Trang chính » Truyện ngắn Email bài này

Cain và Abel vs. sử thi Yang Yăng Yâng xứ Bù A Đà La (I)

I

Một vài nhân vật khủng trong những nhân vật khủng nhất bên trời Tây có tên Cain và người em của mình, Abel.

Họ là ai vậy?

Lùng khắp các loại thư khố, tàng kinh các… cho đến các kinh sách “hạn chế” lọt ra từ các thạch thất của các vua chúa loại “hàng khủng” thì tôi cũng chỉ lấy ra được đoạn nhỏ nhoi sau đây trong một đại từ điển:

Theo Kinh Thánh, Cain là một trong hai người con đầu của AdamEva. Cain làm nghề trồng trọt. Do một lần dâng lễ hiến tế cho Thiên Chúa, vì Thiên Chúa vừa lòng hơn với lễ vật của người em Abel, Cain đã nổi lòng ganh ghét và đã giết Abel. Vì thế Thiên Chúa đã trừng phạt Cain vì tội ngông cuồng và hiếu sát, tạo cho Cain một dấu ấn để luôn nhắc nhở Cain về tội lỗi của mình bằng cách biến Cain thành một con ma cà rồng chỉ biết đi hút máu người để sống.

Chỉ vẻn vẹn có vậy.

Chẳng lẽ chỉ có vậy thôi sao? Tôi thì không tin là chỉ vẻn vẹn có vậy.

Mới qua một số ngàn năm từ ngày có chữ viết (được ghi nhận có từ đầu thời kỳ Đồ Đồng cuối thiên niên kỷ thứ tư trước Công Nguyên, mặc dù từ thời kỳ Đồ Đá Mới đã có các biểu tượng tiền ký tự) nhưng lịch sử loài người đã có quá nhiều sử giả, sử bán giả, sử giả giả… cho đến những chuyện kỳ khu về việc mạo hóa các văn bản do kính thưa các loại “sử da” “sử thịt” chế tác.

Thật trớ trêu, đó chính là thực tại của một loài luôn luôn kỳ khu đi tìm chân lý và sự thật, và mãi cho đến giờ (cũng như chắc chắn là cả mai sau) vẫn sốt sắng lên đường đi tìm cái “của-nợ-ấy” mà chưa hề tỏ vẻ ngấy.

Tôi xin mách các bạn rằng có một người nói rất hay về chân lý, đó là nhà văn Áo Elias Canetti (1905-1994), Nobel Văn chương năm 1981 (lúc này ông mang quốc tịch Anh). Ông nói thế này:

Chân lý là một đồng cỏ mênh mông, lay động trong gió, phải cảm nhận nó như một chuyển động thể, phải hít thở nó như một luồng khí. Chỉ những ai không cảm nhận nó, không hít thở nó, mới coi nó là một bàn thạch; xin cứ việc cụng đầu tóe máu vào cái bàn thạch đó.

Hỡi ôi, thực tế là trong đời chỉ toàn những bác húc đầu bàn thạch mà thôi. Elias Canetti còn giảng chi tiết hơn thế này, xin các bạn hãy ghi nhớ:

Tôi căm ghét cái thái độ lúc nào cũng sẵn sàng vì chân lý, chân lý như một thói quen, chân lý như một nghĩa vụ. Chân lý là một cơn giông và nó sẽ tan đi sau khi thanh tẩy không khí. Chân lý phải giáng xuống như một tia sét, không như thế thì nó chẳng có tác dụng gì. Ai đã biết đến nó thì phải e sợ nó. Không bao giờ được để cho chân lý trở thành con chó quấn chân người; kẻ nào huýt sáo gọi nó thì hãy coi chừng. Nó không phải là thứ để tròng dây dắt theo, để ngậm sẵn trong miệng đem theo. Nó không phải là thứ để vỗ béo, để cân đong đo đếm; hãy để nó lớn lên trong sự an bình khủng khiếp của nó.

Tôi đã mở cuộc truy tầm tài liệu khắp gầm trời nhằm mục đích được biết rõ hơn về hai anh em nổi tiếng ấy. Vì họ quá ám ảnh tôi. Cũng như những sự tích và thực tế trên đời về bất kỳ hai anh em (hay thậm chí, hai cha con) nhà nào cũng đều ám ảnh tôi.

Cái motif ấy thật là kỳ lạ! Nó quán xuyến, nó bành trướng, nó bá quyền, nó nhiễu, nó nhương, nó vừa trung ương vừa địa phương, nó nửa ẩm ương nửa tỏ tường, nó vô cương nhưng hữu thường.

++

May mắn (chắc thế) cho tôi có lần đã được hạnh ngộ một văn bản cổ, trong một chuyến lãng du với một bọn nửa người nửa ngợm đến một vùng vừa cao ngất như trời vừa thấp tụt đến sâu hiểm. Cầm văn bản ấy trên tay không hiểu sao tôi có một cảm giác sướng khoái vô độ đến vô đối; như kiểu bạn được tiểu tiện, trung tiện và đại tiện cùng một lúc vậy.

Chữ viết trên văn bản này giống như những chữ vẽ trên những lá bùa, trông thật là rùng rợn. Qua tham kiến các vị đại giáo sư khả kính và khả kinh về khảo cổ học, văn bản học, cổ sử học, dân tộc học… thông thạo hàng chục thứ tiếng tôi được biết đó hình như là một bộ đại sử thi, nhưng họ cũng không dám chắc vì cũng có đọc được chó đâu.

Lại may cho tôi là cũng có quen biết các thuật sỹ bí hiểm. Và họ đã công nhận loại chữ đó giống như chữ bùa. Loại ngôn ngữ này chưa từng tồn tại trong thế giới loài người nhưng lại thực sự tồn tại trên đời. Các thuật sỹ nói đây chính là ngôn ngữ của Diêm Quốc. Mọi lời cầu nguyện của người sống chúng ta muốn đến được với những người đã khuất hay các thế lực thần linh – ma quỷ đều phải qua những nhà phiên dịch đặc biệt chuyển sang thứ ngôn ngữ ấy. Thật là kinh hãi! Vậy hóa ra Địa Ngục và Diêm Vương là có thật hả Trời?

Quỷ Sứ: Em công nhận là có cái ngôn ngữ ấy đấy, nó được gọi là Hoắc Phẩn Đạt Ma Ngôn. Kẻ nào không tin lúc nào nào gặp em sẽ biết hê hê

Nếu vậy thì khi tôi bàn tới cuốn kinh sách viết bằng ngôn ngữ bùa chú này thì tôi có bị các cường hào ác bá “toàn trị” dưới ấy trừng phạt không đây? Trần sao âm vậy mà. Nhưng tôi nghĩ mình không thể lùi bước, dẫu sao tôi cũng phải đem đến cho nhân loại một sự thật về một thế giới mà cho đến nay con người vẫn cứ bán tín bán nghi. Ý nghĩ ấy cho tôi thêm dũng khí. Dẫu sao thì con tầu cũng đã rời bến, tôi sẵn sàng đương đầu với định mệnh nào đó, cho dù có nghiệt ngã đến mấy. Hãy đến đây cổ vũ và sát cánh cùng tôi nhé, nếu các bạn thấy mình vẫn còn chút lòng dũng cảm và khát khao sự thật.

Các thuật sỹ nói loại chữ Hoắc Phẩn Đạt Ma Ngôn này là do truyền tâm ấn hay mặc khải mà biết chứ không thể học được. Người thầy dậy chữ này cũng thường là các bậc đại đại sư đã khuất núi, hiện về theo giờ giấc nào đó đã ước hẹn với người sống để truyền (thường là trong khi người sống đó đang ngủ hoặc thiền định). Tôi có duyên thân quen với một người như vậy, mang “pháp danh” là Đại Tôn Bằng Lằng. Và ông ta đã nhẫn nại dịch ra cho tôi nghe, tôi thì bí mật chép lại đây hầu quý vị.

Quỷ Sứ: Em có biết tên Đại Tôn Bằng Lằng này. Hắn là một tên khét tiếng cổ quái. Đôi khi em cũng qua chỗ hắn uống rượu khi hắn nhập định. Gì chứ rượu và đàn bà thì em chẳng dại gì mà không xơi, không thì có mà dở hơi.

Đây đúng là một cuốn sử thi, thứ tôi luôn muốn tìm kiếm để phục vụ cho việc viết cuốn sách này đấy! Đại Tôn Bằng Lằng nói tên bộ sử thi này tạm phiên âm ra là Yang Yăng Yâng. Tôi không rõ nghĩa lắm những từ này, nhưng biết rằng có nơi gọi Trời là Yang [Giàng] nên tôi suy ra chắc tên của sử thi nói về Trời – Đất – Người chăng. Vậy thì cũng cùng ý với bộ Ba Bựa/ Tam Tài ở xứ Xích Đạo Thổ vậy.

Yang Yăng Yâng của xứ Bù A Đà La bao gồm 39.000 câu đôi chia thành 12 tập có bố cục rất chặt chẽ, có thể đã ra đời trước cả những bản đầu tiên của sử thi Mahabhārata vĩ đại của Ấn Độ cổ đại từ thế kỷ V trước Công Nguyên.

Các nhân vật chính của bộ sử thi này có tên hai anh em có tên rất quái dị là Cánh Cổ và Ổ Bẹn. Ấy thế mà tôi chẳng thấy quái dị tẹo nào. Và tôi cứ đinh ninh chắc hẳn đây là hai cái tên khác của Cain và Abel. Nếu không phải thì chắc là Cánh Cổ và Ổ Bẹn cũng là một kiếp nào khác hay ẩn kiếp của Cain và Abel. Với lại, bộ sử thi này có cái “giọng” nửa chính sử nửa cà chớn làm cho tôi lại càng tin. Tôi hằng nghĩ chỉ có thể tìm ra sự thật ở những kinh sách như thế.

Cánh Cổ và Ổ Bẹn là con đầu và con thứ của ông Gộc Tre Già và bà Hang Chữ Thập. Cánh Cổ, một nông dân, đã giết em mình là Ổ Bẹn, làm nghề chăn cừu, vì đố kỵ sau khi Chúa Trời nhận lễ vật của Ổ Bẹn là các loại thịt thà và từ chối lễ vật của Cánh Cổ gồm toàn rau và cốc loại. Thế là Chúa Trời cũng khoái thịt hơn rau vậy, loài người hãy nhớ lấy. Vì thế Ổ Bẹn được coi như là một vị thánh tử vì đạo đầu tiên còn Cánh Cổ bị coi như kẻ tội đồ đầu tiên của loài người. Cũng có thể mâu thuẫn của họ đã phản ánh mối bất hòa và tranh chấp giữa những người du mục và những người sống định cư xưa kia.

Sử thi Yang Yăng Yâng ghi:

Thuở ban đầu xa xưa ấy Gộc Tre Già là người đàn ông đầu tiên xuất hiện ở một thế giới ẩm ướt; thế giới ấy ẩm ướt vô cùng, biển rộng bủa vây khắp chung quanh.

Muông thú từng đàn từng đàn nhẩy nhót, nhe nanh múa vuốt, hú hét trong những trận chiến không dứt của đại công cuộc cướp-giết-hiếp; không biết do Quỷ Xứ hay do Chúa Giời gây ra, nhưng tất nhiên, ai trên đời cũng tin là do Quỷ Xứ.

Chúa Giời đã làm phép thổi linh hồn vào một cái gốc tre đực để tạo ra con người đầu tiên nên cũng đặt luôn tên cho là Gộc Tre Già; vừa mới thành người không hiểu sao Gộc Tre Già đã bật dậy nhẩy nhót tanh tách.

Hàng ngày Gộc Tre Già sống cùng với đủ loài muông thú đó, chẳng ai biết là chàng vui hay buồn; nhưng chắc chắn một điều là chàng hòa nhập rất tốt với đời sống đó, hòa nhập nhưng không hòa tan.

Gộc Tre Già có thể nói chuyện hàng giờ với các loại hổ, báo, lang, sói, hươu, nai, chồn, cáo, thỏ mà không biết chán; tất cả cứ như sinh ra từ một mẹ vậy.

Tất cả bọn lúc bình thường ra thì cũng yêu quý nhau lắm; chỉ lúc nào có nhu cầu thì lại thịt nhau rau ráu coi như một việc trong ngày phải làm như ăn-ngủ-đụ-ỉa.

Đời sống lúc ấy thật là sung túc, chế độ dinh dưỡng và thiên nhiên tuyệt hảo; vì thế Gộc Tre Già lúc nào cũng có một cơ thể rất sung mãn.

Trí lực của chàng cũng thật phi phàm, như thể hòa làm một với thiên nhiên; mọi rung động của trời đất hay cỏ cây đều hiện lên cùng chàng trong mối liên lạc hết sức gắn bó.

Hòa làm một nên Gộc Tre Già cũng nghĩ mình là trời, là đất, là cỏ, là muông, là thú, là chim, là cú, là cá, là mú… mà chẳng khi nào chàng có phân biệt gì, cứ như một thằng lú.

Chàng có thể hát cùng dòng suối, múa cùng rắn rết, vờn cùng sư tử, suy tư cùng biển, chiếu rọi cùng ánh sáng… mà như thế thì mới gọi là sáng láng.

Cứ thế ngày tháng trôi đi, Gộc Tre già chẳng vui chẳng buồn, chẳng mong chẳng muốn, chẳng sao; chàng chẳng đòi hỏi mà cũng chẳng từ chối gì, không biết như thế thì là Địa Ngục hay Thiên Đường nữa.

Thế nhưng, có một tha lực bỗng dưng muốn can thiệp vào đời sống của Gộc Tre Già, đó là Chúa Giời; Chúa Giời thấy thương chàng buồn, cô đơn, hiu quạnh, vô tri, vô cảm… thế mới nhảm!

Vì quả thực Gộc Tre Già đâu có cảm thấy những điều đó, rõ chó; chàng hồn nhiên hiển hiện trên đời này mà, có thấy bi kịch nào đâu.

Bất cứ kẻ nào có thế lực cũng thường tự cho mình cái quyền được can thiệp vào cuộc đời kẻ khác, thế mới ác; cái ác ấy lại thường nhân danh lòng thương, sự thi ân, ban phát, sủng ái, chân lý, nghĩ mà tức cái sinh thực khí.

Chúa Giời thương Gộc Tre Già nên đã ban phát cho ông một nữ nhân, ôi thật là một tình thương bao la; chắc là chàng sẽ phải cảm ơn Ngài đến cả triệu lần.

Thuở ấy ẩm ướt và nhiều bùn đất; và Chúa Giời đã lấy đất bùn trong một cái hang hình chữ thập mang tên Huyền Tẫn Thập Tự Cốc mà nặn ra một người đàn bà.

Ngài bèn đặt tên nàng là Hang Chữ Thập; lúc còn là cục đất bùn nàng nhoe nhoét và hôi thối, từ thân thể nàng mùi tanh khẳm bốc lên lan ra vạn dặm.

Khác với Gộc Tre Già chỉ cần thổi linh hồn đúng một lần, Chúa Giời đã thổi vào cục đất bùn mang tên Hang Chữ Thập ấy rất nhiều lần mà không hiểu sao chẳng thấy nó thành người gì cả.

Thật là kỳ lạ, bùn vẫn hoàn bùn; Ngài nghĩ chắc là tại nó hôi quá.

Để khử mùi cho Hang Chữ Thập đích thân Chúa Giời đã ăn cắp tinh túy của hàng vạn loài hoa; rồi Ngài hãm hương hoa vào cái cục đất bùn ấy.

Quả nhiên thân thể nó cũng bắt đầu thơm tho và tỏa ra một mùi hương đặc sắc vô cùng hấp dẫn; cái mà về sau người ta gọi là mùi hương đàn bà.

Đổi lại, chỉ qua một hai đêm hàng vạn loài hoa quý đã tuyệt chủng vì không còn con ong cái bướm nào thèm đến chơi; chẳng có ai làm môi giới thụ phấn nên các loài hoa bị cướp mất mùi ấy cứ bất lực rục xuống mà chết vì vô sinh, thật là thảm hại.

Thế là vừa mới ra đời đàn bà đã cướp hết mọi hương hoa trên đời; và suốt cả cuộc đời bọn chúng bao giờ cũng thích hái hoa và được tặng hoa, làm khổ muôn loài cây cỏ.

Hoa là bộ phận sinh dục của loài cây; nên càng hiểu đàn bà là giống nghiện sinh thực khí.

Thân thể Hang Chữ Thập bấy giờ đã tỏa mùi hấp dẫn nhưng chẳng hiểu sao vẫn chửa thành người; Chúa Giời bèn giao cấu với nó với kỳ vọng nóng bỏng, mong rằng nó sẽ bật dậy thốt lên những tiếng rên hưng phấn.

Nhưng không, bùn vẫn hoàn bùn; Hang Chữ Thập vẫn nằm yên như xác chết.

Cái hành vi này của Chúa Giời vẫn di truyền đến đàn đàn lớp lớp con cháu sau này khi mà sẽ có ngày càng nhiều các ông bố hãm hiếp con gái mình; ừ, thì cũng bõ công bố mày chăm bón, để thằng chó chết cha vêu chú váo nào đó nó xơi thì có phí công ông không.

Thậm chí khi loài người vào thời kỳ Đại Lộn, nhất là sau khi đã bay theo các phi đạn đạp chân lên hãm hiếp Hằng Nga, sẽ có những vụ các ông bố hãm hiếp giam cầm con gái mình hàng mấy chục năm trong hầm tối ở các nước được cho là rất văn minh như Áo, Anh, Ý, Ỵ, Y Pha Nho…

Họ thật xứng đáng là hậu duệ hùng hậu của Chúa Giời vậy; nói vậy nhưng ý thì chưa chắc đã phải vậy.

Khi tẩn xong con gái Chúa Giời thấy đâu đó trên thân thể mình bốc lên mùi hoi hoi; ngửi khắp thì Chúa Giời phát hiện thấy cái mùi ấy bốc ra từ dương cụ của mình, Ngài lấy làm lạ quá.

Hóa ra Ngài mới hãm hương được cho làn da bên ngoài của Hang Chữ Thập mà thôi, còn máu me xương thịt của nó thì vẫn tanh tưởi mùi bùn ao tù lắng đọng.

Còn cái cửa thân thể của nó thì do có tiếp xúc nhiều ít với quá trình hãm hương nên bớt tanh, nhưng mùi bùn từ bên trong vẫn có khi bốc ra ngùn ngụt rồi ám vào.

Sau này có nhiều đứa đàn bà vẫn còn bị ám rất nặng; xin mọi người đừng lấy làm lạ mà xị nhặng.

Vì thế, trong những lúc ẩm tửu say sưa cùng các thần linh, Chúa Giời hay bị chế nhạo là đã tạo ra cái giống Người không được hoàn thiện; có lúc bực quá Chúa Giời đã gắt ầm lên:

“Tiên sư các ông các bà! Lồn mà không thối thì đâu còn gọi là lồn!”

Đấy là Ngài nói lúc say, còn khi tỉnh thì sao; khi ấy Ngài thú thực rằng Ngài đã tạo ra loài người trong lúc rất xỉn nên cái loài ấy mới ẩm ương như thế.

Âu thì cũng tại số mệnh chúng nó vậy, vì chúng không hoàn thiện; biết thế nên sau này Chúa Giời mới đầy hết bọn Người xuống Địa Đường để rèn luyện và phấn đấu cho ngày càng được tinh tiến, hoàn thiện hơn.

Nghe chừng Chúa Giời lúc nào cũng có lý; nếu không thì đã không gọi là Chúa Giời.

Sau vụ đó Chúa Giời lại tiếp tục công cuộc cải tạo và phát triển cái sinh vật mới mà mình đã “trót dại” đẻ ra; Ngài tiếp tục phải nhờ đến muông thú tăng viện.

Hòng táo cấp đẩy nhanh quá trình thành người cho Hang Chữ Thập, Ngài đã vội vã gọi bọn mãnh thú như sư tử, hổ, báo đến phả hồn cho nó.

Có vẻ cũng khá là công dụng vì cục đất bùn ấy đã lần đầu vùng lên dữ dội, như một mãnh thú đích thực: Hang Chữ Thập gầm gừ nhe nanh múa vuốt khiến Chúa Giời cũng sợ đến vãi đái ra cả thiên y.

Ngài thở dài, nghĩ rằng đưa con này đến cho Gộc Tre Già thì chỉ trong nháy mắt là nó đã gặm xong đầu lâu đứa con trai đầu lòng của Ngài; chẳng nhẽ đến Chúa Giời mà cũng bất lực trong việc tạo ra đàn bà hay sao?

Nhưng cũng vì có cái sự kiện này mà chúng ta mới biết được bản chất uyên nguyên (sau cái bản nguyên cội rễ là đất bùn) của đàn bà: họ dữ tợn như sư tử, hổ, báo.

Sau đó Ngài nhờ đến lũ gian manh, uyển chuyển biến hóa hơn; và chồn, cáo, mèo, rắn, rết đã được gọi đến.

Và vì thế chúng ta mới biết cái bản thể kế tiếp của đàn bà: gian manh và lắm vía (chín cái lận) như cáo như chồn, uyển chuyển mềm mại mưu ma như mèo và hiểm độc âm u như rắn rết.

Tất cả những sự kết hợp đó chưa thể làm Chúa Giời ưng ý được; vì Hang Chữ Thập vẫn chưa ra cái hồn Người nên Chúa Giời suy nghĩ lung lắm.

Ngài không hiểu cái công nghệ lò đúc tuyệt hảo của Ngài có trục trặc gì mà loay hoay mãi không làm ra nổi một con đàn bà; chẳng nhẽ Chúa Giời cũng không hoàn hảo nốt?

Ngài cứ dằn vặt là tại sao Ngài có thể sinh ra thằng Gộc Tre Già dễ dàng thuận lợi như thế; dễ như thể thò tay vào túi gãi đồ, thế mà… ái chà chà…

Ngài nghĩ đi nghĩ lại thì mới nhớ ra rằng Ngài đã làm ra tên Gộc Tre Già từ gốc tre đực chứ không phải bùn đất; vậy là đã khác nhau hoàn toàn về nguyên vật liệu, à ra thế!

“Eureka! Eureka! Eureka!..” Chúa Giời thét lên vang trời trong căn phòng tắm dát vàng sáng choang chiếu rọi khắp muôn phương; rồi cứ thế Ngài nhồng nhỗng phi thân xông ra Huyền Tẫn Thập Tự Cốc để tìm Hang Chữ Thập.

Đến nơi Ngài trông thấy một con thú hoang dã đen đúa lúc thì gầm gừ, lúc thì hú hét; hết chạy vào hang sục tung bùn lên nó lại chạy ra ngoài vờn quanh bụi tre đực cà cà cửa mình vào gai tre, mồm miệng không ngơi nghỉ.

Thế là chúng ta lại biết thêm một bản chất nữa của đàn bà; họ nói lắm vì họ không biết phải làm gì, họ nghĩ bằng mồm.

Chính bụi tre đực này đây, Chúa Giời đã từng lấy gốc tre ở bụi này làm ra tên Gộc Tre Già; bụi tre cũng là nơi lưu giữ hồn vía của hắn.

Ngay lập tức Chúa Giời bẻ một khúc tre đực cắm thẳng vào bụng con bé Hang Chữ Thập; nó rú lên một tiếng vang lừng rồi ngã lăn ra bất tỉnh.

Ngay lúc Chúa Giời bẻ tre thì ở một nơi trong không gian đa chiều Gộc Tre Già bỗng thấy mình đau buốt xé bên ngực trái và một lỗ thủng hiện ra, máu chẩy ra ào ào; linh cảm cho hắn biết rằng đã có một sự kiện kinh khiếp nào đó vừa xẩy ra mà hắn không biết là chuyện gì.

Hắn có biết đâu khoảnh khắc bi thương của đời hắn trên đất Địa Đường này đã bắt đầu; và, khi người đàn bà đầu tiên ra đời thì người đàn ông đã phải đổ máu và mất đi một phần thân thể.

Nhìn con Hang Chữ Thập ngất xỉu mà lòng dạ Chúa Giời trào lên những sung sướng; vừa hô hấp nhân tạo cho nó Ngài vừa thổi linh hồn Người vào đoạn tre đực cắm trong bụng nó.

Mặt Chúa Giời nhăn nhó vì chưa bao giờ Ngài phải quá vất vả với cái việc thổi linh hồn như vậy; Ngài đã làm cái nghề thổi này lâu lắm, Ngài đã thổi cho hàng tỷ hàng tỷ sinh linh, thế mà giờ đây Ngài mới biết linh hồn Người chỉ đậu vào tre đực.

Vậy thì bà con ơi, những nơi nào có nhiều tre đực phải chăng là những nơi hứa hẹn có nhiều nhân phẩm hơn cả; đừng có chặt phá lung tung đấy nhá.

Chỉ cần rẹt rẹt 30 giây là Hang Chữ Thập tỉnh lại, khi nàng mở mắt ra thì thấy mồm miệng Chúa Giời đang hà hơi thổi ngạt cho nàng; còn dương cụ của Ngài thì đang ở trong âm cụ của nàng.

Hang Chữ Thập nở nụ cười tươi rói và thấy thinh thích nên cứ mút mãi mồm miệng Chúa Giời; nàng không hề biết cái miệng ấy đã thổi ra cả thế giới.

Xong rồi nàng lại thấy Ngài đang tồng ngồng với một vật lủng lẳng hay hay nên nàng lại chu mỏ ra ngậm lấy cái vật ấy, thấy ngon lành vô cùng; sự việc cho chúng ta biết một bằng chứng về việc đàn bà rất thích mút.

Quỷ Sứ: Điều đó giải thích cho việc sau này trên thế gian người ta có rất nhiều thứ để cho các nàng mút như là kem, kẹo, kakao, kắc kớ, KFC (“finger lickin’ good”/ “vị ngon trên từng ngón tay”) hay… ặc ặc

Giờ đã đẻ được đứa con khôn nên Chúa Giời cứ mát trôn rười rượi; từ khoảnh khắc mặc khải được thổi hồn Người đứa con gái khoái mút trở nên nhí nhảnh vô cùng.

Bao nhiêu bản lãnh của sư tử, hổ, báo, chồn, cáo, mèo, chó, rắn, rết giờ đây có cái mặt nạ được gọi là “Hồn Người”; như thể nàng có được một bộ cánh đẹp che lên thân thể loang lổ vằn vện để bước chân vào một xã hội có tên “xã hội loài Người”.

Có cái áo khoác mang nhãn hiệu “Hồn Người” Hang Chữ Thập tự tin hẳn lên; nàng không còn cau có, lồng lộn như trước.

Trước khi giao nàng cho Gộc Tre Già thì cũng phải có công tác chuẩn bị; Chúa Giời giữ nàng lại bên mình một thời gian để huấn luyện một số bài vở cơ bản cho sự nghiệp làm người đàn bà đầu tiên của thế giới.

Công cuộc huấn luyện ấy cho đến nay vẫn ở trong vòng bí mật nên chưa ai được biết; vì thế cho đến mãi mai sau thì nhân loại cũng khó mà hiểu hết được đàn bà.

Vì thế khi có điều gì không hiểu thì Con Người thường nói là “chỉ có Chúa mới biết”; như một cách tư biện cho cái “bất khả tri”, cái nhận thức hữu hạn của Con Người.

Chúa Giời quả là cũng rất hay giữ những bí mật của mình như giữ mả tổ; phải chăng Ngài cũng rất sợ gặp phải những bọn có ý định lật tẩy hay lật đổ?

Khi bàn giao Hang Chữ Thập cho Gộc Tre Già vào một ngày đẹp trời Chúa Giời có trao cho nàng ba cái túi; Ngài bảo khi nào cần kíp thì hẵng mở ra xem, cấm được tò mò giở ra không phải lúc nếu không sẽ bị trừng phạt đích đáng.

“Về với Gộc Tre Già”, những từ ấy cứ vang lên làm tăng sự hồi hộp trong nàng; vừa gặp chàng thì nàng đã thấy vui nhưng không biết là tại làm sao.

Ngày ấy, ngày ấy dẫu có xa xôi… từ ngày ấy hai đứa cứ nhồng nhỗng bên nhau.

Hai kẻ ấy cứ say sưa sống dước mặt trời trong khu vườn rộng mênh mông bát ngát, ngó đâu cũng thấy bát ngát mênh mông; Chúa Giời thấy họ có đôi chắc là lấy làm vui lắm.

Trong cuộc sống say sưa hồn nhiên ấy Hang Chữ Thập cứ luôn thấy thiếu thốn một cái gì đó; nhưng nàng không thể nghĩ ra được nó là cái gì.

Trong khu vườn họ sống có nhiều loại quả cây thơm ngon; họ cứ thế mà hái ăn no nê chê chán.

Một hôm họ thấy một cái cây sum suê có rất nhiều trái, quả ăn rất ngon, vừa giòn vừa dai; thấy bở họ cứ ăn mãi, cho đến khi chỉ còn một quả to nhất, trông ngon nhất, ở tít trên ngọn cây cao.

Cái tính rắn trong nàng trỗi dậy thúc giục nàng hái cái quả cuối cùng đó; hồn rắn lửa như muốn nói với nàng rằng ăn được cái quả đó sẽ có cả thế giới với sức mạnh vô biên, có thể địch được với cả quyền năng siêu phàm của Chúa Giời.

Nàng thấy kích thích vô chừng nên bảo Gộc Tre Già trèo lên hái ăn; chàng nghe lời nàng cố gắng hết sức trèo lên, mãi rồi cũng tới nơi thì thấy bên quả này có ghi những chữ sau:

Đây là quả TÁO DAI để làm giống, cấm ăn! Nếu không, sẽ bị Chúa Giời ra đòn trừng phạt đầy xuống Địa Ngục ném vào vạc dầu thực vật tẩm bột chiên giòn.

Gộc Tre Già vô cùng kinh hãi, trèo xuống kể lể sự tình cho nàng rõ; thế nhưng sự cấm đoán càng làm cho nàng bị kích thích mãnh liệt hơn, càng muốn được ăn quả Táo Dai đó.

Sực nhớ tới những chiếc túi của Chúa Giời nàng quyết mở ra một cái xem sao; vừa mới mở ra thì nàng đã thấy bên trong đó là linh hồn của rắn, hồn rắn nói:

“Đã muốn là phải làm, thích ăn thì hãy ăn đi; ăn xong các ngươi sẽ có được sức mạnh ngang bằng với Chúa Giời thì còn sợ gì nữa.”

Vậy là linh cảm của nàng đã đúng; nàng vội bảo chàng trèo lên hái Táo Dai xuống và hai đứa đã nhai ngấu nghiến vì ngon.

Chưa nuốt xong miếng Táo Dai cuối cùng hai đứa đã thấy rạo rực khác thường; ngay tức thì Hang Chữ Thập thấy trên mình Gộc Tre Già có một thứ lủng lẳng như của Chúa Giời, cái mà giờ làm nàng nhận ra là bấy lâu nàng đã nhớ thương nó da diết mà không biết là nhớ thương cái gì.

Lập tức nàng bỏ dở miếng Táo Dai cuối cùng cho chàng ăn và lao vào mút lấy mút để cái lủng lẳng kia; chàng thấy rất nhột nhưng thống khoái lắm lắm, cái cảm giác này chàng chưa biết bao giờ.

Quả Táo Dai như thể cũng cho chàng những sức mạnh và hiểu biết kỳ lạ; mặc dù chưa ai dậy chàng bao giờ nhưng ngay tắp lự chàng đã biết vung dương vật lên mà giao cấu với nàng, đúng lúc đúng chỗ.

Làm việc như mãnh thú như chim muông xong, con cáo trong bản thể của nàng xúi giục Hồn Người của nàng hãy nhân danh Tình Yêu mà nói rằng: “Chàng ơi, vậy là chúng ta đã đi vào trong nhau bằng đôi cánh của Tình Yêu!”

Chàng mỉm cười: “Chúng ta sẽ là của nhau mãi mãi, mãi mãi!”

Nàng tiếp lời: “Em sẽ đẻ cho chàng những đứa con thật tuyệt!”

Đến đây xin có câu rằng:

Thế là chàng đã xuất tinh,

Thế là nàng đã cửa mình ướt nhem.

Mút dái khoái hơn mút kem,

Mút bím cực khoái đã thèm chiêm bao.

Nhưng rồi hậu quả ra sao…

Hậu quả ra sao thì chưa rõ nhưng có điều rất lạ là trên quả Táo Dai thì đề “cấm ăn” mà sao trong túi thì Chúa Giời lại mượn hồn rắn để cài sẵn mật lệnh “hãy ăn đi”?

Phải chăng Chúa Giời cũng là loài tiền hậu bất nhất?

Hay là Ngài ra nhiều mệnh lệnh và quy định quá nên lâu ngày hóa quên; các loại luật cứ giẫm đạp lên nhau không biết đường nào mà lần.

Hay là Ngài cố tình sinh sự như thế để dễ bề đưa bọn Người vào chỗ chết; cho Ngài được thuận tay kiểm soát chúng một cách dễ dàng và tinh xảo.

Mọi khả năng đều có thể xẩy ra cả, vì mọi bất công trên đời này chỉ riêng loài Người thì đâu đủ sức mà gây ra; nếu không có bàn tay can thiệp thô bỉ của Chúa Giời thì chắc là…

Tôi biết rằng: trên đời có nhiều điển tích về người đàn ông và người đàn bà đầu tiên; nhưng, từ tận tâm khảm mình tôi tin chắc rằng chỉ có sử thi Yang Yăng Yâng của xứ Bù A Đà La là bản đầy đủ và thấu đáo nhất. Nhiều người công nhận linh cảm của tôi rất tốt; tôi cũng công nhận như vậy. Xin mọi người hãy tin ở tôi; nhưng mà, nếu không tin thì cũng chả sao.

 

[còn tiếp]

 

* Trích tiểu thuyết Những kênh bão người / Channels of the Homo Storms (chưa xuất bản)

bài đã đăng của Đặng Thân


1 bình luận »

Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)