Trang chính » Biên Khảo, Học Thuật, Văn hóa Email bài này

THÚY KIỀU CHƠI LOẠI ĐÀN GÌ?

 

  
Truyện Kiều (chữ Nôm: 傳翹) hay Đoạn Trường Tân Thanh là một truyện thơ nổi tiếng của đại thi hào Nguyễn Du. Truyện này gồm có 3.254 câu thơ viết bằng chữ Nôm theo thể lục bát, nội dung dựa trên tác phẩm Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, Trung Quốc. Trong Truyện Kiều, nhân vật chính Thúy Kiều sử dụng loại đàn 4 dây nhưng hiện nay các họa sĩ vẽ tranh Thúy Kiều cho thấy Kiều sử dụng nhiều loại nhạc cụ khác nhau, trong đó có những loại 2 dây như đàn Nguyệt, thậm chí có loại lên tới 16 dây như đàn Thập Lục (!) Nhìn chung, phần lớn các họa sĩ vẽ Thúy Kiều chơi đàn tì bà, một loại nhạc cụ 4 dây, có thân đàn hình quả lê với cần thẳng, đầu đàn hơi ngả về phía sau:

image_thumb2

nhưng một số lại cho thấy loại đàn đó có cần thẳng với đầu đàn cong vểnh ra phía sau:

image_thumb[11]

Có lẽ những họa sĩ ấy đã dựa vào chữ Hồ cầm trong câu Nghề riêng ăn đứt Hồ cầm một trương (câu 32 trong Truyện Kiều) để vẽ tranh, thông qua một số từ điển và tài liệu giải thích: “Hồ cầm là một loại đàn tì bà”. Trên thực tế, đây là cách giải thích sai. Trước khi lý giải vì sao sai, chúng tôi mời các bạn xem qua những câu có chữ Hồ cầm, trích từ 4 bản truyện Kiều bằng chữ Nôm khác nhau:

 

image

Trong bốn câu trên, những chữ Hồ 胡 đều giống nhau. Đây là cách mượn nguyên xi chữ hồ 胡 trong chữ Hán để tạo ra chữ Nôm. Tương tự như vậy, chữ cầm 琴 trong câu 3 và 4 cũng lấy nguyên xi từ chữ cầm 琴 trong tiếng Hán. Chữ cầm 琴 ở đây có nghĩa là một loại đàn, kết hợp với chữ hồ 胡 để tạo ra khái niệm Hồ cầm (đàn hồ). Hồ cầm trong truyện Kiều có thể là:

+ Đàn Hồ, một loại đàn dây cung kéo có nguồn gốc từ người Hồ (5) du nhập vào Trung Quốc rồi từ Trung Quốc “lan tỏa” đến Việt Nam. Trong quá trình phát triển tại nước ta, nhạc cụ này có ba biến thể: Hồ, Hồ trung và Hồ đại. Chúng thường có trong biên chế của dàn nhạc dân tộc cổ truyền. Cái tên Hồ cầm đôi khi còn được dùng cho đàn nhị, một loại đàn dây cung kéo khác phổ biến trong cộng đồng người Kinh. Nhiều tộc người thiểu số ở Việt Nam cũng sử dụng các biến thể của loại đàn này với tên gọi khác. Đàn nhị còn được gọi là líu, nhị líu; trong miền nam người ta gọi nó là Đờn cò, người Mường gọi là Cò ke. Cấu trúc và vật liệu làm loại đàn này có khác biệt đôi chút tùy theo tộc người sử dụng (6).

+ Hồ cầm cũng có thể là thuật ngữ nói về Hồ cầm của Trung Quốc. Trong phân loại nhạc cụ của Trung Quốc, Hồ cầm (胡琴, huqin) là từ dùng để gọi chung cho họ đàn dây cung kéo của Trung Quốc chứ không chỉ riêng một nhạc cụ nào đó. Hồ cầm bao gồm những nhạc cụ có cần đàn thẳng nối với thân đàn hình tròn, lục giác hay bát giác. Thí dụ như Bản hồ (板胡), Cách hồ (革胡), Cao hồ (高胡), Da hồ (椰胡, Đê hồ (低胡), Nhị hồ (二胡), Trung hồ (中胡), Trụy hồ (墜胡)… Nhìn chung, các loại Hồ cầm thường có 2 dây, ngoại trừ đàn Tứ hồ (四胡) có 4 dây chỉnh thành 2 cặp.

 

image

Đàn nhị (hồ cầm)

image

Bản hồ

image

Tứ hồ

Tóm lại, dẫu Hồ cầm là tên gọi của đàn Hồ, đàn nhị hay là thuật ngữ gọi chung cho họ đàn dây cung kéo của Trung Quốc thì chắc chắn rằng hồ cầm không thể là đàn tì bà.

– Trong bài “Âm nhạc trong Truyện Kiều” (7), GS TS Trần Văn Khê khẳng định: “Thúy Kiều không đàn cây Tì bà như phần đông các họa sĩ đã vẽ.” Chúng tôi đồng ý nhận định này. Tuy nhiên khi đọc tiếp chúng tôi thấy có những điểm cần trao đổi. Giáo sư viết: “Cây đàn trong tay Thuý Kiều vừa có thùng đàn tròn như mặt trăng: “Trên hiên treo sẵn cầm trăng”; Cây đàn ấy lại có bốn dây “Bốn dây to nhỏ nên vần cung thương”. Cây đàn đó phải là một loại với Hồ cầm “Nghề riêng ăn đứt, Hồ cầm một chương”. Điều này có chính xác không?

Hiện nay nhiều người công nhận “một cách truyền thống” rằng câu Nghề riêng ăn đứt Hồ cầm một trương (trương chứ không phải chương) nhằm nói tới tài chơi Hồ cầm điêu luyện của Thúy Kiều. Có thể họ đã dựa vào Kim Vân Kiều truyện, bởi vì trong tác phẩm này Thanh Tâm Tài Nhân cho biết Thúy Kiều chơi Hồ cầm rất giỏi và cho thấy rằng Kiều đã nhiều lần sử dụng Hồ cầm (đàn cho Kim Trọng, Hoạn Thư, Thúc Sinh và Hồ Tôn Hiến nghe…), nhưng trong Truyện Kiều, thi hào Nguyễn Du lại cho Thúy Kiều chơi một loại đàn khác chứ không phải là Hồ cầm, thể hiện qua chữ “cầm nguyệt, cầm trăng”. Điều này chúng tôi sẽ phân tích ở phần sau.

Như chúng ta biết, trong toàn bộ truyện Kiều, chữ Hồ cầm chỉ xuất hiện một lần duy nhất, còn Thúy Kiều thì gảy đàn chứ không sử dụng cung kéo ( “Cuộc vui gảy khúc đoạn trường ấy chi?”– câu 1860), do đó khó có thể cho rằng Thúy Kiều sử dụng Hồ cầm hoặc cây đàn cùng loại với Hồ cầm. Tuy truyện Kiều có những cụm từ và mệnh đề như ép cung đàn, ép cung cầm nguyệt, cung cầm trong nguyệt, một cung gió thảm mưa sầu…song theo chúng tôi, những chữ cung ở đây dùng để chỉ cung trong âm nhạc chứ không phải là cung kéo của nhạc cụ để có thể liên tưởng tới Hồ cầm.

Vậy tại sao thi hào Nguyễn Du viết: “Nghề riêng ăn đứt Hồ cầm một trương”? Trước hết, chúng ta phân tích: chữ một ( , 没…) có nghĩa là một (số đếm); còn trương 張 có nghĩa là cây trong văn cảnh của câu. Hồ cầm một trương là cấu trúc đảo từ cho phù hợp với vần của câu và bắt cầu cho trương hợp với chương trong câu kế tiếp: Khúc nhà tay lựa nên chương. Theo chúng tôi, Hồ cầm một trương có nghĩa là một cây Hồ cầm. Có người phân tích rằng “Tài riêng (của Thúy Kiều) ăn đứt (người khác) ở khả năng chơi một cây Hồ cầm”. Nếu phân tích như thế thì rõ ràng công nhận Thúy Kiều sử dụng Hồ cầm rất giỏi (lại một “cách nghĩ truyền thống”). Tại sao chúng ta không thể nghĩ rằng một cây Hồ cầm biểu thị cho người chơi Hồ cầm? Nếu như thế thì Nghề riêng ăn đứt Hồ cầm một trương có nghĩa là tài đánh đàn của Thúy Kiều “ăn đứt” người chơi Hồ cầm, một thủ pháp so sánh chung chung, không cần thiết phải nói rõ đối tượng, người đọc chỉ cần biết là Thúy Kiều chơi đàn rất giỏi. Về sau thi hào Nguyễn Du mới cho biết Thúy Kiều sử dụng loại đàn như thế nào.

– GS Trần Văn Khê viết: “Sau khi xem trong sách Thích danh và Tự điển Từ Nguyên – Từ Hải thì chỉ có ba cây đàn thuộc về Tì Bà loại: tứ huyền Tì bà, ngũ huyền Tì bà và Nguyễn Tì bà. Ba cây đàn ấy đều có thể được gọi là Hồ cấm. Nhưng hai cây đầu thì thùng đàn hình bầu dục chỉ có cây Nguyễn Tì bà tên thật là Nguyễn cầm do Nguyễn Hàm đời Tấn chế ra. Đàn có thùng hình tròn như mặt trăng, có bốn dây, cần dài hơn Nguyệt cầm của Trung Quốc, hiện đã thất truyền tại Trung Quốc, chỉ còn hình vẽ của Nguyễn cầm trong động Đôn Hoàng và một cây đàn nguyên bản trong Bảo tàng viện Shosoin tại Nara, Nhựt Bổn”.

Một lần nữa, chúng tôi lại nghĩ khác. Trước tiên xin nói về đàn tì bà. Chúng tôi không biết ba cây tứ huyền Tì bà, ngũ huyền Tì bà và Nguyễn Tì bà mà GS Trần Văn Khê giới thiệu là những loại tì bà đã xuất hiện ở Việt Nam hay ở Trung Quốc. Nếu ở Trung Quốc thì không chỉ có 3 loại đàn tì bà này, chúng tôi xin bổ sung vài loại tì bà khác.

Từ triều đại Tần – Hán cho đến Tùy – Đường, tất cả nhạc cụ gảy dây ở Trung Quốc đều được gọi là Tì bà (琵琶, pipa). Theo quyển Thích Danh (釋名), trong những văn bản cổ xưa nhất, cái từ “tì bà” dù được viết khác nhau (tì bà 枇杷 hay phê bà 批把) song chúng vẫn có nguồn gốc từ người Hồ 胡. Trong quyển Những ghi chép về đàn tì bà, học giả Đoạn An Tiết (段安節) viết rằng theo một tài liệu cuối thế kỷ thứ 3 (thời nhà Tấn), thuật ngữ “tì bà” đã xuất hiện trong triều đại nhà Tần (221–206 TCN). Đến triều đại nhà Tống (宋朝, 960-1279) thì những nhạc cụ gảy dây khác đã có tên riêng, thuật ngữ “tì bà” chỉ còn được sử dụng độc quyền cho nhạc cụ hình quả lê.

Về tì bà hình quả lê, theo Mễ An Tiết (米华健), Giáo sư sử học của Đại học Georgetown, có ba loại tì bà mà những nhà nghiên cứu cho rằng chúng có khả năng du nhập từ Trung Đông, vương quốc cổ Gandhāra (tiếng Phạn: गन्धार) hay Ấn Độ vào miền bắc Trung Quốc trong thế kỷ thứ 4. Loại thứ nhất gọi là Hồ tì bà (胡琵琶, Hu pipa); thứ hai là Quy từ tì bà (龜茲琵琶, Kuche pipa), có cần đàn cong với 4 chốt chỉnh dây và 4 dây đàn; còn loại thứ ba là Ngũ huyền tì bà (五弦琵琶, wuxian pipa), có cần đàn thẳng, 5 chốt chỉnh và 5 dây. Trong quyển Phong tục thông nghĩa (風俗通義) vào cuối triều Đông Hán, nhà sử học Ứng Thiệu (應劭) cho biết vào thời nhà Hán có loại đàn gọi là Hán tì bà (漢琵琶, Han pipa). Nhạc cụ này có 4 dây đàn tượng trưng cho 4 mùa, còn chiều dài của đàn tượng trưng cho Thiên – Địa – Nhân và Ngũ hành. (Phải chăng đây là loại Tứ huyền tì bà mà Giáo sư Trần Văn Khê đã nhắc tới?). Bên cạnh loại tì bà thông thường còn có một loại khác gọi là Nam âm tì bà (南音琵琶, nanyin pipa – viết gọn là nanpa) hay Nam quản tì bà (南管琵琶, Nanguan pipa), gọi dân dã là “tì bà miền nam” hoặc “tì bà nằm ngang”. Nhạc cụ này có nguồn gốc ở khu vực trung tâm Trung Quốc, về sau được đưa tới tỉnh Phúc Kiến rồi được dùng chủ yếu ở tỉnh này. Nam âm thân đàn khá giống loại tì bà thông thường, những khác biệt chính nằm ở chỗ phím đàn, trục đàn và mặt thân đàn sơn màu đen. Và cuối cùng là Tần tì bà xuất hiện trong triều đại nhà Tần – đây là tên gọi cũ của đàn Nguyễn cầm mà GS Trần Văn Khê đã nhắc tới, chúng tôi sẽ bàn sau.

Riêng về tứ huyền Tì bà, ngũ huyền Tì bà Nguyễn Tì bà thì không thể cho rằng đó là những loại Hồ cầm. Chúng tôi xin nhắc lại, Hồ cầm là từ gọi chung cho họ đàn dây cung kéo của Trung Quốc, mặt khác, nếu gọi đàn Hồ, đàn NhịHồ cầm thì tất cả cũng không liên quan gì tới tì bà – những loại đàn gảy dây chứ không sử dụng cung kéo.

– GS Trần Văn Khê khẳng định: “Nguyễn cầm do Nguyễn Hàm đời Tấn chế ra”. Chúng tôi không đồng thuận với nhận định này. Nguyễn cầm 阮琴 (đàn Nguyễn) là loại đàn gảy dây của Trung Quốc, xuất hiện trên 2000 năm qua. Trong triều đại nhà Tần, loại đàn này có tên là Tần tì bà (秦琵琶). Theo nhà soạn nhạc Trầm Tinh Dương (沈星扬) (8), trong triều đại Đông Tấn (東晉, 317- 420), đạo sĩ Nguyễn Hàm (阮咸) trong nhóm Trúc Lâm Thất Hiền nổi tiếng với tài chơi điêu luyện một loại đàn giống như Tần tì bà. Vì thế, trong giai đoạn Nữ hoàng Võ Tắc Thiên cai trị (690-705), người ta mới đặt tên khác cho Tần tì bà Nguyễn Hàm (阮咸, ruanxian), đến khi nhà Đường thiết lập trở lại thì tên loại đàn này được rút gọn là Nguyễn (阮, ruan). Kết luận, Nguyễn Hàm không phải là người chế tạo ra Nguyễn cầm, nhạc cụ này chính là Tần tì bà được gọi bằng cái tên mới là Nguyễn Hàm hay Nguyễn cầm (đàn Nguyễn).

– Đàn Nguyễn có 4 dây, thân đàn tròn với cần đàn thẳng. Chúng có 5 kích cỡ với cách chỉnh dây khác nhau:

+ Cao âm nguyễn (高音阮, gaoyinruan), giọng soprano, chỉnh dây: Sol3 – Rê4 – Sol4 – Rê5.

+ Tiểu nguyễn (小阮, xiaoruan), giọng alto, chỉnh dây: Rê3 – La3 – Rê4 – La4.

+ Trung nguyễn (中阮, zhongruan), giọng tenor, chỉnh dây: Sol2 – Rê3 – Sol3– Rê4.

+ Đại nguyễn (大阮, daruan), giọng bass, chỉnh dây: Rê2 – La2 – Rê3 – La3.

+ Đê âm nguyễn (低音阮, diyinruan), giọng contrabass, chỉnh dây: Sol1 – Rê2 – Sol2 – Rê3.

image

Đàn Nguyễn

Theo chúng tôi, đàn Nguyễn không thất truyền tại Trung Quốc, hiện nay chúng vẫn được sử dụng phổ biến trong Hí khúc戏曲/戲曲 – các loại hình sâu khấu truyền thống của Trung Quốc có nguồn gốc từ thời cổ đại, tập trung ở ba thể loại chính: ca múa dân gian, kể chuyện bằng lời kết hợp với ca hát và kịch hoạt kê. Đàn Nguyễn còn được sử dụng trong dàn nhạc lớn hiện đại của Trung Quốc (the modern Chinese Orchestra) với hai kích cỡ là Trung Nguyễn và Đại Nguyễn.

– Giáo sư Trần Văn Khê cho rằng Nguyệt cầm (Yue Qin) “thùng đàn tròn mà cần đàn rất ngắn thường ở trong tay người bán hàng rong chứ người quí tộc không sử dụng Yue Qin. Sự thật có phải vậy không? Theo trang mạng Văn hóa Trung Quốc Wikipedia (9), Nguyệt cầm là nhạc cụ quan trọng trong Kinh kịch (京劇) Bắc Kinh (Beijing opera), thường giữ vai trò chơi giai điệu chính thay cho nhóm đàn dây cung kéo. Ngưởi ta không chỉ sử dụng Nguyệt cầm trong Kinh kịch và nhạc dân gian, mà còn còn sử dụng trong nhạc khiêu vũ và nhạc hát nói (rap), đặc biệt là dùng để độc tấu. Như vậy, Nguyệt cầm không chỉ do người bán hàng rong sử dụng!

– Giáo sư Trần văn Khê viết: “…đàn Nguyệt cầm ngày nay gọi là đàn Nguyệt dưới thời cụ Nguyễn Du không được gọi là Nguyệt cầm mà mang tên đàn Song Vận. Điều này phỏng theo tư liệu đã in trong quyển “Đại Thanh hội điển sự lệ”, sử gia Trung Quốc có chép lại tên các cây đàn của dàn nhạc An Nam quốc nhạc, là một trong chín dàn nhạc của nước ngoài có mặt tại triều nhà Thanh tức là một thời đại với Nguyễn Du. Vậy cây đàn Thúy Kiều sử dụng phải là Nguyễn cầm.

Thật sự đàn Song Vận có phải là tên gọi cũ của đàn Nguyệt không? Một số trang mạng viết về Nhã nhạc cung đình Huế có đề cập đến Song Vận với chú thích là đàn Nguyệt. Theo chúng tôi, họ đã dựa vào “nguồn tin” mà GS Trần Văn Khê cung cấp. Chúng ta cũng cần lưu ý rằng, cái tên Song Vận do sử gia Trung Quốc gọi một loại đàn trong dàn nhạc An Nam quốc nhạc, chứ không phải là cái tên mà người Việt gọi cho một loại nhạc cụ của Việt Nam. Bằng chứng là chúng ta không thấy có những tài liệu, sách báo viết về nguồn gốc của loại đàn này. Có chăng chỉ là những bài dựa theo ý kiến của GS Trần Văn Khê với chú thích Song Vận (đàn Nguyệt), Song Vận (Nguyệt cầm), còn nguồn gốc thì…bóng chim tăm cá! Ngay cả GS Trần Văn Khê còn cho biết “Điều này phỏng theo tư liệu đã in trong quyển “Đại Thanh hội điển sự lệ”. Như vậy thì chưa chắc chắn trong thời đại Nguyễn Du, đàn Nguyệt được gọi là Song vận. Giả sử có như thế thì chúng tôi vẫn cho rằng cây đàn Thúy Kiều sử dụng chính là Nguyệt cầm. Tại sao? Chúng ta xét câu 467 trong truyện Kiều qua bốn bản chữ Nôm đã dẫn:

image

Trong bốn câu trên những chữ cầm 琴 đều giống nhau, còn những chữ trăng cũng vậy. Chúng ta xét tiếp câu 640:

image

Chữ cầm 琴 trong cầm trăng và chữ nguyệt 月 trong cầm nguyệt là hai chữ được mượn nguyên xi từ chữ Hán. Tuy Cầm trăngcầm nguyệt có cách viết khác nhau nhưng đều cùng một nghĩa, dùng để chỉ nguyệt cầm. Sở dĩ có cách viết khác là do luật gieo vần bằng trắc của thể lục bát buộc phải thay đổi chữ cho hợp vần của câu. Bây giờ chúng ta xét số lượng dây của cây đàn Thúy Kiều sử dụng. Thí dụ đoạn Thúy Kiều đánh đàn cho Kim Trọng thưởng thức (câu 471 – 472):

So dần dây vũ dây văn,
Bốn dây to nhỏ theo vần cung thương

Hay đoạn Hoạn Thư buộc Thúy Kiều đánh đàn, phục vụ tiệc cho bà và Thúc Sinh. Lúc ấy tâm trạng của Kiều vô cùng đau đớn (câu 1853 – 1854):

Bốn dây như khóc như than
Khiến người trong tiệc cũng tan nát lòng

Hoặc đoạn Hồ Tôn Hiến buộc Thúy Kiều đánh đàn sau khi Từ Hải vừa mới qua đời, chưa kịp chôn cất. Kiều buồn đến nỗi (câu 2569 – 2570):

Một cung gió thảm mưa sầu,
Bốn dây nhỏ máu năm đầu ngón tay !

Vậy đã quá rõ ràng: Thúy Kiều sử dụng loại đàn 4 dây, điều này phù hợp với cây Nguyệt cầm (月琴) 4 dây. Bây giờ chúng ta thử xem đàn Nguyệt và Nguyệt cầm có gì liên quan với nhau? Trước hết, chúng ta phân tích giọng của hai loại đàn này.

Nguyệt cầm: có 4 dây chia thành 2 cặp, thường được chỉnh giọng cách nhau một quãng năm đúng (mỗi cặp có giọng giống nhau: Rê­­­­­­1 và La1); loại dùng trong Kinh kịch có thể chỉnh Đô# – Sol#; còn loại sử
dụng trong nhạc dân gian Trung Quốc có thể chỉnh giọng theo quãng bốn đúng: Đô Fa Đô Fa.

Đàn nguyệt: có 2 dây, thường được chỉnh giọng theo quãng năm đúng: Fa – Đô1 hay Sol – Rê1; hoặc quãng 4 đúng: Sol – Đô1 hay Rê1 – Sol1.

Về cách chỉnh dây, tuy cao độ có khác nhau nhưng ở cả hai loại đàn này đều có điểm chung là chỉnh ở quãng năm đúng hoặc quãng bốn đúng. Sau khi Nguyệt cầm du nhập vào Việt Nam, cha ông ta đã bỏ bớt 2 dây, cải tiến cần đàn dài hơn để mở rộng âm vực, tạo thành loại đàn Nguyệt đặc trưng của Việt Nam. Từ những yếu tố này, có thể khẳng định rằng Thúy Kiều đã sử dụng Nguyệt cầm. Xin nhắc lại, thi hào Nguyễn Du (1766 –1820) sinh vào nửa cuối thế kỷ 18, rất có khả năng ông đã gọi Nguyệt cầm là cầm trăng, cầm nguyệt theo cú pháp chữ Nôm trước khi loại đàn này được cải tiến để thành đàn Nguyệt (còn gọi là đàn kìm hay Quân tử cầm).

Theo chúng tôi Nguyễn cầm không phải là loại đàn Thúy Kiều sử dụng, bởi lẽ: trong toàn bộ nội dung truyện Kiều không hề có chữ Nguyễn, còn chữ Hàm xuất hiện bốn lần trong hàm sư tử (câu 1350), hàm én (câu 2167, 2274), hàm rồng (2672). Chúng tôi đã tra cứu 4 bản chữ Nôm đã nêu trong bài, nhận thấy chữ hàm được viết là , 呤, 唅, 頷 – chẳng liên quan gì tới hàm 咸 (chữ Hán) trong Nguyễn Hàm 阮咸 cả. Vậy làm sao có cơ sở để liên tưởng cây đàn Thúy Kiều sử dụng là Nguyễn cầm (hay Nguyễn Hàm)? Nói cách khác, nếu chỉ dựa vào đàn Nguyễn có 4 dây với thùng đàn tròn rồi khẳng định rằng đó là loại đàn Thúy Kiều sử dụng e rằng chưa thật sự thuyết phục!

image

Nguyệt cầm Trung Quốc

image

Đàn Nguyệt Việt Nam

Tóm lại, theo thiển ý của chúng tôi, Thúy Kiều sử dụng Nguyệt cầm chứ không phải Hồ cầm, tì bà hay Nguyễn cầm. Nếu các vị tiền bối thấy bài này có điều gì chưa đúng, xin vui lòng chỉ giáo. Ngoài ra, xin GS Trần Văn Khê lượng thứ nếu người viết có chỗ thiếu tế nhị trong cách dùng từ. Tất cả những gì chúng tôi thể hiện ở đây đều dựa trên tinh thần học thuật, mong tìm được sự chính xác trong cách hiểu về truyện Kiều, dẫu ở chi tiết nhỏ: Thúy Kiều chơi loại đàn gì!

Vương Trung Hiếu

——————————
Tham Khảo:

(1): Truyện Kiều bản 1870 (bản Kinh đời Tự Ðức). Nguyễn Quảng Tuân—Phiên âm – khảo dị. Nhà xuất bản Văn học & Trung tâm Nghiên cứu Quốc học (2003).

(2) Truyện Kiều bản 1871 (bản Liễu Văn Ðường). Nguyễn Quảng Tuân—Phiên âm – khảo dị. Nhà xuất bản Văn học & Trung tâm Nghiên cứu Quốc học (2002).

(3) Truyện Kiều bản 1872 (Tư liệu Truyện Kiều: Bản Duy Minh Thị). Nguyễn Tài Cẩn (Moskva). Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội (2002).

(4) Truyện Kiều bản 1902 (bản Kiều Oánh Mậu). Sưu tầm, khảo chú & chế bản Nôm: Nguyễn Thế & Phan Anh Dũng. Hiệu đính chữ Nôm: Nhà giáo Ưu tú Nguyễn Đình Thảng. Nhà xuất bản Thuận Hoá — Huế 2004.

Tất cả 4 bản trên chúng tôi trích từ tư liệu của Hội Bảo Tồn Di Sản Chữ Nôm (VNPF).

(5) Theo lịch sử Trung Quốc, người Hồ (胡人) dùng để chỉ các sắc dân ngoại lai tại Trung Á và Tây Á hoặc các dị tộc ở phương bắc và các dân tộc Tây Vực. Người Hồ gồm có Đảng Hạng 黨項; Đê 氐; Đinh Linh 丁零 (Cao Xa 高車, Sơ Lặc 疏勒); Đông Hồ 東胡; Đột Quyết 突厥; Hồi Hột 回紇/Hồi Cốt 回鶻; Hung Nô 匈奴; Khiết Đan 契丹; Khố Mạc Hề 庫莫奚/Hề tộc 奚族; Khương 羌; Khuyển Nhung 犬戎; Mạt Hạt 靺鞨; Mông Cổ 蒙古; Nguyệt Chi 月氏; Nhu Nhiên 柔然/Nhuyễn Nhuyễn 蠕蠕/Như Như 茹茹; Nữ Chân 女真; Ô Hoàn 烏桓; Sơn Nhung 山戎; Thất Vi 室韋; Thổ Phồn 吐蕃; Tiên Ti 鮮卑; Yết 羯.

(6) http://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%C3%A0n_nh%E1%BB%8B

(7) http://home.vicnet.net.au/~aaf/tvk1.htm

(8) (沈星扬): Shen, Sin-Yan (1991). Chinese Music and Orchestration: A Primer on Principles and Pracrice, p. 108. Chinese Music Society of North America, Woodridge. October 19, 2009.

(9) http://arts.cultural-china.com/en/94Arts3057.htmlhttp://en.wikipedia.org/wiki/Ruan

bài đã đăng của Vương Trung Hiếu


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006*2018 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)