Trang chính » Sáng Tác, Trích đoạn tiểu thuyết Email bài này

Núi Đoạn Sông Lìa – phần 17

clip_image002

Dưng không núi đoạn sông lìa

Đêm ôm gối lạnh, ngày chia ngắn dài.

(tiếp theo)

9.

Ngôi nhà gạch, lợp ngói đỏ trổ đốm rêu xanh. Mảnh vườn phía trước rộ vàng vạn thọ, mấy bụi bông trang xum xoe trắng đỏ. Năm ấy, giữa tháng chạp, chậu hoàng mai đơm nụ bụ bẫm. Hồ nước tráng xi-măng trồng súng, lượn lờ cá chép bông. Trước hàng ba chưng bức tượng nam nhân bằng đồng đen, ngó dạng không phải người mình, khoả thân ngồi nâng cằm khắc khoải. Lan can hiên nhà uốn lượn hoa văn lạ mắt, lủng lẳng cách khoảng liễn lan hồ điệp rũ lá. Hàng cửa sổ chấn song xanh, cánh lá sách mở rộng. Một vuông bàn ghế mây đan, bừa bộn ấm tách chưa dọn.

Chú Năm Tự lẽo đẽo theo sau bà Bông, có cảm tưởng như vừa lạc qua cảnh giới khác. Bóng lá điệp tây rắc đốm lối đi trải gạch vụn, rung theo gió mỏng. Bầu không khí nơi đây nhuốm vẻ khác lạ, như không thuộc về phong thổ hoang dã xứ phù sa. Mọi thứ đều sạch sẽ, ngăn nắp gần như quan liêu.

Bước chân chú Năm còn bỡ ngỡ thì từ nhà trong, một con chó xám xồng xộc chạy ra, quấn chân bà Bông, quẫy đuôi đón mừng. Bà Bông khom lưng vuốt đầu con thú, miệng lẩm bẩm thứ ngôn ngữ lạ tai. Theo sau, trên hàng ba đất dậm lót gạch bông, một người đàn ông cao lớn, bận mỗi cái quần ka-ki cụt màu ve chai, đứng chắp tay sau lưng, vẻ mặt dửng dưng.

Con chó nhận ra người lạ sau lưng chủ, dừng đuôi quẫy, ngước đầu lăm le. Bà Bông thủ thỉ:

- Giỏi, giỏi nghe Su!

Rồi bà quay lại:

- Chú tên gì?

- Thưa bà chủ, tôi thứ Năm, tên Tự.

Bà Bông vỗ đầu con chó, lớn tiếng:

- Su, đi chỗ khác chơi!

Con thú hiểu ý, chạy lại ngồi cúp tai bên cạnh người đàn ông. Bà Bông biểu chú Năm đứng đó, bước lên hàng ba. Hai người áp má chào nhau, ba cái liên tiếp. Bà Bông cao giọng:

- Chú trai nầy coi bộ được, ông liệu chỉ chú làm việc! Chồng tôi, mơ-xừ Bông.

Chú Năm Tự trịnh trọng khum tay, cúi đầu:

- Chào ông chủ.

Ông Bông phất tay, cặp mắt xanh lơ lom lom không chớp:

- Được rồi, chú theo tôi.

Ông chồng nói tiếng Việt cũng sành sõi không thua vợ, nhưng dấu giọng còn cứng. Ông dẫn chú Năm bọc theo hông nhà. Phía sau là vườn cây ăn trái. Đã qua mùa vú sữa, đang độ cam quít trĩu trái xanh. Hàng dừa non nghiêng lá bên rạch nước ốm, chó phóng qua được. Cạnh đó là chòi lá, vách ván sơ sài. Một lối đi lót miểng sành ngoằn ngoèo len giữa vườn cây, nối liền chòi lá với ngôi nhà chính.

Ông Bông ra dấu biểu con chó ngồi xuống, đẩy cửa chòi lá, ngó chú Năm, tia mắt trong veo, vô cảm:

- Chỗ ngủ của chú. Mùng mền giường chiếu có đủ, còn thiếu mấy thứ, tôi đưa sau. Không biết ma-đàm chỉ biểu chú tới đâu rồi?

- Chưa gì hết, thưa ông.

Lần đầu tiên chú Năm Tự thấy người đàn ông nhếch môi như cười:

- Từ rày trở đi chú kêu tôi là mơ-xừ, còn bả là ma-đàm.

Chú Năm tối tăm mặt mũi, không hiểu. Ông Bông phất tay xuề xoà:

- Cách xưng hô theo lối Tây chúng tôi là như vậy, chú tập cho thạo. Cũng như tôi với bả học nói tiếng An nam vậy mà, thét rồi quen. Công việc nhà nầy, chú phụ tôi làm vườn, cho chó ăn, lo chèo ghe đưa ma-đàm đi công chuyện, mỗi đầu tháng chú theo tôi đi thâu tiền mấy miếng đất miệt rừng Tràm, rừng Đước. Dạo rày nghe nói ở đó có mòi chộn rộn. Thấy tôi đi một mình, họ dễ ngươi. Chuyện cơm nước đã có bà Bảy với ma-đàm lo liệu. Vợ chồng tôi trả chú mỗi tháng ba đồng rưỡi. Cuối năm, chú làm việc giỏi, có thưởng. Vải may quần áo mỗi năm được cấp một lần. Tết, cho chú về quê ba bữa … Ờ, ờ, chú biết bắn súng không?

Chú Năm Tự lúng túng:

- Thưa mơ … mơ-xừ, không biết.

Ông Bông chậc lưỡi:

- Từ từ rồi tôi dạy cho, để bữa nào tôi với chú đi săn vịt trời. Có người chèo ghe đi theo, tôi vững bụng.

Chú Năm "dạ, dạ". Bây giờ chú mới có dịp ngó kỹ bộ mặt ông chủ mới. Bấy lâu nay chú chỉ nghe người khác kể lại chớ chưa tận mắt thấy ông tây bà đầm nào. Thiên hạ kháo nhau, tây tà cao lớn, lông rậm như dã nhơn, mắt trong như mắt mèo, mũi nhọn như mỏ ác là, tóc màu hung màu vàng quăn queo, mồi hôi nặng mùi, bản tính bóc lột, hung tợn khó lường … Ông tây nầy cao hơn chú Năm Tự gần cái đầu. Tóc râu bắp túm đuôi gà. Màu mắt trong xanh, hàng mi vàng hoe như lông mi heo lang. Quai hàm ửng xanh chân râu. Ngực tay nạm lông nâu lợt. Nước da ông ăn nắng màu đồng. Cổ đeo sợi dây da móc chữ thập đồng đen, không rõ biểu tượng gì. Tia mắt, nét mặt, cử chỉ ông lạt lẽo, không ăn khớp với âm giọng lơ lớ nhưng nhiệt thành, dân dã.

- Có điều tôi dặn trước, chú tới ăn ở, giúp việc cho vợ chồng tôi, cần cái gì thì hỏi, chớ không được ăn cắp. Vợ chồng tôi ghét nhứt cái bản tánh nầy của người An nam. Bắt được, đuổi liền.

Ông Bông đổi giọng chặt chịa. Chú Năm Tự cúi mặt, tiếng "dạ" trôi tuột xuống cổ họng khô khốc. Ông Bông đặt tay lên vai chú, hạ giọng:

- Chú muốn hỏi thêm gì không?

- Thưa mơ-xừ, không.

- Bông, bông … Tốt, tốt lắm. Để tôi kêu bà Bảy ra cho chú biết mặt.

Người đàn bà dưng cơm bưng nước cho ông bà Bông già ngắt, nhỏ choắt, lưng khom, da dẻ quắt queo như trái héo. Bà đứng thẳng, chỉ ngấp nghé ngang vai chú Năm. Dáng người thô kệch vậy mà khuôn mặt nhăn nheo của người đàn bà toát ra vẻ nhân hậu lạ thường. Ngó bà, chú Năm không khỏi liên tưởng bà nội, bà ngoại và những bà già đất ruộng quê mùa, ngọt bùi chân chất như khoai sắn. Không biết đã lần nào ông bà Bông chạnh nghĩ tới thân phận họ, những người An nam cùng đinh đã hơn nửa thế kỷ sống kiếp tôi mọi dưới ách cai trị khắc nghiệt của thực dân? Nhiều khi chú tự hỏi, họ là ai, từ đâu tới đây với mục đích gì vậy?

Ban trưa, dọn bàn rửa chén xong xuôi, bà Bảy thường xốc xếch chân đất ra chòi lá, chuyện vãn bông lơn với chú Năm Tự cho đỡ buồn. Có hôm bà đem cho chú miếng bánh bông lan, có bữa là lát bánh mì nướng trét bơ mặn, rắc đường cát trắng. Bà cười móm mém, đưa cho chú, thúc hối:

- Ăn đi, ăn đi Năm!

Chú Năm ưa lắm, toàn mấy món lạ miệng. Trong lúc chú ngốn nghiến, bà Bảy mon men hỏi thăm gia cảnh, quê quán. Biết chú trôi sông lạc chợ tới đây một mình, bà chép miệng thương cảm. Rồi bà tự động kể cho chú nghe nghe thân thế: Chồng chết sớm, để lại cho bà năm con nheo nhóc. Bà ở vậy, đắp đúm nuôi chúng khôn lớn. Rồi, hai đứa ra tỉnh làm ăn, đứa làm dâu về quê chồng, đứa theo kháng chiến năm thì mười hoạ mới lén lút tạt ngang giữa khuya. Sót lại cạnh bà độc nhất thằng con trai gần bốn chục tuổi, tính tình bặm trợn, chẳng thiết tha chi chuyện vợ chồng. Bữa nọ, sáng dậy, nó nói khuya qua chiêm bao thấy có người báo ứng, biểu xuất gia. Vài tháng sau nó cương quyết vô chùa xuống tóc làm tỳ kheo. Bà khóc dữ lắm, nhưng ai cũng nói, nhà có người đi tu là điềm phước, nên mừng chớ sao lại khóc? Từ từ rồi bà nguôi ngoai, ngày ngày ra ngồi chùm nhúm với đám thanh niên cạnh gốc cổ thụ chợ làng. Trời xui đất khiến sao, có bà đầm nói sõi tiếng Việt tới dắt bà về. Từ đó tới nay, lẩm nhẩm đã gần chục năm hơn.

Kể tới đó, bà Bảy chép miệng, xuống giọng tuồng:

- Đời tui năm chìm bảy nổi như nước chảy huê trôi, Năm à!

Chú Năm hớp ngụm nước trà nguội tráng miệng, gật gù:

- Tình cảnh của bà với lại của tui, so ra, đâu khác gì nhau.

Bà Bảy lắc đầu nguây nguẩy:

- Khác chớ. Chú còn trẻ, đời còn dài.

Chú Năm phụ hoạ:

- Ối, đời người ai cũng một lần, bà Bảy ơi. Còn con cái của bà, từ đạo đó có đứa nào về thăm không vậy?

Bà Bảy phủi tay, cười mếu máo:

- Cái lũ trời đánh thánh vật, đã không tới thăm thì thôi, còn rêu rao với bà con dòng họ là tui làm mọi cho Tây, chú Năm nó nghe có lọt lỗ tai hông chớ? Thứ con bất hiếu, diều tha quạ mổ!

Ngó vẻ mặt nghe cách nói, chú Năm Tự biết bà Bảy chỉ buồn giận ngoài bụng vậy thôi. Chú dò chừng:

- Còn ông bà chủ đây, bà Bảy thấy họ ăn ở có nhơn đức không?

Khuôn mặt bà già thoáng chốc đổi sắc, lãng đãng nét gì như linh hiển. Bà Bảy trật tay áo, chỉ cho chú Năm thấy xâu chuỗi hột đen thín quấn mấy lượt cổ tay ốm xanh, móc tòn teng chữ thập nâu gỗ bóng. Chú Năm sực nhớ tới sợi dây đeo ở cổ ông Bông, cũng móc dấu thập y hệt vậy.

- Xâu chuỗi nầy là của ổng bả cho, khi thấy tui rầu lo chuyện nhơn tình thế sự. Họ dạy tui lần chuỗi đọc kinh mỗi tối, tin ở phép tối cao sanh ra hết thảy mọi vật, thấy hết biết hết, thưởng phạt công bằng. Tui làm theo, thấy bớt lo hơn trước. Họ còn cho tui tượng thờ, hình treo vách để ngó theo mà đọc kinh. Nói thiệt, tui chưa thấy ai đẹp đẽ, thánh thiện cho bằng. Bữa nào tui đưa cho chú coi!

Chú Năm lật gật, nhận ra câu trả lời của bà Bảy không ăn nhập gì tới câu hỏi. Trong thinh không trưa lắng, từ nhà chính văng vẳng tiếng đồng hồ quả lắc gióng bốn hồi nhạc, thủng thỉnh ba tiếng trong veo. Đã tới giờ bà Bảy sửa soạn cữ trà chiều, còn chú Năm Tự phải lo tưới cây, dọn dẹp vườn tược.

(còn tiếp)

bài đã đăng của Ngô Nguyên Dũng


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)