Trang chính » Biên Khảo, Phê Bình, Tùy Luận Email bài này

Federico Garcia Lorca: Ngữ Lực và Tác Phẩm (Phần 2)

0 bình luận ♦ 17.04.2013

 

 

2. NGỮ LỰC TRONG THƠ LORCA.

Ngữ lực không phải là khả năng đặc thù nhưng là khả năng đặc biệt của thi sĩ. Một người làm thơ chưa đạt được trình độ ngữ lực của cá tính và tư chất, thì chưa có thể làm thi sĩ.

Ngữ lực gồm có hai khả năng: Một là khả năng diễn đạt của sáng tác. Hai là khả năng đả thông thưởng ngoạn. Và tài năng để đánh giá hai khả năng này chính là sáng tạo.

Nói nôm na, ngữ lực là sức mạnh của ngôn ngữ mà thi sĩ dùng để trình bày những sâu kín trong tâm tư và truyền qua cảm nhận của người đọc. Trong ngữ lực có ngữ thuật và diễn lực.

Khi làm thơ, Lorca sử dụng ngôn ngữ khá bình thường, không cầu kỳ cũng không trau chuốt quá mỹ từ pháp. Nhưng diễn lực của ông là chữ nghĩa cưu mang những suy tư thâm trầm, những cảm nhận nhạy bén và ngữ thuật của ông mang đặc tính của thơ Tây ban Nha và thơ Tượng Trưng cũng như thơ Siêu Thực, đã trình bày một phần bên trên.

· Vượt ra ngoài những kỹ thuật định danh đó, thơ Lorca thường thấy những kỹ thuật thường dụng như Đối Tứ.

Hai hình ảnh hoặc hai cảnh tượng tương phản hoặc liên kết hoặc tiếp diễn để diễn đạt "ý tại ngôn ngoại", những ý không nằm trong chữ. Có khi là một chuỗi hình ảnh hoặc tứ cảnh để thao diễn những đối tượng trừu tượng.

 

Giữa đàn bướm đen
thấy nàng da đen
bên dãy sương mù
hình con rắn trắng (10)

 
 

Ciprés
(Agua estancada.)
Chopo
(Agua cristalina.)
Mimbre
(Agua profunda.)
Corazón
(Agua de pupila.)

Among black butterflies
goes a dark girl
beside a white serpent
of mist.

( Bản dịch: Cola Franzen, The Passage of the Siguiriya.)

Tùng Bách
(Nước đọng.)
Bạch Dương
(Nước trong.)
Dương Liễu
(Nước sâu.)
Trái tim
(Bong bóng nước.)

 

(Remanso)

 

Cada canción
es un remanso

del amor.

Cada lucero
es un remanso
del tiempo.

Un nudo
del tiempo.

Y cada suspiro
un remanso
del grito

 

(Sigue)

(Remanso)

 

Mỗi bài hát
là mỗi vũng đọng

tình yêu.

Mỗi ngôi sao
là mỗi vũng đọng
thời gian.

Mỗi thời gian
thắt nút.

Mỗi hơi thở
là mỗi vũng đọng
tiếng thét la.

 

(Sigue)

 

· Một kỹ thuật khác mà ông thường sử dụng là Lập Lại: lập lại một cụm từ, gọi là Láy. Lập lại câu, gọi là Nhái. Nếu lập lại câu hoặc đoạn với mục đích nối tiếp, bắt cầu, gọi là Đệm. Những lúc đệm là lúc móc nối hoặc rẽ lối trong bài thơ dài. Nói chung, sự Lập Lại dùng để nhấn mạnh, gây ấn tượng, gây ảnh hưởng tâm lý và để có thể tạo ra những cảm giác, ví dụ như khó chịu vì bị lập lại nhiều lần nhưng sau cảm giác khó chịu là cảm nhận đả thông.

Ví dụ khác như cảm giác ghê rợn lẫn thương cảm khi ông tiếp tục lập đi lập lại câu thơ: a las cinco de la tarde. (Đúng 5 giờ chiều.). Câu thơ này dội lên sự ngạc nhiên rồi chuyển qua khó chịu rồi dội lại thương cảm. Trong trường ca Llanto Por Ignacio Sánchez Mejía, Điếu Ca cho Ignacio Sánchez Mejía. Trong khúc mở đầu, La Cogida y la Muerte, Đấu Bò và Cõi Chết, sau mỗi câu thơ ông đều lập lại câu " Đúng 5 giờ chiều". Đó là giờ bắt đầu khâm liệm xác của Ignacio Sánchez Mejías. Khúc này tổng cộng 52 câu. Ông lập lại câu " Đúng 5 giờ chiều" tất cả là 26 lần. Ignacio vừa là người đầu bò nổi tiếng trong lịch sử đấu trường ở Tây Ban Nha, vừa là một nghệ sĩ, vừa là tình nhân của ông. Sự qua đời bất ngờ vì tai nạn nghề nghiệp của Ignacio đã sâu nặng vết thương lòng Lorca. Trường Điếu Ca này trở thành một trong những trường ca hay nhất của Tây Ban Nha và của văn chương thế giới. (Xem bài Điếu Ca trong phần II.).

Kỹ thuật lập lại là một kỹ thuật đã có từ thời xa xưa. Lúc đó, đám đông người nghe thuộc hạng bình dân, mù chữ nên họ yêu thích nghe kể chuyện. Vì vậy, xuất hiện một tầng lớp người đọc thơ dạo. Họ đi khắp thôn xóm và kể lại những sử thi, những thiên anh hùng ca, có truyện, có bài dài cả hàng ngàn câu. Người kể phải lập lại những đoạn, những câu thơ quan trọng để hấp dẫn người nghe và cũng để người nghe mới tiện việc theo dõi.

Lorca sử dụng kỹ thuật lập lại này và phối hợp với thể hát dân gian. Những bài hát luôn luôn có điệp khúc, những chữ láy và những câu nhái. Ông sử dụng kỹ thuật lập lại rất tài tình, làm cho thưởng ngoạn chú ý và theo sát bài thơ, nhất là những bài thơ dài.

 

Láy: Cụm từ: " se desvanecen", "Sólo queda el desierto".

Los laberintos
que crea el tiempo,
se desvanecen.

(Sólo queda
el desierto.)

El corazón,
fuente del deseo,
se desvanece.

(Sólo queda
el desierto.)

La ilusión de la aurora
y los besos,
se desvanecen.

Sólo queda
el desierto.
Un ondulado
desierto.

Phố chợ
thời gian
tiêu tan.

(Chỉ sa mạc
tồn tại.)

Trái tim
nguồn mơ
tiêu tan.

(Chỉ sa mạc
tồn tại.)

Bình minh hy vọng
và nụ hôn,
tiêu tan.

Chỉ sa mạc
tồn tại.
Sa mạc
dậy sóng.

Cách sử dụng Láy của Lorca có dấu ấn đặc biệt. Nhiều khi ông chỉ láy có một chữ. Người đọc sẽ bị chữ lập lại này đưa đến câu hỏi: Có ý gì? và câu trả lời dẫn đến một cảm nhận về một lý do trừu tượng bên trong. Ví dụ như láy chữ amarilla, amarillo (màu vàng).

En la torre
amarilla
dobla una campana.

Sobre el viento
amarillo
se abren las campanadas.

En la torre
amarilla
cesa la campana.

El viento con el polvo
hace proras de plata.

( Campana)

Từ lầu cao
màu vàng
hồi chuông đổ.

Theo cơn gió
màu vàng
nhạc chuông nở hoa (11)

Trên lầu cao
màu vàng
chuông ngưng tiếng.

Gió thổi bụi mờ
như bóng ma ảm đạm. (12)

( Campana)

 

Nhái câu:

 

Me miré en tus ojos
ensando en tu alma.

Adelfa blanca.

Me miré en tus ojos
pensando en tu boca.

Adelfa roja.

Me miré en tus ojos
Pero estabas muerta!

Adekfa negra.

(Remansillo)

Anh thấy anh trong mắt em
băn khoăn nghĩ đến hồn em nơi nào.

Ôi, trắng ơi ngọn Trúc Đào.

Anh thấy anh trong mắt em
chợt thương nhớ nụ hôn mềm ngày nao

Ôi, đỏ ơi ngọn Trúc Đào.

Anh thấy em trong mắt anh
thấy vào cõi chết người thêm u sầu.

Ôi, đen ơi, ngọn Trúc Đào.

(Remansillo)

Đệm đoạn:

 

Sobre el cielo
de las margaritas ando.

Yo imagino esta tarde
que soy santo.
Me pusieron la luna
en las manos.
Yo la puse otra vez
en los espacios,
y el Senor me premió
con la rosa y el halo.

Sobre el cielo
de las margarita ando.

Y ahora voy
por este campo.
A librar a las ninas
de galanes malos
y dar monedas de oro
a todos los muchachos

Sobre el cielo
de las margaritas ando.

(Cuatro baladas amarillas)

Dưới trời hoa cúc
Tôi đi.

Tưởng tượng hôm nay
Tôi là thần thánh.
Họ đặt mặt trăng
vào giữa đôi tay.
Tôi treo mặt trăng
vào giữa vũ trụ.
Thượng Đế thưởng tôi
hoa hồng, hào quang.

Dưới trời hoa cúc
Tôi đi.

Bây giờ tôi sẽ
xuống cánh đồng này
cứu trẻ thơ ngây
thoát tay kẻ dữ
đang phát tiền vàng
cho những cậu trẻ.

Dưới trời hoa cúc
Tôi đi.

 

· Từ thi ca truyền thống của tây ban Nha bước vào Tượng Trưng, Lorca thường sử dụng một kỹ thuật khá xưa và thay vào những chi tiết cách tân. Ông nhân cách hóa sự kiện, sự vật; ông tâm sự hóa cảnh tượng, thú vật thậm chí lá quan niệm để diễn đạt thơ.

 

La Balada Del Agua Del Mar

El mar
sonríe a lo lejos.
Dientes de espuma,
labios de cielo.
¿Qué vendes, oh joven turbia
con los senos al aire?
Vendo, señor, el agua
de los mares.
¿Qué llevas, oh negro joven,
mezclado con tu sangre?
Llevo, señor, el agua
de los mares.
Esas lágrimas salobres
¿de dónde vienen, madre?
Lloro, señor, el agua
de los mares.
Corazón, y esta amargura
seria, ¿de dónde nace?
¡Amarga mucho el agua
de los mares!
El mar
sonríe a lo lejos.
Dientes de espuma,
labios de cielo.

Bài Ca Nước Biển

Biển
cười từ xa.
Răng bọt trắng
môi đường chân trời.
Này cô hầu lảm cẩm, cô bán thứ gì
với đôi vú chìa ra chống gió?
Thưa ông, em bán
nước biển.
Này cô da đen, cô mang theo thứ gì
để pha màu máu đậm?
Thưa ông, em mang
nước biển
Mẹ ơi, dòng nước mắt mặn
đến từ đâu?
Con ạ, mẹ khóc
nước biển
Tim ơi, nấm mồ cay đắng này
do đâu mà có?
Đắng cay
do nước biển.
Biển
cười từ xa.
Răng bọt trắng
môi đường chân trời.

 

Về cách trình bày bài thơ, ông thường dùng hình thức chuỗi thơ thường thấy trong truyền thống thi ca Âu Châu. Nhưng trong chuỗi thơ của ông đa phần những đoạn thơ không liên tục, chỉ có tính cách tập hợp. Mỗi đoạn thơ trình bày mỗi khía cạnh, mỗi tâm tình và nhiều đoạn cho thấy tổng thể của bài thơ. Ông thường gọi là Ca khúc hoặc Tổ khúc.

Ngữ lực đến từ tích lũy kiến thức và thực tập lâu ngày cho đến khi trở thành kinh nghiện thuần thục. Nói một cách khác là không phải suy nghĩ khi sáng tác. Ngữ lực đến tự nhiên khi cần thiết. Nói một cách khác nữa, ngữ lực luôn luôn phải là ngữ lực của ai. Ngữ lực của mỗi thi sĩ thành danh đều đặc thù.

Ngữ thuật chính là chiêu thức, cách bày bố ngôn ngữ và ký hiệu. Diễn lực mới là nội lực để bày tỏ và thuyết phục.

Diễn lực là sức mạnh âm thầm liên kết, nhào trộn ngữ thuật để diễn đạt. Diễn lực thành tựu ra sao là do sức mạnh sáng tạo đi qua cá tính mà thành hình. Khả năng sáng tạo mạnh và bốc thì tác giả sáng tác nhiều và xuất thần. (Mời đọc tập tùy luận Nháp và Nốt 1 & 2 của Ngu Yên.)

Diễn lực của Federico Garcia Lorca ở trong trường hợp này. Ông sáng tác khỏe, chẳng những thơ, bài viết còn sáng tác kịch bản và dàn dựng cho sân khấu kịch nghệ. Ông qua đời sớm nhưng để lại nhiều tác phẩm được giới thưởng ngoạn ngưỡng mộ.

Diễn lực của Federico Garcia Lorca đưa thơ của ông đến bản chất và nội dung ThấmThấu nhiều hơn là Thường. (Xin đọc bài Thường Thấm Thấu trong tác phẩm Nháp và Nốt, tập 2.).

Bản chất và nội dung Thấm có lẽ chiếm hầu hết phần trăm trong dòng thơ của ông. Bởi lẽ, tượng trưng và siêu thực đều chủ yếu trình bày những ý niệm và tư duy về trừu tượng, nhân sinh, triết học, siêu hình…..Do đó, bài thơ cần có thời gian để thẩm thấu, để tiêu hóa.

THẤM chính là nơi tìm hiểu nội lực của Federico Garcia Lorca. Nhận xét chung trong thi ca, Thấm và Thấu là hai yếu tính của thơ. Thấm thường thấy trong thơ Tây Phương. Thấu thường thây trong thơ Đông Phương. Thấm đến từ cảm lý rồi tư duy. Thấu đến từ cảm nghiệm bởi trực giác hoặc linh cảm. Vượt qua thời kỳ Hậu Hiện Đại, khi triết học và văn học giữa Đông và Tây đã giao hòa, thơ hôm nay gôm cả hai yếu tính Thấm và Thấu.

 

3. TÁC PHẨM.

Nhân đi qua tác phẩm của Federicio Garcia Lorca, chúng ta sẽ dừng chân ở những điểm mốc quan trọng trong cuộc đời của ông và chiêm nghiệm chất Thấm trong những bài thơ ví dụ dọc theo con đường sáng tác.

Năm 11 tuổi, gia đình ông dời về thành phố Granada. Bắt đầu tiếp xúc với đời sống phố thị. Trong giai đoạn mới lớn, ông yêu thích âm nhạc hơn thi ca. Học chơi dương cầm và ngưỡng mộ những tài năng cổ điển như Beethoven, Chopin, Debussy…Năm 1920, khi bước vào thi ca ông trở thành bạn thân với nhà soạn nhạc Manuel de Falla, nhạc dân ca Spanish.

Từ năm 1919, nhân dịp thường ghé chơi quán Càfé Alameda trong phố Granada, ông có dịp gặp gỡ những tài năng văn nghệ trong nhóm El Rinconcillo. Một trong những giáo sư của đại học của Granada, ông Don Fernando de los Rios, là thủ lảnh của đảng xã hội Tây Ban Nha, thuyết phục cha mẹ của Federico cho ông vào chương trình học Residencia de Estudiantes tại Madrid. Nơi đây ông đã được làm quen với những tư tưởng tự do của đảng xã hội cấp tiến. Qua con đường này, ông đã tiếp xúc và phát triển vào nền văn chương hiện đại của thế giới. Ông giao du với những tên tuổi thời danh trong mọi lãnh vực như hội họa, thi ca, tiểu thuyết, điêu khắc….như Claudel, Valéry, Cendras, Max Jacob…….và thi sĩ nổi tiếng của Tây Ban Nha thời đó là Juan Ramón Jiménez.

Nhưng phải nói đến ba người bạn thân đã ảnh hưởng đến cuộc đời và sự nghiệp nghệ thuật của Lorca là thi sĩ Rafael Alberti, họa sĩ Salvador Dalí và nhà sản xuất phim ảnh Luis Bunel. Nhất là Dalí. Lorca là người đồng tính luyến ái nên đối với Dalí là một mối tình vượt lên tình bằng hữu. Sự hiện diện và sự rời bỏ của Dalí trong đời của Lorca là những thời điểm hạnh phúc và sóng gió đã để lại một thiên thơ ca Oda a Salvador Dalí.

Trích:

Trên tất cả tôi hát cho suy tư thường nhật
cùng bên nhau thời u ám hay huy hoàng.
Nghệ thuật không phải là ánh sáng mù quáng.
Đó là tình, là bằng hữu, là ngôn ngữ thần giao.
……………………..

Pero ante todo canto un común pensamiento
que nos une en las horas oscuras y doradas.
No es el Arte la luz que nos ciega los ojos.
Es primero el amor, la amistad o la esgrima. (9)
………………………..

Thơ theo thứ tự thời gian sáng tác cho đến khi ông qua đời, cho người đọc nhìn thấy tiến trình của một hồn thơ đi từ cảm nhận bén nhạy với đời sống nhưng không bi quan, rồi biến chuyển thành tư duy sâu thẳm với hình ảnh u ám và cảm nhận thất vọng. Sự phát triển đó là hành trạng tự nhiên của một người đi sâu vào nghệ thuật. Phải chăng nghệ thuật là cái cuốc để người nghệ sĩ đào sâu vào lòng đời? Để cái hố sâu này trở thành huyệt mộ của chính anh ta?

Tập thơ đầu tiên LIBRO DE POEMAS, Book of Poems. Gồm những bài thơ từ năm 1918-1920. Ấn hành năm 1921. Đa số nghiên về suy tư tôn giáo, thiên nhiên, nỗi cô đơn và những ám ảnh thời thơ ấu. Trong giai đoạn này, thơ ông manh nhiều tượng trưng, ẩn dụ. Nhưng chưa đậm nét tinh thần phi lý của siêu thực. Như những bài: Corazón nuevo, Con Tim Mới; Árboles, Cây; Cantos nuevos, Bài Hát Mới……..…. Ngôn ngữ và hình ảnh còn nhẹ nhàng, "dửng dưng" đại diện cho ý tứ. Khác với sau này, ngôn ngữ và hình ảnh thơ của ông rất cô đọng, kịch liệt và đôi khi cực đoan, tạo nên TRỌNG LƯỢNG cho ý và tứ thơ. Tiến trình của thi sĩ thường như vậy. Ngôn ngữ, câu cú lúc ban đầu thường bay bướm, rực rỡ, có thần nhưng là ngôn ngữ chung. Tài năng của thi sĩ có thể diễn đạt từ ngữ, hành văn đúng nghĩa, đúng giá trị của ngôn ngữ mà ai cũng có thể hiểu. Nhưng phải đợi đến khi thi sĩ tìm ra ngôn ngữ riêng của họ. Cũng ý nghĩa đó, cũng giá trị đó mà từ ngữ, câu cú thuộc về từ điển khác, từ điển đặc thù của thi sĩ. Đó cũng là lý do tại sao thi sĩ càng phát triển khả năng làm thơ, càng lớn lên, thơ họ càng khó hiểu.

Qua những tứ tượng trưng, ngôn ngữ chung của Lorca đã mang đến cho thơ ông một sắc thái âm u. Một thứ nhân sinh quan của tâm hồn nhạy cảm phải đối diện với bẫy rập cuộc đời. Có thể nói, ở thời điểm này ông đã thành danh thi sĩ nhưng chưa đạt đến mức công phu và nặng ký. Khi tác phẩm này ra đời, ông đang khởi sự tập thơ Suites, với những khai phá mới, ông nhận định về tập thơ đầu tay trong lá thư gửi cho cha mẹ ông, tháng 4 năm 1921:" Những bài thơ đầu tay, dù đánh giá như thế nào đi nữa, vẫn thú vị và chân thật."

 

……………………..

Giờ này, mặt trời đã lặn
sau đỉnh ngọn đồi,
đám đông trở về
khuấy tung cát bụi.
Đến giờ phải đi.
Theo đường mòn nhỏ,
bỏ lại trầm tư.
Bạn sẽ có giờ
ngắm sao
chờ trùng tiêu chậm 
trong bao tử.

Hãy trở về nhà
dưới ngôi làng dế
Chúc ngủ ngon
hỡi bạn thằn lằn!

……………………

……………………..

The sun has dissolved now
on the crest of the hill,
and returning flocks
stir up the dust.
It’s time to go.
Leave this narrow path,
leave off your meditation.
You’ll have time later
to look at the stars
as the worms consume you
slowly.

Back to your house
under the cricket village!
Good night, Mr. Lizard.
friend!

……………………

(Trích bản dịch: The Old Lizard. Catherine Brown. Nguyên tác: El lagarto viejo, 1920.)

Tìm hiểu bản chất và nội dung Thấm của thơ ông trong thời kỳ này qua bài thơ El concierto interrumpido, Đêm Nhạc Không Hòa Điệu.

Ha roto la armonía
de la noche profunda,
el calderón helado y soñoliento
de la media luna.

Las acequias protestan sordamente
arropadas con juncias,
y las ranas, muecines de la sombra,
se han quedado mudas.

Trong đêm sâu thăm thẳm
cảnh vật không hòa âm
ngưng đọng dừng ngái ngủ
trăng lên chừng nửa vầng.

Từ lạch mương bất đồng im lặng
bao trùm lên lau sậy đứng im,
và ếch nhái, chuyên báo tin bóng tối,
đã dường như mỏi mệt im lìm.

image 

En la vieja taberna del poblado
cesó la triste música,
y ha puesto la sordina a su aristón
la estrella más antigua.

E1 viento se ha sentado en los torcales
de la montaña oscura,
y un chopo solitario – el Pitágoras
de la casta llanura –

quiere dar con su mano centenaria,
un cachete a la luna.

(El Concierto interrumpido)

Từ quán rượu trong ngôi làng cũ
Điệu nhạc buồn lịm tắt theo ngày
rồi những ngôi sao già nua nhất
cũng mờ dần theo tiếng đàn Quay.

Gió lắng vào khe động
trong núi rừng mịt mờ,
Cây Bạch Dương hiu quạnh
giữa đồng hoang như Pythagore

vói bàn tay trăm tuổi
tát mặt trăng lặng lờ.

Chất Thấm trong những bài thơ đầu tay không sâu lắm. Không có nhiều lớp để nghiền ngẫm. Nhân sinh quan của người trẻ chưa quay quắt tình đời. Thơ ông nặng về phần tượng trưng cho cảm giác. Thơ ở tuổi trẻ thường nhiều sinh khí.

Qua đến tập POEMA DEL CANTE JONDO , Poem of the Deep Song. Gồm những bài thơ bắt đầu từ tháng tám năm 1921. Hơn một nửa số thơ, ông sáng tác trong thời gian ngắn: 10 ngày, từ ngày 11 đến 21 tháng 11. Ông tự nhận định rằng, trong tập thơ này, ông đã sử dụng nhiều thể hát, thể dân ca truyền thống Tây Ban Nha. Cưu mang ở đây nhiều hình ảnh và tinh thần tình tự dân tộc.

Nhưng đây cũng là lúc Lorca và một số thi sĩ tiền phong ở tây phương bắt đầu hưởng ứng phẩm chất của những bài thơ ngắn. Tinh thần thơ Hài Cú của Nhật đang được sáng tác và lan rộng khắp Âu Châu. Ngôn ngữ Hài Cú cô đọng. Tứ Hài Cú khơi động tâm linh. Ý hài Cú thâm thúy theo kiểu Đông Phương. Phong cách này làm kinh ngạc và thuyết phục những thi sĩ đương thời. Lorca nắm bắt phong cách này nhanh chóng vì bản chất yêu thiên nhiên của ông rất thích hợp với Hài Cú. Thơ ông đã sẵn có tính gợi ý từ những tứ tượng trưng. Những bài thơ ngắn của ông rất thành công, được đưa vào nhiều tuyển tập thơ thế giới. Bài thơ El gran espejo được viết trong tinh thần Hài Cú. Thơ Hài Cú thường ngã về Thiền hoặc Phật môn. Lorca viết về đạo Ky-tô. Câu kết Hosanna, bức xé được tinh thần Hài Cú.

Vivimos
bajo el gran espejo.
El hombre es azul!
Hosanna!

(El gran espejo)

Sống
dưới tấm gương soi mênh mông
ôi, làm người là sầu thảm!
lạy Chúa tôi!

 

Bài Las seis cuerdas theo tinh thần và thể thơ ngắn bị ảnh hưởng bởi thơ phương Đông, thơ Đường, Thơ Ấn nhưng rất cá tính Lorca-Tay Ban Nha.

 

Las seis cuerdas

La guitarra
hace llorar a los sueno.
El sollozo de las ahmas
perdidas
se escapa por su boca
redonda.

Y como la tarántula,
teje una gran estrella
pata cazar suspiros,
que flotan en su negro
aljibe de madera.

Sáu Dây Đàn

Đàn Ghi-ta
ru chiêm bao ứa lệ.
Tiếng thổn thức
từ linh hồn lạc loài
thoát ra cửa miệng
tròn.

Rồi như con nhện lớn
giăng tơ hình ngôi sao
lưới bắt từng hơi thở
phiêu bồng qua thùng gỗ
đen.

Bản chất và nội dung của Thấm trong tập thơ này cũng tương tựa như tập thơ đầu tay. Tuy đã có phần già dặn hơn như trong bài La guitarra (Đàn Ghi-ta), De Poema de la Saeta ( Từ Thơ Về Mũi Tên), …. Ở vào thời điểm này, dường như sự phản kháng về tôn giáo thường đến với ông. Đa số nghệ sĩ khó lòng đi theo con đường tôn giáo có nhiều giáo điều và đòi hỏi lòng tin triệt để. Sự yêu chuộng tự do khó thích hợp với lễ nghi và sự trừng phạt. Sự phóng túng khiến cho nghệ sĩ không thể bó mình trong những giáo điều. Nhưng trên hết, nghệ sĩ là những người nhạy cảm và nắm được sự "giả tạo" của đời sống. Khó có thể tin vào một Thượng Đế quyền uy, bác ái , công bằng lại có thể để những sự việc khổ nạn xẩy ra. Chính Thượng Đế tạo ra những tội lỗi, những đau khổ, những xấu xa rồi giải thích bằng những lý do bất khả tư nghị.

Saeta

Cristo moreno
pasa
de lirio de Judea
a clavel de España.
¡Miradlo, por dónde viene!
De España.
Cielo limpio y oscuro,
tierra tostada,
y cauces donde corre
muy lenta el agua.
Cristo moreno,
con las guedejas quemadas,
los pómulos salientes
y las pupilas blancas.

¡Miradlo, por dónde viene! (15)

Mũi Tên

Ông Christ da ngâm đen
đi qua
hoa Kèn Judea
Cẩm Chướng Tây Ban Nha
Hãy nhìn xem, ông đến!
Từ tây Ban Nha.
Bầu trời trong và tối
mặt đất dần dần mờ,
và dòng nước
chảy chậm rãi.
Ông Christ da ngâm đen
tóc quăn dài
gò má cao
mắt xanh lợt.

Hãy xem kìa, ông đi!

Có lẽ mỗi người đọc sẽ có mỗi câu trả lời về nhân vật trong bài thơ. Ông Christ là ai?. Có phải là Jesus Christ de Nazareth? Nhưng sao lại da ngâm đen? Sao lại đến từ Tây ban Nha? Hai câu thơ: de lirio de Judea / a clavel de Espana, sẽ khiến cho người đọc tìm Thấm phải suy tư.

Tuyển tập thơ thứ ba của ông là SUITES, vẫn còn dở dang khi ông qua đời. Mãi đến năm 1983 mới ấn hành. Vào năm 1923 trở đi, Lorca đã trở thành ngôi sao trong làng thơ ở Tây Ban Nha. Giai đoạn này là giai đoạn quan trọng trong tiến trình sáng tác, ông khám phá ra con đường thơ mà ông sẽ phải đi. Tác phẩm quan trọng đánh dấu ngã rẽ này là chuỗi thơ: En el jardín de las toronjas de luna ( Trong Vườn Trăng Trái Bưởi (13) ).

Mùa hè năm 1923, trong một lá thư gửi cho người bạn, Lorca giải thích về Vườn Trăng Trái Bưởi: " Khu vườn của tôi là khu vườn có thể có, một khu vườn của những gì chưa thấy, nhưng có thể đã hiện hữu, một khu vườn cho những đứa trẻ vô hình chưa được sinh ra…."

El Jardin

Jamás nació, ¡jamás!
Pero pudo brotar.

Cada segundo se
profundiza y renueva.

Cada segundo abre
nuevas sendas distintas.

¡Por aquí! ¡Por allí!
Va mi cuerpo multiplicado.

Atravesando pueblos
O dormido en el mar.

¡Todo está abierto! Existen
Llaves para las claves.
Pero el sol y la luna
nos pierden y despistan,
Y bajo nuestros pies
se enmarañan los caminos.

Aquí contemplo todo
lo que pude haber sido.
Dios o mendigo,
agua o vieja margarita.
Mis múltiples senderos
teñidos levemente
hacen una gran rosa
alrededor de mi cuerpo.
Como un mapa imposible,
el jardín de lo posible.
Cada segundo se
profundiza y renueva.
Jamás nació, ¡jamás!
¡Pero pudo brotar! (17)

Khu Vườn

Chưa bao giờ, ôi, chưa bao giờ thấy!
bất cứ lúc nào cũng có thể hiện ra.

Mỗi giây phút
mỗi nôn nao xuất hiện.

Mỗi phút giây
nghe đồn đãi lối đi.

Ở nơi này! Ở nơi kia!
khu vườn ở khắp chốn.

Băng ngang qua thị trấn
hay chôn vùi biển sâu.

Khắp nơi đều có thể
Ổ khóa mở dễ dàng.
Nhưng đôi vầng nhật nguyệt
đã lừa dối chúng ta.
Vì dưới đôi chân bước
rối mù những con đường.

Cho tôi nhắn tin mới
Khu vườn có thể là
ăn mày hay Thượng Đế
hoa cúc hay nước trôi.
Đường đến muôn vạn nẻo
nhưng chỉ thấy mờ mờ
hóa thành hoa hồng lạ
quẩn quanh khu vườn tôi.
Bản đồ dẫn sai lạc
khu vườn có thể tìm.
Từng giây từng phút một
nôn nao muốn hiện thân.
Chưa bao giờ, ôi, chưa bao giờ thấy!
coi chừng hiện ra bất cứ lúc nào!

Bài thơ này dẫn người đọc đến một nơi trừu tượng mà Lorca đã khám phá ra, một cõi riêng mà ông đã chọn để làm nghệ thuật. Bắt đầu từ thời điểm này, thơ của ông rẽ vào con đường suy tư sâu thẳm hơn, cảm xúc bi quan hơn và không khí nghệ thuật của các tác phẩm huyền hoặc hơn.

Tác phẩm tiếp theo là CANCIONES, 1921-1924, gồm những bài thơ mang bản chất ca khúc hoặc tổ khúc như những tập thơ trước, dĩ nhiên là đậm đà hơn và "khó hiểu" hơn.

Verlaine

La canción,
que nunca diré,
se ha dormido en mis labios.
La canción,
que nunca diré.

Sobre las madreselvas
había una luviérnaga,
y la luna picaba
con un rayo en el agua.

Entonces yo soné,
la canción,
que nunca diré.

Canción llena de labios
y de cauces lejanos.

Canción llena de horas
perdidas en la sombra.

Canción de estrella viva
sobre un perpetuo día.(18)

Verlaine

Bài ca
chưa bao giờ hát
trên đầu lưỡi ngủ say.
Bài hát
chưa bao giờ ca.

Trên cành Kim Ngân
đom đóm nhấp nháy
trăng đùa mặt nước
nhúng ướt ánh trăng.

Là lúc tôi mơ mòng
bài ca
chưa bao giờ hát.

Bài hát trào qua môi
nổi trôi viễn xứ.

Bài ca vui qua giờ
khi nghỉ chân bóng mát.

Bài hát làm ngôi sao sống lại
giữa trời cao bất tận nắng ngày.

Bài ca mà ông định hát là bài ca gì? Có phải là bài hát để ngợi ca thi tài của Verlaine? " Trăng đùa mặt nước, nhúng ánh trăng", phải chăng là thái độ của người nghệ sĩ đến trần gian? "…ngôi sao sống lại, giữa trời cao bất tận nắng ngày", phai chẳng thơ của Paul Verlaine ở mãi với chúng ta cho đến hôm nay và ngày mai…? Có thể kết luận chung rằng thơ Siêu Thực là thơ của chất Thấm. Nó đòi hỏi người đọc phải cưu mang bài thơ, câu thơ theo thời gian. Có khi chẳng bao giờ cảm nhận được. Nhờ bản chất thấm này mà chúng ta có thể phân định được thơ Siêu Thực và thơ nhái siêu thực. Thơ nhái siêu thực chỉ có chữ mà không có thấm. Nhái siêu thực là nhái ngôn ngữ, nhái hình ảnh, nhái bộ dạng. Không nhái được chiều sâu của tứ thơ. Hôm nay, người ta thường nhân danh Hậu Hiện Đại, một loại hiện đại lạm dụng, để nhái những bài thơ thấm và thấu bằng ngôn từ dao giấy. Đâm vào lòng thơ, không chảy máu.

Tác phẩm tiếp theo là tập thơ PRIMER ROMANCERO GITANO, 1924-1927, Tình Ca Du Mục Gypsy. tác phẩm này vừa là một thành công lớn vừa là một thất bại của tâm tình. Gồm những bài thơ viết theo thể Ballad, một thể thơ truyền thống của Tây Ban Nha. Một thể thơ bình dân mang bản chất kể chuyện, có nguồn gốc từ ca vũ khúc, đến từ Pháp. Trong thời điểm này, thể thơ Ballad vẫn thịnh hành ở Tây Ban Nha. Khi những bài thơ này ra đời, ông đã được đón tiếp nhiệt liệt. Vị trí thi sĩ của ông càng vững vàng và sáng tỏ trên văn đàn tây Ban Nha. Người dân ở những vùng thôn quê tụ tập đọc thơ ông trong những ngày lễ lạc. Trong lúc sự thành công rất rạng rỡ, lòng ông lại đau buồn. Người bạn thân, người tình, họa sĩ Salvador Dalí, công khai chỉ trích những bài thơ này. Có phải chăng vì sự trở về nguồn của Lorca đã làm cho ông cách biệt với phong thái càng ngày càng hiện đại của Dalí?

Con đường phát triển nghệ thuật của một nghệ sĩ thường có thể biểu hiện bằng đường zích-zắc. Zích lên là giai đoạn tiến tới hiện đại. Zắc xuống là giai đoạn lui về truyền thống. Nôi tâm của nghệ sĩ luôn luôn có sự dằn co giữa truyền thống và cách tân. Khi sáng tạo và khám phá đẩy sáng tác đi tới, đi lên, tiếp cận với nghệ thuật tiền phong, nghệ thuật cấp tiến lập tức có một lực nghi ngờ đẩy lui. Sau một thời gian sáng tác với nghệ thuật "mới", người nghệ sĩ thường lui lại để nhìn ngắm những thành quả cấp tiến. Sự nghi ngờ và sự tự xét lại, tự đánh giá những tác phẩm sẽ làm cho nghệ sĩ dừng chân hoặc thối lui, trước khi quyết định sẽ tiếp tục cách tân hay lùi lại hay chọn thái độ bảo hòa.

Trong một thời gian hoặc một đời, đỉnh cao và đáy thấp của đường biểu hiện zích-zắc, cho biết sự phát triển nghệ thuật của một tác giả. Dĩ nhiên, đây chỉ là tượng trưng vì nghệ thuật không thể đo lường bằng con số. Khoa học biểu đồ ngày nay dùng những "phác họa" để ghi nhận khoa nhân văn. Nhưng chỉ "vẽ" được hình thể mà không đo được khí lực.

Ví dụ: Tiến trình nghệ thuật tiền phong. Tiến trình nghệ thuật bảo thủ

 

Ví dụ: Tiến trình nghệ thuật tiền phong. Tiến trình nghệ thuật bảo thủ

       
  clip_image009
    clip_image010

Lorca cũng không ngoại lệ. Đoạn thơ dưới đây cho thấy Lorca lui về với dòng thơ Ballad, Tình Ca và truyện kể trước khi ông khởi hành về một phương trời mới. Nhưng người đương thời lại cổ vỏ ông nhiều hơn khi thơ ca của ông ngã vào truyền thống. Dường như số mệnh chung của những nghệ sĩ tiền phong là bị lãng quên trong thời đại của họ.

Sức độ thưởng ngoạn trung bìng của số đông, ít khi giúp ích cho sự phát triển nghệ thuật, thường khi kéo xuống khi nghệ thuật bay lên; thường khi bao vầy, tâng bốc, khen chế, bóp nghệ thuật nghẹt thở; thường khi quay lưng, chống đối khi nghệ thuật thám hiểm. Khi xuấtt bản tập thơ Tình Ca Du Mục, Lorca đã rời vào tình trạng này. Trong lúc hào quang cổ vỏ vây bủa lấy ông thì ông lại ưu tư, tự hỏi, tự đánh giá lấy ngôi vị có vòng nguyệt quế. Và đây cũng là thái độ của người nghệ sĩ chân chính.

………………………………………..

– Compadre, quiero cambiar –
mi caballo por su casa,
mi montura por su espejo,
mi cuchillo por su manta.
Compadre, vengo sangrando,
desde los puertos de Cabra.
– Si yo pudiera, mocito, –
este trato se cerraba.
Pero yo ya no soy yo,
Ni mi casa es ya mi casa.
– Compadre, quiero morir –
decentemente en mi cama.
De acero, si puede ser,
con las sábanas de holanda.
¿No ves la herida que tengo
desde el pecho a la garganta?
– Trescientas rosas morenas –
lleva tu pechera blanca.
Tu sangre rezuma y huele
alrededor de tu faja.
Pero yo ya no soy yo.
Ni mi casa es ya mi casa.
– Dejadme subir al menos –
hasta las altas barandas,
¡dejadme subir!, dejadme
hasta las verdes barandas.
Barandales de la luna
por donde retumba el agua.(19) 

(Trích: Romance sonámbulo)

………………………………………..

"Bác ơi,cháu xin đổi,
ngựa chiến cho căn nhà,
yên cương cho gương soi,
gươm dao cho mền gối.
bác ơi, cháu bị thương đẫm máu,
trở về từ trận Cabra" (*).
"Cháu ơi, nếu có thể
bác sẽ giúp cháu ngay
nhưng bác chẳng là ai
sống không nhà không cửa".
"Bác ơi, cháu muốn chết nơi đây
trên giường riêng tử tế,
giường sắt, nếu có thể
trải khăn mịn êm đềm.
Bác có thấy vết thương
chém từ cổ xuống ngực?"
"Ba trăm bông hồng sẫm
đỏ bầm áo trắng tinh.
Máu rỉ bốc mùi tanh
đọng quanh dây lưng thắt.
Nhưng bác chẳng là ai
sống không nhà không cửa".
"Hãy cho cháu lần cuối
leo lên lan can cao.
Để cháu leo! Để cháu leo!
lên lan can xanh sáng.
Lan can của ánh trăng
nơi dòng sông gào thét".

(*) Cabra: miền tỉnh trong vùng Cordóba, Andalusia, phía nam tây Ban Nha. Nơi trải qua nhiều chiến trận từ thời xưa đánh nhau với La Mã và những trận chiến nổi tiếng trong thời Nội Chiến.

 

Khi ông trở thành thi sĩ của dân tộc, thưởng ngoạn mến mộ, phê bình ca ngợi làm cho ông sợ hãi. Ông phải chạy trốn những tràng pháo tay, những báo chí với lời ngợi ca, những tấm lòng ái mộ của thưởng ngoạn vì ông biết rõ những hào nhoáng này sẽ giết chết thơ và giết chết Lorca.

Một trong những lưỡi hái đốn ngã hồn thơ chính là sự ngợi ca của thưởng ngoạn. Như một chén mật ngọt, khi rơi vào, khó mà bay lên, bay cao. Nếu làm thơ chỉ vì muốn người khác biết đến mình, chỉ vì muốn ghi tên vào văn học, thì người làm thơ sẽ dừng lại ở sân khấu vinh quang. Nhưng Lorca đã chạy trốn. Ông rời bỏ quê nhà. chạy sang New York. Nơi mà ông hoàn tất tập thơ POETA EN NUEVA YORK. Một phong thái khác, một giá trị khác, một thứ bất tử đã dựng lên từ thơ Federico Garcia Lorca.

(Xin đọc tiếp phần 2: Nh ận )

 

GHI:

(1) Phong trào Tượng Trưng xuất hiện vào cuối thế kỷ 19. Trường phái nghệ thuật đến từ Pháp, Nga và Bỉ, bắt đầu từ thi ca và hội họa rồi phát triển ra những lãnh vực nghệ thuật khác. Có thể nói, phong trào này bắt nguồn từ tác phẩm Les Fleurs du mal của Charles Baudelaire. Được hai thi sĩ Stéphane Mallarmé và Paul Verlaine khai phá và đã đem lại một phong trào nghệ thuật sáng tác lớn mạnh tại Âu Châu.

(2) Siêu Thực hoàn tất là một phong trào văn hóa. Xuất hiện vào năm 1920. Bắt đầu từ nghệ thuật tạo hình và văn chương. Người chủ xướng trường phái Siêu Thực là thi sĩ André Breton. Có thể nói, Siêu Thực là một phong trào sáng tác lớn nhất trong lịch sử nghệ thuật thế giới.

(3) Se ha puesto el sol
(Agosto de 1920)

Se ha puesto el sol.
Los áboles
meditan como estatuas.
Ya está el trigo segado.
Qué tristeza
de las norias paradas!

Un perro campesino
quiere comerse a Venus, y le ladra.
Brilla sobre su campo de pre-beso,
como una gran manzana.

Los mosquitos – pegasos del rocío –
vuelan, el aire en calma.
La Penélope inmensa de la luz
teje una noche clara.

‘Hijas mías, dormid, que viene el lobo",
las ovejitas balan.
"Ha llegado el otono, companeras?",
dice una flor ajada.

Ya vendrán los pastores con sus modos
por la sierra lejana!
Ya jugarán las ninas en la puerta
de la vieja posada,

y habrá coplas de amor
que ya se saben
de memoria las casas.

(4) Madrugada
Pero como el amor
los saeteros
están ciegos.

Sobre la noche verde,
las saetas
dejan rastros de lirio
caliente.

La quilla de la luna
rompe nubes moradas
y las aljabas
se llenan de rocío.

¡Ay, pero como el amor
los saeteros
están ciegos!

(5) Castanet

Castanet.
Castanet.
Castanet.

Sonorous scarab.

In the spider
of the hand
you crimp the warm
air,
and drown in your wooden
trill.

Castanet.
Castanet.
Castanet.

Sonorous scarab.

(6) El sátiro blanco

Sobre narcisos inmortales
Dormía el sátiro blanco.

Enormes cuernos de cristal
Virginizaban su ancha frente.

El sol como un dragón vencido
Lamía sus largas manos de doncella.

Flotando sobre el río del amor
Todas las ninfas muerta desfilaban.

El corazón del sátiro en el viento
Se oreaba de viejas tempestades.

La siringa en el suelo era una fuente
Con siete azules caños cristalinos

(7) El Camino

No conseguirá nunca
tu lanza
herir al horizonte.
La montana
es un escudo
que lo guarda.

No suenes con la sangre de la luna
y descansa.

pero deja, camino,
que mis plantas
exploren la caricia
de la rociada.
……………………………….
……………………………….
No conseguirá nunca
tu lanza
herir al horizonte.
La montana
es un escudo
que lo guarda.
………………………….
Dando vueltas al mundo,
no encontrarás camposanto
ni mortaja,
ni el aire del amor renovará
tu sustancia.
…………………………

(8) Muerte

¡Qué esfuerzo!
¡Qué esfuerzo del caballo por ser perro!
¡Qué esfuerzo del perro por ser golondrina!
¡Qué esfuerzo de la golondrina por ser abeja!
¡Qué esfuerzo de la abeja por ser caballo!
Y el caballo,
¡qué flecha aguda exprime de la rosa!,
¡qué rosa gris levanta de su belfo!
Y la rosa,
¡qué rebaño de luces y alaridos
ata en el vivo azúcar de su tronco!
Y el azúcar,
¡qué puñalitos sueña en su vigilia!
y los puñales,
¡qué luna sin establos, qué desnudos!,
piel eterna y rubor, andan buscando
Y yo, por los aleros,
¡qué serafín de llamas busco y soy!
Pero el arco de yeso,
¡qué grande, qué invisible, qué diminuto!,
sin esfuerzo.

How hard they try!
What effort the horse makes
To be a dog!
What effort the dog to become a swallow!
What effort the swallow to be a bee!
What effort the bee to become a horse!
And the horse,
what a sharp shaft it steals from the rose!
what grey rosiness lifts from its lips!
And the rose,
what a flock of lights and cries
caught in the living sap of its stem!
And the sap,
what thorns it dreams in its vigil!
And the tiny daggers
what moon, and no stable, what nakedness,
skin eternal and reddened, they go seeking!
And I, in the eaves,
what a burning seraph I seek and am!
But the arch of plaster,
how vast, invisible, how minute,
without effort!

Bản dịch: A.S. Kline. Death.

(9)Remansillo

Me miré en tus ojos
pensando en tu alma.

Adelfa blanca.

Me miré en tus ojos
pensando en tu boca.

Adelfa roja.

Me miré en tus ojos.
¡Pero estabas muerta!

Adelfa negra.

(10) El paso de la Siguiriya

Entre mariposas negras,
va una muchacha morena
junto a una blanca sepiente
de niebla.

(11) se abren las campanadas, chuyển là (tiếng chuông) vang xa. bản dịch của Cola Franzen: the bell-notes flower.chuyển là, nhạc chuông nở hoa.

(12) hace viento de plata, bản dịch Cola Franzen: shapes silver prows: hình dạng mũi thuyền màu xám
Proras: Tên một thành phố ở Andalusia (Viết hoa). Thành ngữ "Go to devil", về phe quĩ sứ.

(13) Bản dịch: Seven F. White. Ode to Salvador Dalí.

…………………

But above all I sing a common thought
that joins us in the dark and golden hours.
The light that blinds our eyes is not art.
Rather it is love, friendship, crossed swords…..

(14) The guitar

causes dreams to weep.
The sobs of lost
souls
escape through its round
mouth.

And like the tarantula
it weaves a large star
to trap the sighs
floating in its black
wooden cistern.

Bản dịch: Cola Franzen. The Six Strings.

 

 

(15) Arrow.

Dark-skinned Christ
changes
from lily of Judea
to carnation of Spain.
Look where he comes from!
From Spain.
Sky clear and dark,
scorched earth,
and riverbeds where water
runs ever so slowly.
Dark-skinned Christ,
with long, burnt hair,
high cheekbones,
and his pupils, white.
Look where he goes!

 

(http://www.poemadeamor.net/2005/10/federico-garcia-lorca-saeta-poemas-en_1131.html

(16) Grapefruit Moon:Trăng tròn, màu vàng ngã sang đỏ.

(17) The Garden

Was never born, never,
but could burst into life.

Every moment it’s
deepened, restored.

Every moment it opens new
unheard-of pathways.

Over here! over there!
See my multiple bodies.

passing through pueblos
or asleep in the ocean?

Everything open! Locks
to fit every key.

But the sun & moon
lose & delude us
& under our feet
the highway are tangled.

Here I’ll mull over all
I once could have been.
God or beggar,
water or old marguerite.

My multiple paths
barely stained
now form this enormous rose
encircling my body.

Like an impossible map
the garden of the possible
every moment is
deepened, restored.

Was never born, never,
but could burst into life.

Bản dịch: Jerome Rothenberg.

 

(18) Verlaine

 

The song
I’ll never speak,
on the tip of my tongue fell asleep.
The song
I’ll never speak.

On the honeysuckle
a firefly blinked
and the moon was pricking
the water with a beam.

It was then I dreamed
the song I’ll never speak.

Song filled with lips,
flowing from far away.

Song filled with hours
whiled away in the shade.

Song of stars alive
in perpetual daytime skies.

(Bản dịch: Alan S. Trueblood)

 

(19)

My friend, I want to trade
my horse for her house,
my saddle for her mirror,
my knife for her blanket.
My friend, I come bleeding
from the gates of Cabra.
–If it were possible, my boy,
I’d help you fix that trade.
But now I am not I,
nor is my house now my house.
–My friend, I want to die
decently in my bed.
Of iron, if that’s possible,
with blankets of fine chambray.
Don’t you see the wound I have
from my chest up to my throat?
–Your white shirt has grown
thirsy dark brown roses.
Your blood oozes and flees a
round the corners of your sash.
But now I am not I,
nor is my house now my house.
–Let me climb up, at least,
up to the high balconies;
Let me climb up! Let me,
up to the green balconies.
Railings of the moon
through which the water rumbles.

Tác Phẩm Thơ:

Libro de poemas (1921)

Poema del cante jondo (1921)

Primeras canciones (1922)

Canciones (1921-1924)

Romancero gitano (1924-1927)

Poeta en Nueva York (1929-1930

Llanto por Ignacio Sánchez Mejías

Seis poemas gallegos

Divan del Tamarit

Poemas sueltos

Cantares Populares

bài đã đăng của Ngu Yên


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)
porn ficken russian porn japanese porn watch porn watch sex izle sex izle anal porn tube amateur porn watch