Trang chính » Sáng Tác, Tiểu thuyết Email bài này

Núi Đoạn Sông Lìa – phần 27

 

NuiDoan-27

Dưng không núi đoạn sông lìa
Đêm ôm gối lạnh, ngày chia ngắn dài

 
(tiếp theo)

Ông thấy lại cảnh phố phường ba mươi sáu ngõ sôi sục khí thế biểu dương. Cờ xí đỏ vàng rợp mắt. Biểu ngữ chữ tây chữ quốc ngữ căng dọc ngang quảng trường dinh sứ thực dân. Trên bục gỗ, có người đàn ông ốm xương vận quốc phục trắng, trán cao, râu cằm phất phơ, tay cầm loa khuếch âm diễn giọng cường điệu về tình huống khẩn trương của đất nước:

"Thưa quốc dân đồng bào, thưa các đồng chí,

hôm nay chúng ta tập hợp tại đây để cùng nhau nói lên ý chí quyết liệt cũng như nguyện vọng tha thiết tới chính phủ bảo hộ, rằng cái ngày độc lập cho ba miền Bắc Trung Nam, Việt nam nói riêng và toàn cõi Đông dương nói chung, đang cận kề. Mỗi ngày mỗi giờ tin chiến thắng từ núi rừng Điện biên dồn dập đưa về. Các chiến hữu đồng chí khắp mọi nơi, từ thành thị tới thôn quê, tự nguyện xung phong ra chiến trường càng lúc càng đông. Thời điểm cáo chung của đế quốc xâm lăng đã điểm. Chúng ta, già cũng như trẻ, nam cũng như nữ, phải sắt máu kết đoàn, đánh đuổi cho tới tên thực dân cuối cùng cút về nước. Các đồng bào, đồng chí không chiến đấu đơn độc, mà có cả thế giới đại đồng nhất loạt hàng hàng lớp lớp đứng sau lưng. Chúng ta phải noi gương các nước đàn anh vĩ đại tiền phong chủ nghĩa xã hội, đại diện tầng lớp vô sản đương đầu với đế quốc tư bản thực dân bóc lột dã man. Tôi khẩn trương kêu gọi tất cả các đảng đoàn, các bộ phận yêu nước hãy tích cực đóng góp vào cuộc cách mạng vũ trang từ thành thị tới thôn làng, để giành lấy chiến thắng sau cùng. Không có giọt máu nào đổ ra vô ích. Không có lòng hy sinh nào không được ghi ơn. Cái chết nào cũng được lịch sử vinh danh đặt tên đường. Đồng bào hãy cùng tôi dõng dạc hô to: Đả đảo thực dân!"

Rừng cờ đỏ phất lên. Tiếng "đả đảo" bừng bừng sấm dội.

"Hoan hô chủ nghĩa vô sản!"

Biểu ngữ và những nắm tay gầy guộc giơ cao. Tiếng "hoan hô" rầm rộ vang dậy. Cả không gian phừng phực lửa đỏ, nung nấu, sôi bỏng. Chợt, nhiều tiếng hô to từ bốn phía vang lên: "A-lê …", tiếp theo là tràng thanh âm lên nòng răng rắc. "Phơ!" Bầy bồ câu xám nhẩn nhơ trên hàng dây thép tung cánh hoảng hốt, xiên xéo bắn lên không trung theo chuỗi tiếng nổ chát chúa. Đám mít-tinh la toáng, "Phú-lít, bà con ơi, chạy!" Lũ người xô đẩy tán loạn, nhanh chân tan tác vào ngách hẹp phố cổ. Nhiều tiếng súng dội âm khô khốc đuổi theo, giòn tan …

Sắc đỏ loang ra ướt đẫm nhơm nhớp giấc mộng trưa hồi xứ. Ba nẩy mình nghe tiếng ai vẳng gọi, ba, ba ơi.

Người đàn ông mở mắt dớn dác. Gương mặt trẻ con cúi gần, bàn tay lay nhẹ bả vai ông.

– Ba, thức dậy ăn cháo gà xé phay!

Ba nhấc lưng ngồi dậy, cười nhếch nhác:

– Ba ngủ quên một miếng ngon quá chừng.

Ông không nói thật. Cẩm thoáng thấy đốm mồ hôi ướt sẩm áo gối viền đăng-ten, tía lia:

– Buồng của con với chị Châu nằm hướng đông, có nắng sáng, nóng hơn buồng của má nhiều. Bữa nào đi học, quên khép cửa sổ, nóng muốn chết luôn … Mà ba chiêm bao thấy gì, mớ kêu "chạy, chạy" như bị ma rượt?

Ba đưa tay vuốt tóc ngược ra sau, nói trớ:

– Ba thấy đương kéo diều chạy trên lộ đất chiều mát.

Cẩm nhõng nhẽo:

– Con diều đỏ anh Chung dán cho con hư rách mất tiêu rồi. Ba làm cho con một con khác, nghe!

Ba thõng chân xỏ dép, gật đầu:

– Bữa nào rãnh ba chuốt tre làm cho con một con diều vàng, đuôi đỏ cánh phượng. Thôi, đi ăn cơm, cả nhà chờ.

Cẩm nắm tay ba, tung tăng bước ngắn ra nhà trước vang vang tiếng cười nói sum vầy.

 

 

12.

 

Chúc dò la hỏi thăm ông Chín, được ông cho biết, cô Năm Bạch Liên giờ đang làm trong một tiệm may quần áo tây ta ngoài chợ tỉnh. Sau khi má nhận tiền trả mão vườn cam sành, má dúi cho Chúc một mớ, coi như trả công chàng đã giúp bạn hàng tới thu hoạch mười càng xé đầy. Chúc chọn bữa rỗi việc, đóng bộ tươm tất với quần tây vải tergal xanh đậm, áo sơ-mi cô-tông ngắn tay xám nhạt bỏ ngoài quần, đi dép bata, tóc xức dầu bóng nhấn tăng-gô, rẽ ngôi một đường thẳng băng như thước gạch. Chàng đếm tiền, lấy giấy tờ tuỳ thân bỏ vô bóp da, đút túi quần, xuống nhà bếp rót nước trà uống lót bụng.

Thấy Chúc sắm sửa như đón mừng ngày tư ngày tết, chị Ba Khởi chúm chím:

– Cha, bữa nay em ăn bận lịch sự y hệt trai chợ.

Chúc làm mặt tỉnh:

– Em có công chuyện phải ra tỉnh.

Chị Ba ghẹo:

– Coi chừng bị gái chợ bắt cóc nghe em!

Má hỏi dò:

– Chừng nào con về?

– Chiều, má à.

– Được rồi, để má kêu chị Ba để dành cơm.

Chúc phất tay:

– Khỏi, con ăn ngoài chợ được rồi. Má cần thứ gì, nói con mua!

Chị Ba Khởi lẹ miệng:

– Nhà hết xà-bông rửa chén rồi dì Tư. Lâu rồi hổng nghe ghe thương hồ thổi tù và ghé ngang.

Má dặn:

– Con mua cho má một khúc xà-bông đá. Nhớ biểu họ xắt miếng. Con coi có xà-bông thơm cô Ba, mua vài cục.

Chúc ực cạn tách trà ấm, không nói không rằng, bỏ đi một mạch. Được trăm bước, chàng quay người ngó lại. Chúc vẫn thích ngắm cảnh nhà đắm mình êm ả trong quang cảnh vườn tược còn sật sượng ngái ngủ. Nắng ban mai chưa ráo sương soi bóng mái ngói, tàn cây lá lệch vạt lên mặt đất. Chim muông thức giấc, chíu chít chuyện trò trong tàn rậm. Khói bếp nhà sau uốn lượn làn khói mỏng lên không trung biêng biếc màu mạ non. Trên con đường làng, chỉ một mình chàng, gần gũi mơn vuốt mỗi bước chân. Ðồng ruộng, thửa nầy giáp thửa kia một mô đất ốm, tít tắp nhoà tan vào viền chân trời ửng tím màu bông bằng lăng. Lác đác vài bóng người dẫn trâu ra ruộng sớm, thơi thả lê lất trên từng luống đất mỡ.

Chúc đăm chiêu đếm bước dọc mép cỏ úa màu, phóng mắt ôm lấy vùng minh mông thiên địa. Lần đầu tiên trong đời, chàng nhận ra vùng thổ ngơi hoang dã rộng lớn từ từ bị những rẽ đất tư hữu cắt mẩu manh mún. Vận nước đương thời tối sáng long đong. Lòng chàng cũng bất phân lắm nỗi trong ngoài. Mây trổ đốm lên mặt ruộng xâm xấp nước, đơm bông từng chùm trắng nõn. Chúc tưởng ra những miền đất đàng ngoài qua chuyện kể của ba trong những bận về thăm, tuy chung một dải sông núi, mà sao xa xôi cách trở như thể đã núi đoạn sông lìa. Núi ở đây không cao, có điều sông lạch rộng hẹp chằng chịt khắp nẻo. Cá tôm, lúa gạo nhờ vậy nghìn nghịt, tươi tốt. Ðời sống không đến nỗi cơ cực, cớ sao lòng chàng thỉnh thoảng lại gợn lên mấy đỗi bâng khuâng?

Cứ suy tư niềm xa nỗi gần, Chúc tới đường lớn đất dặm lúc nào không hay. Dưới tàn rậm cổ thụ cắm cột gỗ nghiêng vẹo ghi bảng chữ đen "Trạm xe ngựa tỉnh", bên dưới vẽ nguệch ngoạc hình con ngựa phai màu sơn, thấy đã có người đứng đợi. Chàng ngờ ngợ mắt ngó. Giọng thiếu nữ trong trẻo bật ra khoé môi chúm chím:

– Có phải anh Chúc đó không?

Chúc xoáy mắt lom lom:

– Còn hai cô đây là …

– Giang với lại Linh, con chủ ruộng Hoạch đây nè, anh không nhớ sao?

Chúc tươi mặt:

– A, moa-sen Giang, moa-sen Linh nhà phú hộ Hoạch, làm sao tui quên được.

Mộ cô lẹ miệng:

– Mà anh còn phân biệt được ai là Giang, ai là Linh không nè?

Chúc day mặt qua lại, ngắm nghía, hai gò má sượng trân đỏ lưỡng. Chàng soi lại một thoáng ký ức những độ Tết ấu thơ chưa nhiễm sắc biến động, cười nhận lỗi:

– Tui … tui … quên mất tiêu rồi.

– Làm sao anh nhận ra được, vì tụi em thay đổi nhiều …

Chúc lẹ miệng:

– Đúng vậy, chưa lần nào tui thấy hai cô bận đồ ta, nói chuyện không chêm một chữ Tây nào.

Một cô tự nhiên đặt tay lên vai Chúc, nhỏ giọng e dè:

– Mà anh Chúc đừng kêu tụi em là moa-sen này moa-sen nọ với lại ba em là phú hộ Hoạch nữa nhe, người ta nghe được, hổng tốt. Em là Linh, có mụt ruồi tăm ở cuối chưn mày bên phải đây nè, anh thấy không?

Nói rồi, cô gái chấm chấm ngón tay lên chỗ có nốt ruồi trên mặt, cười lí lắc. Cô tên Giang, tay cầm dù xếp, ra bộ giận lẩy:

– Nè, anh thấy tụi em bận đồ ta coi có đặng không?

Bấy giờ, người con trai mới để ý ngắm kỹ hai cô com gái. Tóc cô Linh đen mượt, chẻ đường ngôi giữa, xoã một bên vai trước, đậm nét mượt mà tấm áo bà ba dài tay óng ả màu kén tằm, quần sa-teng đen phủ mấp mé gót guốc trơn quai ngang, lấp ló mấy ngón chân cắt móng. Còn cô Giang kẹp tóc bỏ sau lưng, bận áo trắng ngắn tay phùng điểm bông hường lấm tấm, quần mỹ a đồng điếu, mang guốc quai da tréo nhuộm đen. Mặc dù hai cô đã cố gắng hoà nhập vào nếp sống dân dã, nhưng vẫn không thể gột sạch gốc gác con nhà địa chủ, ăn trên mặc láng. Chúc nghĩ bụng, số phần họ may mắn hơn người, đâu ai quở trách gì được.

Trong chuyến xe ngựa suốt quãng đường ra tỉnh, hai cô tiểu thơ khuê các ngồi bên Chúc, thầm thì hỏi han không ngớt. Hai cô cho biết, ra chợ để mua sắm vài thứ chuẩn bị lên Sài gòn ăn học. Nghe trong giọng nói, chừng như se sắt vấn vương.

Linh bất giác thở dài:

– Ba còn biểu, đương lo giấy tờ cho cả nhà qua Tây nữa đó.

Chúc vuột miệng:

– Đi, chừng nào về?

Mắt Linh chơm chớp:

– Chắc đi luôn.

Giang giữ mặt tươi tỉnh:

– Chưa có gì chắc chắn hết á! Ba nói, trước tiên là dọn nhà đi Sài gòn cái đã, miệt nầy đương hồi lộn xộn, không còn làm ăn sinh sống được nữa. Họ cắm dao ghim giấy trước cửa cảnh cáo ba em rồi đó anh!

Chúc ngạc nhiên:

– Ai vậy?

Giang kê mặt thều thào:

– Việt minh chớ ai. Họ kêu ba em là Việt gian, cường hào ác bá, chó săn cho Tây. Nghĩa là sao vậy anh?

Hỏi rồi, cô gái ngửng mặt ngây thơ ngó Chúc. Không phải để chờ nghe câu trả lời, mà tâm tư cô dường như đang rối rắm ngổn ngang trăm mối lo toan. Về một tương lai gần là chốn thị tứ Sài gòn, về một tương lai xa là đất phồn hoa đô hội tây phương hoàn toàn lạ lẫm.

Chúc không biết trả lời sao, đành quanh co:

– Họ nói quá trớn. Thời buổi nầy, ai gian ai ngay, đố ai biết được!

Linh kể thêm:

– Ông thầy tới nhà dạy học cho tụi em, từ bữa chạy lụt về tới giờ, đi đâu mất tiêu. Ba kêu người tới kiếm thì thấy nhà cửa trụi trơn. Hỏi thăm hàng xóm, cũng không ai biết thẩy ở đâu. Tội nghiệp quá chừng, hổng biết có bị sao không nữa!

Chúc đổi đề tài, không muốn nhớ tới chuyện lần đó chàng với ông Chín, thằng Mười thừa cơ lụt lội tới nhà phú hộ Hoạch cướp cạn lương thực:

– Bận đó hai cô lên Sài gòn chạy lụt, thấy ở trển vui không?

Hai mắt Linh rực sáng, chưa kịp thốt thì Giang đã cướp lời:

– Vui chớ anh. Nhưng ở đây riết rồi quen, đi xa bắt nhớ.

Linh xum xoe:

– Trên đó người ta ăn bận lịch sự lịch sàng, đường sá tráng nhựa sạch trơn, xe hơi xe điện xe kéo ngược xuôi, đèn điện sáng trưng, hàng quán tấp nập, ồn ào lắm lận, anh không tưởng tượng được đâu.

Chúc thấy lòng bất chợt nôn nao. Chàng chép miệng, nói như than:

– Không biết chừng nào tui mới có dịp đi Sài gòn một chuyến cho biết.

Hai thiếu nữ không nói gì. Xe ngựa đang lăn tới đoạn dằn xốc, hai cô gái tay níu sườn xe tay vịn vai Chúc. Bánh gỗ rên xiết răng rắc. Hàng hoá chất chồng dưới sàn trên nóc xô lệch lủng củng. Gà vịt oang oác chập choạng. Trẻ con ré tiếng theo mỗi nhịp nhấp nhô. Chúc thoáng mắt nhìn ra. Xa xa, viền núi Phụng lam biếc rợn lên tha thiết. Cảnh trời đất bao la ứa lên lòng chàng mây khói giang hồ, đằm đẵm lê thê.

(còn tiếp)

bài đã đăng của Ngô Nguyên Dũng


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006*2018 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)