Trang chính » Biên Khảo, Giới thiệu tác phẩm Email bài này

Một cõi miên di

0 bình luận ♦ 8.10.2013

 

bìa & hoa

 

 

Thơ – sau rất nhiều khái niệm, kể cả những khái niệm bắt đầu lặp lại – đi từ vũ trụ đơn độc đến cái tôi vô cùng, lại miên man chập chững bước trên bờ một bên nắng quái mưa xiêu thênh thang con người một bên vực thẳm mênh mang tâm hồn và trí tưởng. Ngồi lại phiến đá lạnh nào đó, để nhóm lửa cho chỗ ngồi chứ chắc gì cho ai hay cho bản thân mình, là hồn thơ miên di. miên là bất định, di là vỗ cánh? miên di là cánh vỗ vô chừng? Mỗi vết chân người qua, lửa cháy lạnh. Lửa cháy không cần hơi ấm. Nếu lửa chỉ là lửa.

lửa có biết tự mình không là ấm
nếu vắng cái hơ tay của kẻ rét âm thầm
(lửa lạnh – miên di)

Tôi bước vào thơ miên di như thế. Một cõi ấm tự thân. Gã chẳng buồn viết hoa tên mình. Cớ gì tôi vênh vang chạnh lòng mỗi chữ cái bắt đầu cái tôi?

có lần muốn sống phần muông thú
sợ người làm bẩn tiếng chó tru
(người&con – miên di)

Thơ – chỉ cần vài dòng trích ngang như thế, đã đầy đủ điêu linh và thống khoái cho bất cứ ai chạm vào. Giới hạn con – người không làm nên rào cản trên địa hạt tưởng như rất cụ thể mà vô hình dung của miên di. Kiêu hãnh người bất chợt ngã ngửa, hóa thành cái chỏng chơ mặc cảm của một giống nòi lạc loài nhất, cô đơn nhất và thương đau nhiều nhất. Nếu không muốn dùng chữ vạm vỡ lạm phát thời nay. Nếu không muốn đánh giá bằng tâm trí của kẻ mê đắm. miên di tạo dựng và hủy hoại trong cùng một động thái: thơ.

có lần gặp Chúa trong siêu thị
bên cạnh đức tin có giá tiền
(tâm hồn mã vạch – miên di)

Nietzsche nhé Nietzsche! Đừng tưởng không có ai hiểu ông. Có thể là hiểu sai. Thần tượng chính là thần tượng khi người ta gọi là thần tượng. Theo cách ấy, những nhà thơ mãi mãi vặn mình dưới bóng mát mà bầu trời lồng lộng váy nàng thơ:

khi nàng thơ đánh rắm
vì ngộ độc nỗi buồn thời cuộc

thơ là tiếng rắm của thời đại
chỉ vừa mũi ai
không lạc loài khỏi chính mình
(Tiếng rắm của thơ)

Thêm một định nghĩa về thơ, riết róng bạo liệt dễ khiến bao nhiêu nhà thơ tự ẩm mốc trước cơ ngơi đồ sộ câu chữ tốn bao nhiêu máu dồn bấy nhiêu tâm tạo ra. Ngôi đền mất thiêng hay nó chưa từng thiêng? Hoặc là thiêng đến nỗi không cần ai giữ cửa quét sân phủi bụi mỗi ngày? Thời cuộc và thời đại – hai danh từ vô cảm dữ dội đồng thời gợi cảm mãnh liệt mang sức vóc của hàng ngàn chiếc đồng hồ Salvador Dalí, hàng tỉ bóng trăng của Lý Bạch, hàng triệu chiếc lá vàng rơi từ ảo giác Cuội già? Nàng thơ không nói bằng tiếng nói bất kỳ ai. Nàng hát nàng ca nàng cười nàng khóc nàng vô tư ngây thơ nàng đĩ thỏa bụi bờ bằng ngữ ngôn của chính mình. Quan niệm thơ, có khác gì cái tát đau gấp trăm ngàn lần vết đâm của chiếc xương sườn thứ bảy mà Thượng đế đã khoét hình dáng nàng khi thiên hạ dán cho nàng giống cái mặc định.

Tôi cố ý trích dẫn mấy trường hợp (nếu không muốn nói là mấy trường đoạn li kỳ) của thơ miên di để giới thiệu với chính tôi và mọi người: Một cõi miên di. Thơ kiêu ngạo mảnh mai vượt qua biên giới tột cùng của triết thuyết, mở ra một không gian xây bằng từng viên gạch triết thuyết dữ dội hơn, mới mẻ hơn để giam cầm thứ triết thuyết đã đẻ ra các nhà thơ kim cổ. Vôi vữa của thơ miên di, không ngoại lệ, tất nhiên, là chữ. Nhưng là thứ chữ tự xé nát mình ra. Tự đau. Và tự lành. Thương tổn đến tận cùng, cho đến khi tổn thương hóa thành vết sẹo tưởng chừng chỉ có đôi bàn tay thánh thần ma quái may vá mới đẹp đến vậy: Tình! Nguyên vẹn nỗi đau. Trọn vẹn cuộc giải phẩu tâm hồn mình bằng lưỡi kiếm tha nhân.

***

1. Chữ bạt vía nghĩa kinh hồn

Kể từ khi Bùi Giáng ghé đến thế gian Việt ngữ, cũng là khi Người tự tẩm liệm mình bằng thơ ca ý tưởng và hạ huyệt giữa cô quạnh thần sầu – chưa có ai nhìn thấy Người lần nữa. Tâm tưởng của Người, chữ nghĩa của Người đã trọn vẹn trong cuộc Phụng hiến bất đắc kỳ sinh:

Đi về trong cõi người ta
Người là người lạ ta là quá quen?
Anh từ thể dục dưỡng điên
Thành thân thơ mộng thiên nhiên một giờ
(Chào em – Bùi Giáng)

Ảnh của Người rơi rớt khắp cùng đường cuối ngõ chợ trời thiền viện thánh đường tù ngục. Hao hao dáng Người đã là hạnh phúc lắm chứ đừng tưởng đem cái dạ “ta là một” mà chối bỏ hạnh duyên. Lục bát miên di khởi nguồn từ dòng lục bát “thơ mộng thiên nhiên” của Trung niên thi sĩ mà róc rách, réo rắt đến lẫm liệt:

một ngày thấu hiểu mây trôi
cao xanh cũng chứa tả tơi trong lòng

thử làm một chuyến xe đông
đi không để đến và không để về
thử làm thú giữa hoang khê
động tình tru thót cơn mê kiếp người
(thử – miên di)

Dường như lùa bò trong sương. Dường như lùa bò lên đồi sim trái chín. Những con bò vác chữ không trên lưng oằn cong mà trong mơn mởn cỏ xanh nắng sớm. Lật ngược chữ để tìm cách giấu nghĩa đi, chữ vẫn đó nghĩa vẫn đó mà thân ta trở nên biệt tăm tự lúc nào. Thử của miên di là cuộc thử thứ thiệt, là “chết từ sơ ngộ” của Bùi thi sĩ:

Lỡ từ lạc bước bước ra
Chết từ sơ ngộ Màu Hoa Cuối Cùng
(Màu hoa cuối cùng – Chớp biển – Bùi Giáng)

Thú giữa hoang khê ai không muốn làm? Chẳng phải khát khao và dục vọng về tự do của con người từ khai thiên lập địa là như thế ư? Nhưng mấy ai nghĩ tới? Làm cuộc vong thân là sự tiến hóa cao cả nhất mà khoa học đã lắm lần chấp nhận đầu hàng trước phát minh của tâm can huyền nhiệm:

đười ươi lặng lẽ ngắm chiều
nỗi buồn tiến hóa thành điều quạnh hiu
(quạnh hiu – miên di)

Tôi ngẩn người hít hà ba lượt chín cái thở dài, tiếc cho bài tuyệt ca bị lỡ mất nhịp cuối: nỗi buồn tiến hóa thành điều quạnh hiu nhẹ nhàng quá, trơ trọi quá sau lưng tiền đề căng bằng tấm màn tượng trưng kỳ vĩ: đười ươi lặng lẽ ngắm chiều. Nhưng, lại nghĩ, nỗi buồn thì có thể tiến hóa thành gì nhỉ? Bất kể theo Darwin hoặc Mendel? Bất kể theo Socrates, Mặc Tử hay J.P.Sartre? Thôi đành, cứ để độc giả suy tư. Chỉ con đười ươi lặng lẽ ngắm chiều mới biết nỗi buồn tiến hóa ra nỗi gì. Bản thân cái “lặng lẽ ngắm” kia đã bao hàm ngàn vạn năm tiến hóa của một phản ứng trời đày. Mặc may, tâm hồn cao thượng của Nguyễn Du sẽ cho “nỗi buồn tiến hóa thành yêu nỗi buồn”, còn không, ắt hẳn nhân gian ích kỷ ngộ nhận sự tồn tại xa xỉ của mình mà than rằng “nỗi buồn tiến hóa thành điều buồn hơn”. Một chút lơ đễnh của miên di đã cho tôi cảm giác mình ngu ngơ hơn rất nhiều, kiểu như thay vì cao hơn lại thành dài hơn. Hơn đến tận cùng bất định:

đi qua hang ổ của lòng
sợ gặp phải bóng tôi vòng qua tôi
va quệt với chuyện đã rồi
dọc ngang từng chuyến khứ hồi về mai
(đi qua – miên di)

So với Bùi Giáng:

Rồi tôi lớn, đi vào đời chân bước
Cỏ Mùa Xuân bị giẫm nát không hay
Chợt có lúc hai chân dừng một lượt
Người đi đâu ? Xưa chính ở chỗ này
(Chỗ này – Mưa nguồn – Bùi Giáng)

Lại phải hỏi: Chuyện gì đã rồi? Đã lại còn rồi? Chỗ này chỗ nào? Này lại còn xưa? Bạt vía kinh hồn cũng vì vòng tuần hoàn không đầu không cuối vô tâm vô hướng mỗi con người đang tự nguyện hấp thụ mà cứ ngỡ rằng mình đang bao hàm hết thảy:

Chân trời oán hận tràn lan
Lỗi từ phương trượng u hàn niềm hoa

Bây giờ ngó lại người ta
Gẫm rằng thiên hạ ai là đi tu
(Ai đi tu – Mùa thu trong thi ca – Bùi Giáng)

Còn miên di:

có lần gặp Chúa trong siêu thị
bên cạnh đức tin có giá tiền
(tâm hồn mã vạch – miên di)

Hoàn toàn không so sánh, tôi đang làm phép liên tưởng ngoài logic (chứ không phi) để kết nối hai thế giới thơ cách nhau non già nửa thế kỷ, hai thời đại và hai thời cuộc tách biệt hoàn toàn, bằng những đường kẻ đậm nhạt tâm thế cùng tâm tưởng. Kể cả những vết gạch xóa tự thân chúng cũng là sự kết nối ý nghĩa. Nếu miên di tra khảo tương lai:

mỗi thức dậy 
gặp mình như câu hỏi
nghe trăm năm rồi sẽ bỏ đi 
những sống sót như tôi và nhiều người khác nữa
trăm năm không biết để làm gì?
(mỗi thức dậy gặp mình như câu hỏi – miên di)

Thì Bồ tát loạn cuồng từ bi lại bỏ tù hiện tại:

Ngày sẽ hết tôi sẽ không trở lại
Tôi sẽ đi và chưa biết đi đâu
Tôi sẽ tiếc thương trần gian mãi mãi
Vì nơi đây tôi sống đủ vui sầu
(Phụng hiến – Bùi Giáng)

Nếu thi sĩ của Mưa nguồn ngơ ngẩn thâm u huyền tịch giữa đìu hiu phố thị:

Xuân về xuân lại xuân đi
Đi là đi biệt từ khi chưa về
(Bùi Giáng)

Một học giả luận hai câu trên:

“Hai câu thơ đơn giản. Ngớ ngẩn mà thâm sâu. Vớ vẩn mà thần sầu.
Thâm sâu ở chỗ: lời nói tự hủy, tự lời bôi xóa lời. Câu thơ có nghĩa là: tôi vô nghĩa.
Thần sầu ở chỗ: không mấy ai thấy cái chốn thâm sâu.
Thơ Việt Nam nhiều câu hay. Nhưng hay kiểu Bùi Giáng, xưa nay có một.”
(Trở lại với giai đoạn Mưa nguồn)

Thì đến đây, mạnh mẽ tôi có thể nói rằng: Thơ Việt Nam đã vắng nhiều câu hay. Hay và vắng như gã trai sương gió đồi cao u thâm ngẩn ngơ tịch huyền là miên di còn lại mấy?

chiều nay có phải chiều nay
chiều nay ở lại chỗ ngày em qua
nắng tàn trên đọt xanh ma
hình như héo úa đang là xuân xanh
(chiều di – miên di)

Mọi sự chắp vá đều khiên cưỡng. Mọi thứ kiến giải bất lực trước khả năng siêu nhiên của một thứ protêin mà khoa học chư từng nhận tên chỉ mặt được: cấu trúc của trí. Trên sơ đồ phức hợp khổng lồ và thiên biến vạn hóa liên tục của loài vật chất này, có những đoạn ngăn ngắn phình to ra, như cách một củ khoai thành hình. Phận sự của chúng ta là khai mở cho những mùa vụ hiếm hoi ấy chảy ra, thấm hạt giống vào mùa mới. Sự luân chuyển tưởng như biến ảo muôn trùng nhưng thực ra bất biến, con mắt tầm thường chỉ có thể hoảng sợ và từ chối bước vào vòng huyền diệu ấy. Bùi Giáng bước vào bước ra cái vòng huyền diệu ấy nhiều lần, nhiều đến nỗi có khi dợm chân bước ra lại tưởng mình đang bước vào. Cuộc đời hư hư thực thực nhưng không có cái thực nào hư và cũng không có cái hư nào thực (Từ bi không màu – TS).

Hẳn, miên di đã không trách cứ tôi vì sự so sánh sóng sánh thời gian và thi ca này. Chữ bạt vía nghĩa kinh hồn. Gã cũng đang lặng lẽ bước vào và bước ra cái vòng huyền diệu Bùi Giáng trải qua khi nào.

 

2. Thiền động

Tôi cười tôi khóc bâng quơ
Người nghengười khóc có ngờ chi không?
(Bao giờ – Bùi Giáng)

Nhà nghiên cứu Hồ Công Khanh viết: “…cái biểu đạt và cái được biểu đạt sẽ không còn nữa, cõi thi ca Bùi Giáng là sự hiện hữu của chính nó ở đây và bây giờ, mọi giọng điệu cũng được xóa nhòa, cái tôi và cái ta không còn nữa, cái riêng và cái chung cũng lên đường, mọi sự biện biệt trốn mất…” (Bùi Giáng, Những điều con chưa nói hết – Bùi Giáng trong tôi – Hồ Công Khanh). Tôi xin bổ sung một chút: Đó không chỉ là cõi thi ca mà là chín phương mười cõi đã hóa hòa trong một sắc không của bậc thiền sư Bùi Giáng. Thơ tiệt trừ đạo hạnh nết na. Thơ tiệt trừ tà tâm quỷ quái. Thơ tiệt trừ ánh sáng cùng bóng tối. Niệm như không niệm, kinh sám hối trở thành Phúc âm tin mừng. Bùi thi sĩ hốt nhiên sinh ra từ Bùi chân nhân và ngược lại. Thiền. Thơ.

Bước theo con đường của quỷ ma thánh thần họ Bùi, thời nay có thể kể đến Nguyễn Thế Hoàng Linh. Được bao nhiêu bước chưa biết, nhưng chắc chắn Linh đã lấm bụi lung linh lấp lánh ngày xưa Bùi Giáng từng bước qua. Tìm tĩnh trong yên. Lấy yên phục bình. Cái cốt ngạo mạn qua bầm dập trầy trụa hẳn sẽ tịnh, khi đến một thời khắc thích hợp.

Chính mối liên tưởng trùng trùng điệp điệp trên kia khiến tôi tin rằng miên di rẽ ở ngã ba cuối cùng – nơi Bùi thi sĩ và Bùi chân nhân hóa hòa, đi tiếp và lạc mất thế gian cũng như để cho thế gian lạc mất tuổi tên mình – gã phập phồng, lắc lư cùng cuộc đời bể dâu, còn đứng vững được là nhờ vào niềm tin của một niềm tin khác: Cân bằng động.

có khôn ngoan đựng toàn khờ khạo
có nỗi buồn giả mạo niềm vui
(giả mạo – miên di)

Đi xa hơn và sâu hơn nghệ thuật tương phản, miên di bập bênh trên cây chân lý ngã ngang bắc qua núi cao vực thẳm:

năm đã cuối tiếng thở dài
cười lên thỏa cái thiên t[h]ai của mồm
(cuối – miên di)

Dạ thưa (ngôn ngữ ngát hương của “Nhà thơ của trùng sinh thị mộng”), phân biệt và phân biện chứ không phân chiết “thiên thai” và “thiên tai” “của mồm” là thể hiện rõ ràng nhất của tâm hồn miên di trên cán cân đa chiều phía nào cũng thấp phía nào cũng cao. Rặt những ám tượng không hề cách điệu mà trở nên ám ảnh, bởi sự xé nát không ngần ngại bằng chính đường chỉ khâu vá hiện thực tồn vong: niềm tin – dối trá, tương lai – quá khứ, đẹp – xấu, trường tồn hoảng hốt – êm đềm khoảnh khắc, mụ mị giới răn đạo đức mơ hồ – rạch ròi mưu đồ soán ngôi dục vọng, trinh tiết mấy lạng vàng – lẳng lơ nắm cát,… Động, là trạng thái khốn khổ nhất mà bất kỳ con người nào cũng muốn vượt ra nếu ý thức được mình đang ở trong nó. miên di có vẻ khẳng khái một cách mềm dịu với hoàn cảnh của mình hoặc của cái mình đang lắt lẻo vịn vào:

cả khi đã nợ khóc cười
mà đâu vay mượn được đời riêng nhau

cái buồn rỗng rễnh rất xa
hay đâu như thể đang là gần đây
(giấc mơ trưa – miên di)

trăm năm ghép mãi không vần
tình yêu thì ngắn hôn nhân thì dài
(vần yêu – miên di)

ta về tận cuối lặng thinh
bằng tiếng ồn đừng nghe thấy
(tết không xuân – miên di)

Trong cõi tít tắp mù bão giông, con người ta tưởng như đã ngã xuống, trơ trọi cô độc trên vũng lầy của đời mình nhưng vẫn còn đó, cảm giác sắp ngã, tưởng chừng sẽ ngã mới diệu kỳ làm sao, bầu trời rất xa và mặt đất thật gần. Thoát ra khỏi tư thế, tâm thế ấy, là mong mỏi giải thoát cho riêng bản thân mình. Chống chọi mệt nhoài trong dáng điệu khấp khởi suy vong ấy, là khát khao giải thoát cho vũng lầy chực đón bản thân mình. Cú ngã có thể đến bất cứ lúc nào:

tôi nôn ra một bãi đời
vẫn còn lợn cợn cái thời tôi ăn

ngày ngày chảy những đám đông
có mình là một kẻ không là mình

tra tay vào nỗi cô liêu
tôi đi tù giữa buổi chiều quanh năm
(tôi nôn ra một chính mình – miên di)

Thiền chứ còn gì nữa! Thiền động. Con nhái bén không cần nhảy từ lá sen xuống mặt hồ nữa, nó nhảy vào cái “tõm” đang khoái trá và ngán ngẩm đợi chờ mình.

thử mang cả chợ bán buôn
vào tu một chốc nghe chuông cõi thiền
(thử – miên di)

 

3. Mặc khải sinh sôi

Niết Bàn là chốn đầy gió – tôi từng nghe nói vậy, vậy thì viên dung thanh tịnh chẳng cần tìm kiếm đâu xa. Chính trong biến động tao loạn tâm mình và tâm người. Không bỏ rơi tiếng nói thế hệ, miên di góp vào dàn đồng ca của cánh đồng những lúa cùng cỏ ngan ngát mưa sa rạc rời nắng hạn mùa thời gian bằng tiếng gáy da diết của con dế thi sĩ:

cha nghèo khó nụ cười con đừng già trước tuổi
những dế giun cũng đủ tuổi thơ mà
(dặn con – miên di)

Cầm lòng khởi sự vuông tròn. Ngổn ngang thế giới tai ương như bầy bầy ký tự trên trang sách đời viết bằng ảo tưởng:

tiên sư chai rượu
uống còn
lại hết
cởi quần vắt vào quá khứ
gác cẳng tương lai
nấc cụt thực tại
tại  thực
cực
(nấc cụt – miên di)

Sự thái quá của cảm xúc trong thời buổi nhạt nhòa xúc cảm này hoàn toàn có thể hiểu được. Như người ta thèm chửi thề trong một buổi hòa nhạc chán ngắt. Như người ta tự nguyện quỳ gối trước cây cột đèn ở ngã ba ngã tư mà thú tội. Như người ta thổn thức cười khản giọng vì một đám tang cờ hoa sặc sỡ. Như người ta giật mình đánh thót ngỡ mình rơi xuống vực khi tình cớ chứng kiến một chiếc là tàn tã lìa cành… miên di có đủ đầy những cái “như” đơn điệu và lắm khi đơn cực ấy. Gã cũng nổi giận:

không có công lý từ bi
nên nhân gian vẫn phải đi lễ chùa
(công lý từ bi – miên di)

Cũng hạnh họe xác thân đỏng đảnh:

trở mình kê lại trái ngang
em cười sao vẫn hở hang nỗi buồn
(xê dịch ngày – miên di)

Cũng chới với hy vọng:

đôi khi thèm rách để khâu
đôi khi không nỡ gọi đau là buồn
(đôi khi – miên di)

Cũng đỏ mặt trổ tục tĩu xác xơ ra với hẩm hiu nhân tình:

em gieo khoái lạc vào buồn
một thiên chức lạ từ nguồn cội em
(thiên chức lạ – miên di)

Cũng dậy máu đào xót con đường miên viễn:

con đường có thể thay tên
thay tên có thể làm nên con đường?
(tên&đường – miên di)

Cũng hừng hực khí khái với vận mệnh quê nhà:

Dưới vòm sữa Mẹ
Ai không thấy quê hương mình chảy máu
Vết thương sâu quay quắt góc địa cầu
Sự thật không thể nào ít hơn sự thật
Có một ngày nén lại bởi ngàn năm
(dưới vòm sữamẹ – miên di)

Cũng ngờ vực thiên nhiên hạ định:

con sông hỏi chuyện con đường
quanh co với những vết thương ổ gà
- cuối đường có biển không ta?
- biển của bọn tớ chính là bùng binh
(chuyện biển&đường – miên di)

Còn nhiều nữa. Tuyệt nhiên, có thể thấy, miên di nổi giận miên di hạnh họe xác thân miên di chới với hy vọng miên di đỏ mặt xác xơ miên di dậy máu miên di khí khái hừng hực miên di hoài nghi tất tả miên di vân vân rồi vân vân một cách rất vân vân. Vân vân bản thể chứ không vân vân bản vị. Vân vân sự tích chứ nào đâu vân vân sự vật. Mỗi tổ hợp dấu ba chấm như một hợp âm trong khúc trường ca tráng lệ diễm kiều của Bach. Đây là bức tranh buồn của thế hệ. Khi niềm tin đã quá độ, cám dỗ của sự tự vong lên đến cực điểm. Tự vong để tự tồn:

chỉ còn thấy những vỏ người qua đó
xác ve treo quanh cái chết của mùa hè
(vỏ người – miên di)

Rồi bất ngờ:

nam mô…
câu nhớ câu quên
thềm chùa vấp một hớ hênh niết bàn
(vấp xuân)

Chữ hớ hênh gắn với niết bàn, vừa vặn ý nghĩa Thiền động của miên di. Ai bảo, tu là cõi phúc tình là dây oan? Tôi vẫn nghĩ rằng, mặc khải mới thực sự duy trì sự sống thế gian này. Ở bất kể kích cỡ phương hướng vật chất bộn bề nào. Mặc khải không phải để giải thoát, chẳng mong được cứu chuộc. Mặc khải như cái liếc mắt dài hơi của mẹ sinh linh. Sinh sôi những biến động đã qua thành những biến động đang qua và đang đến. Hoặc sẽ không bao giờ đến, nhưng hoài nghi sẽ đến. Từ đó, lòng can trường chính là lời phi lộ cho bất kỳ kinh kệ nào:

khi ta nhắc nhở chính mình
có thằng ta khác đứng rình đúng sai
(ta khác – miên di)

Người ta tìm kiếm mặc khải trong hữu hình rồi vô ngôn. Tôi càng tin rằng, từ Con đường ngã ba giữa đìu hiu phố thị rong chơi năm nảo năm nào, miên di từ chối mặc khải như một ân huệ. miên di mặc khải theo nghĩa sinh sôi. Đành rằng con đường là vô tận hình hài, con người là bất tận hình dung. Sinh sôi là tiến hóa. Không lập ngôn mà xem như đã lập ý chứa vàn vạn ngôn rồi vậy.

***

Lời đề từ thi phẩm thơ miên di, gã tự thú: “sẽ phải mang về nơi đang đến, những gì để lại lúc đi qua…”. Như tấm biển treo trên cổng thơ dẫn vào một cõi giới mà tính xác thực vô độ, hư vô chảy khúc khích qua kẽ tay, thanh thiên bạch nhật đêm hôm khuya khoắt đều có trong từng chiếc lá. Tiếc là tiếc sa mạc động kinh đã thu mình vào quá vãng.

Một cõi thi ca miên di: Ngại ngần gì không xác quyết như thế. Chưa chắc, bầu trời cao xanh sóng động trong ấy có dung thứ gã thi sĩ đến tận cùng ngóc ngách câu chữ. Nhưng chắc chắn ánh sáng thiền mặc khải động đã soi rọi từng vết chân ngữ nghĩa trải qua.

Nếu có thể, tôi xinkhông viết hoa tên mình nữa:

thử dừng một nhịp luôn luôn
thử quên cho lạc con đường đã quen
(thử – miên di)

 

Núi Dinh, qua mùa Vu Lan, 2013
TS.

bài đã đăng của Trịnh Sơn


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)