ chính một năm trước đó, còn Đô quan Lê Năng Trường thì năm sau hình như được thăng chức. Nghĩa là câu chuyện có thật, và quan trọng đối với chúng ta bây giờ là câu mắng kia có thật. Chữ “là” đã được Nguyễn Trãi dùng trong thơ của ông, như vậy nguyên văn khẩu ngữ của câu trên có thể đúng là: “Ngô Phụ quốc là…, Lê Đô quan là…” như ta đã dịch. Một câu nói tiếng Việt dài hơi, dù đã chuyển qua chữ Hán nhưng vẫn giống như người bây giờ nói vì không lụy vào văn pháp Hán, chưa từng thấy đâu trong sử sách về sau cho đến lúc người Pháp qua. Câu mắng trên là chứng tích có thời điểm, là bằng cớ Việt Nam của Lí, của một ngàn năm trước. Xuất phát từ một sự kiện bình thường, nó biểu diễn được tính chất đời thường, không phải nghiêm túc như các văn thề, thư tín quan cách của Lê Trịnh. Qua một ngàn năm nữa từ Lí, đám người còn chia năm xẻ bảy dưới quyền họ rồi sẽ thu nhận thêm nhiều tập đoàn khác nhưng đã có một tiếng nói được định hình, làm nền tảng cố kết tính độc lập và riêng biệt phát triển trên phần đông bán đảo Đông Dương cho đến tận ngày nay.

Một ngày hè 2006.
Trích trong “Sơ thảo: Bài sử khác cho Việt Nam.”

bài đã đăng của Tạ Chí Đại Trường


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)