Trang chính » Sáng Tác, Tiểu thuyết Email bài này

Núi Đoạn Sông Lìa – phần 22

 

NuiDoan-18

 

Dưng không núi đoạn sông lìa
Đêm ôm gối lạnh, ngày chia ngắn dài.

 

 

(tiếp theo)

Sáng nọ, chú Năm Tự thức giấc vì cảm thấy ớn lạnh khắp người. Chú mở mắt ngó quanh, mặt sông ban mai đục lờ sương khói. Thinh không sửng gió, ngái ngủ chập chờn. Thảng hoặc vang lên tiếng soạt cánh của một loài chim lớn, và tiếng dầm ghe xuồng dọ dẫm xắn nước chẻ màn sương đặc quánh. Chú Năm Tự quơ tay qua chỗ chó Su nằm. Không một chút hơi ấm. Chú lần tay tìm nhịp tim đập. Không một chút động đậy. Chú Năm hoảng hốt lắc mạnh sống lưng con vật. Xụi lơ, không một phản ứng. Người đàn ông gục mặt, áp má xuống cái xác thú lạnh lẽo hơi sương. Su ơi, Su ơi, sao mầy nỡ bỏ tao đi? Hai dòng lệ ấm trào dâng khoé mắt người đàn ông, nhỏ xuống lớp lông thú khô quánh những giọt máu vô can.

Trưa nắng lên, chú Năm Tự kiếm chỗ khô ráo, bới hố chôn xác chó Su. Xong, chú tần ngần lấy thuốc rê ra vấn. Chỉ đủ cho nửa điếu qua cơn thèm thuồng. Chú vừa chậm rãi thưởng thức vị thuốc khét nồng cổ họng, vừa ngẫm nghĩ lại chặng đời vừa qua. Rồi chú quyết tâm lấp đất vùi sâu tất cả xuống lòng huyệt đời mình. Quên hết, dội sạch, như gã kép hát vừa ca diễn một tấn tuồng bi ái hỷ nộ trên sân khấu quê nghèo với những nhân vật không thật sự hiện hữu. Họ, những bóng ma xồng xộc xấn tới rồi bất thần tan biến, không một lời từ biệt: ông bà Bông, bà Bảy và chó Su; luôn cả những thượng đế, những đấng hiển linh dửng dưng câm nín trước tội ác của loài người.

Chú Năm Tự rít sâu hơi thuốc sau cùng, dụi tàn xuống lớp đất ẩm mát rặng bần lủng lẳng trái xanh. Chú vừa thẳng lưng đứng lên thì nghe giọng ai cười khúc khích. Chú dáo dác quay mặt về hướng phát ra tiếng cười. Không phải đợi lâu, một cái đầu trọc lóc lấp ló sau thân cây, cái miệng còn chúm chím, tuồng như nhạo báng.

Chú Năm Tự chau mày bực bội:

– Làm cái gì rình rập ở đó vậy, nhỏ?

Đứa nhỏ bước ra. Da dẻ nó đen thui, mốc cời, chỉ bận mỗi cái quần cụt trệ rún, quấn quanh mấy vòng dây vải cột tòn teng trái bầu khô, có lẽ dùng đựng nước uống. Thằng nhỏ dang tay chống nạnh, mặt vênh váo:

– Mắc mớ gì phải rình. Tui đương đứng đái sau gốc bần thì thấy chú bươi đất chôn cái gì ngó như cái xác con nít.

Chú Năm Tự quắt mắt:

– Cái xác chó chết.

Thằng nhỏ ngửng đầu cười lớn:

– Mới ngó, tui tưởng xác trẻ con, sợ thiếu điều ỉa ra quần.

Mặt chú Năm dịu xuống:

– Còn mầy đi đâu, làm gì trưa trờ trưa trật ở ngoài nầy?

Thằng nhỏ phệt chân ngồi xuống, mở nút bầu hớp ngụm nước, nhíu mắt hướng ra vùng mênh mông trời nước hực nắng đúng ngọ, sửa giọng trịnh trọng:

– Tui đi tầm thầy học đạo.

Chú Năm Tự ngơ ngác, tự động ngồi xuống theo:

– Thầy nào, đạo gì vậy?

Thằng nhỏ lõ mắt ngó không chớp chú Năm Tự, giọng đầy tự tin:

– Chú hổng hay biết gì thiệt sao? Tiếng tăm đức Trình giáo chủ, ai ở xứ lục tỉnh nầy lại hổng biết. Chú chui từ hang lỗ nào ra vậy? Đức thầy còn trẻ măng hà, hổng hiểu học ở đâu mà nói được nhiều thứ tiếng, lại thêm thuộc làu kinh Phật và sách vở đông tây kim cổ. Mấy năm nay ổng lập ra cái đạo Phật Hoà Hiển riêng cho người mình, phản lại chánh sách Tây thuộc địa và mấy cái chủ nghĩa đệ tam, đệ tứ gì đó. Ông đi rao giảng khắp nơi. Người ta đi theo rần rần. Tui nôn bụng, bữa nay quyết tâm bỏ nhà tới xin ổng nạp làm đệ tử.

– Ở đâu, xa không?

– Ôi, chánh thầy chánh đạo thì sá gì sông nước xa xôi. Còn chú, đi đâu làm gì với cái xác chó chết vậy?

Chú Năm Tự thuật lại ngắn gọn cho thằng nhỏ nghe sự tình. Nghe xong, nó giơ tay về hướng phải, đề nghị:

– Chú cho tui quá giang theo tới ngả ba sông, đoạn tui lên bờ đi tiếp, còn chú cứ việc chèo theo hướng mặt trời mọc, hỏi thăm bà con đường tới Ngàm Long là cái làng đất thuần. Người ta về đó cất nhà, làm ruộng đông lắm. Ở đó chú dễ bề sanh sống hơn cái xứ ngược ngạo phong thuỷ nầy.

Chú Năm nửa tin nửa ngờ, dù vậy vẫn làm theo lời thằng con trai có điệu bộ và lối nói chuyện dị thường.

Suốt hành trình sông nước, nó huyên thiên kể cho chú Năm Tự nghe không những về tài ba, đức độ của đức Trình giáo chủ mà còn về chướng tính phong thổ miệt nầy. Có một chuyện chú Năm mới nghe lần đầu. Hằng năm, tới độ trăng rằm đầu mùa mưa, từ biển lớn có ngọn sóng ngất ngưởng tràn vô chín cửa sông đại. Nó cao lắm, như núi; vững chãi như tường thành đồn Tây. Thiên hạ cho đó là lúc ông rồng nước ẩn thân ngoài đại dương tìm vô sông lạch, tránh phong ba. Ổng đem theo không biết bao nhiêu cá tôm làm lương thực. Dân chài lưới biết ý, tới độ nầy không ai dám đi biển. Họ gọi đó là ngày ông về.

Chú Năm Tự bán tín bán nghi:

– Mầy nói thiệt hay giả ngộ vậy nhỏ?

Đứa con trai trợn mắt:

– Thiệt mà! Năm nào tui lại hổng thấy ổng về.

Rồi nó huơ tay áng chừng:

– Nói có quỉ thần làm chứng. Cây nước cao bắt ớn, dám tới ngọn dừa lắm à! Có điều ổng không làm hư hại gì, vì ngọn sóng chỉ cao chính giữa, dẹt ra hai bên. Từ đằng xa đã nghe tiếng nước cuốn ì ì, càng tới gần càng lớn. Con nít rắn mắt như tui, sợ nhưng dễ ngươi, trèo lên ngọn dừa coi cho mãn nhãn. Hổng biết tui có bị ổng quở làm mà mắt không nữa, vì tui thấy rõ ràng sống lưng thuỷ quái xanh dờn, lóng lánh vẩy bạc. Ổng phun nước phì phì, trườn mình một mạch ngang qua. Mặt đất cũng rúng động như có ai đương chui lòn dưới đó. Nhà nào nhà nấy cũng đốt nhang cúng bái thỉnh ông về. Coi như một cách tạ ơn, vì sau đó sông lạch ê hề tôm cá, ruộng vườn mỡ màng phù sa. Ai cũng no bụng hết trọi!

Chú Năm Tự làm thinh, nghĩ bụng thằng nhỏ nầy chỉ nói chuyện tầm ruồng. Từ đời thuở nào, chú chưa hề nghe ai nói tới hiện tượng đó. Nhưng biết đâu chừng, nó có thật. Ở cái xứ sông sâu núi thấp, hoang vu u mịch nầy, làm sao con người rành rẽ được hết bí ẩn của thiên nhiên cùng lý lẽ của trời đất?

Lúc thằng nhỏ từ giã chú Năm Tự, leo lên bờ, quay lưng bước đi không ngoảnh mặt, sắc ngày đã đổi màu đỏ chạch. Bóng nhá nhem tàn cây hoàng hôn há miệng nuốt trửng thằng con trai, thoáng chốc mất dạng. Một đợt gió mỏng xước ngang, chú Năm rùng mình, tưởng như hồn phách âm phủ nào vừa tan theo ánh chiều xây xẩm mây trời. Ngước lên, chú thấy từng bầy chim hoàng hôn soãi cánh lướt ngang, lâu lâu nhả xuống chuỗi thanh âm đục khàn. Sông nước chầm chậm dâng cao, lấp loáng mái trời vằn vện tím đỏ như vỡ mạch tuôn máu. Chú Năm Tự xẩn lẩn như vừa chia tay một người bạn đồng hành tâm đắc. Bắt đầu từ đây chú tự tóm vén, xoay xở đời mình. Chú thở hắt, quơ tay vô tình chạm phải vật gì sau lưng: bầu nước của thằng nhỏ bỏ quên. Chú cầm lên, thấy nặng. Mở nút, chú sững sờ thấy còn đầy ắp. Cái gì kỳ vậy, đầu óc chú quay mòng tự hỏi. Suốt quãng sông quá giang, chú cứ thấy thằng nhỏ uống nước liền liền mà! Chú tần ngần kê miệng nhấp ngụm nhỏ. Nước trôi tới đâu, tì vị mát rượi tới đó. Chú chợt hiểu ra, ngẩng mặt, chắp tay xá bốn phương tám hướng, cảm tạ đấng linh hiển đã song hành cùng chú một chặng dương thế.

Chú Năm Tự hăng hái chèo miết, tới khi mặt trời khuất bóng mới tắp vô ụ nước tìm chỗ nghỉ lưng. Hừng sáng, chú hớp ba ngụm nước lấy sức, bươn bả khoa dầm về phía mặt trời mọc. Xế trưa, ghe chú trườn vô quãng sông hẹp, nước nâu quánh phù sa. Chú cắm sào, lên bờ hỏi thăm thì biết đây là xứ Ngàm Long. Dọ hỏi một lát, có người biểu chú thử tới chỗ kia xin việc, nghe đâu họ đang cần người giúp chuyện đồng áng. Chú Năm Tự phấn khởi, chèo theo lời dặn, tìm thấy ngôi nhà ngói đỏ với vườn cây xoã bóng êm ả, có vài gốc vú sữa, vài cây cam còn xanh trái, cây mận trúng mùa kết chùm đỏ mọng …

(còn tiếp)

bài đã đăng của Ngô Nguyên Dũng


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)