Trang chính » Biên Khảo, Giới thiệu tác giả, Giới thiệu tác phẩm Email bài này

Tưởng Niệm Thi Sĩ Đơn Phương

0 bình luận ♦ 7.01.2013

  

 

 DonPhuong

 

 

Đơn Phương và Hàn Mạc Tử là đồng tác giả của tác phẩm Quần Tiên Hội, tập kịch thơ 5 hồi. Theo như ông Trần Thanh Mại, Hàn Mạc Tử viết được hai hồi đầu, đã bị lạc mất, chỉ còn lưu lại 41 câu và đề cương vở kịch. Nguyên lúc đầu, thi sĩ họ Hàn sáng tác kịch thơ trên để tặng một độc giả ái mộ thơ của ông có tên là Thương Thương. Viết mới xong hai hồi thì thể theo yêu cầu của gia đình cô gái đó, ông ngưng không viết nữa. Đơn Phương khởi thảo viết tiếp phần sau, bắt đầu từ năm 1972; kết thúc vào câu thứ 700, năm 1988:

Cánh hoa Huyền Thoại rơi đầy Nhân Gian.

Nhờ sự giúp đỡ quý báu của nhiều người, đến năm 1991, tập thơ được chính thức ra mắt độc giả. Một hành trình dài ngót 20 năm! Hai mươi năm ấy, biết bao nhiêu ngọt bùi, thống thiết đã xảy ra trong quá trình sống và viết của nhà thơ.

Đã có nhiều nhà nghiên cứu, nhà thơ, nhà văn đánh giá cao tác phẩm này, như quý ông Chế Lan Viên, Võ Long Tê, Sơn Nam, Tô Kiều Ngân, Lê Minh Quốc, Lê Anh Đủ…Ông Võ Long Tê nhận xét:

Đơn Phương có đủ thiện chí và tài năng hóa thân nhập thần thành một Hàn Mạc Tử .… Đơn Phương tỏ ra sở đắc chất thơ Hàn Mạc Tử .… Nồng độ chất thơ Hàn Mạc Tử chúng ta thường gặp trong những lúc Đơn Phương lập lại từ ngữ và phong cách của Hàn và ngay cả trong những lúc Đơn Phương hứng bút sáng tạo.

Được như vậy không phải là việc dễ dàng, nếu như không có tài năng và quan trọng hơn, có sự đồng điệu sâu sắc giữa hai người, về ý nghĩ, tình cảm, xuất phát từ cảnh ngộ và số phận rất đặc biệt của họ. Để biết rõ hơn hoàn cảnh ra đời của tác phẩm, trình bày đôi nét về chân dung của nhà thơ Đơn Phương thiết nghĩ là điều cần thiết.

Đơn Phương tên thật là Trần Hồng Phương, tên cha mẹ gọi lúc thơ ấu là Cu Re, sanh năm Canh Thìn, 1940 (trong giấy tờ ghi là 1945), tại An Nhơn Tây, Hóc Môn, tỉnh Gia Định. Ngay từ lúc còn thơ ấu, ông đã sớm chịu nhiều bất hạnh hơn bao trẻ khác, như ông đã tâm sự trong một bài thơ về hoàn cảnh gia đình của mình. Ba ông mất sớm:

Từ ấu thời cửa ải đoạn trường qua
Chưa bao giờ uống trọn mật tình cha

(“Nhớ mẹ hiền”)

Mẹ tảo tần nuôi ba đứa con, hai trai một gái, ông là người con giữa. Chẳng bao lâu sau, bà qua đời vì bệnh lao trong nhà thương thí, khi ấy ông vừa mới 9 tuổi đầu (năm 1949):

Mẹ gượng nắm bức tranh đời run rẩy
Bằng vòng tay lau sậy buổi tàn đông
Rồi một ngày tàn úa lớp thu phong
Cửa viện thí nửa đời hồng gục ngã!

(“Nhớ mẹ hiền”)

Không còn ai nuôi nấng, ông vào ở nhờ cô nhi viện tỉnh Tây Ninh. Con chim non, gọi mẹ, bằng tiếng kêu ai oán lặng thầm:

Ngần ấy thu rồi … mỗi dạo chiều mưa
Nhớ thương mẹ nói chi vừa bằng khóc…!

(“Nhớ mẹ hiền”)

Đó chỉ là những giọt lệ long lanh đầu đời, chiếc cầu đoạn trường mà ông phải đi qua, vẫn còn dài thăm thẳm phía trước. Năm 1958, bước vào lứa tuổi thanh xuân đẹp nhất của đời người, một ngày nọ ông sững sờ biết mình đã bị mắc bệnh cùi, thời đó, đây là chứng bệnh hiểm ác tàn độc nhất trên thế gian này. Quá đau khổ, tuyệt vọng, và không muốn bị người đời kinh hãi hay gây thêm phiền lụy cho ai khác, nên chàng trai có cái tên rất đẹp là Trần Hồng Phương trốn trại bỏ đi lang thang vất vưởng trong rừng, trong núi, chịu đựng lạnh lẽo, đói khát. Nhân viên và bạn bè trong cô nhi viện túa ra tìm ông khắp nơi nhưng không gặp. Sau khoảng hai tuần, trong lúc kiệt sức nằm bên một gốc cây ven rừng thì may mắn có một người bà con xa tình cờ đi ngang nhìn thấy. Người chú khuyên răn dỗ dành rồi đưa ông về ở tạm nhà một người bà con cách đó chừng 20 cây số. Càng ngày, bệnh càng phát tác và gây cho ông những cơn đau nhức kinh người. Cuối năm 1960, ông vào điều trị tại nhà thương Chợ Quán. Đến khoảng tháng 4-1961, ông cùng 12 bệnh nhân khác được chuyển viện tới trại cùi Bến Sắn, nay thuộc huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Nơi này thưở đó nằm giữa một vùng rừng rú, vành đai chiến khu D, nhà cửa thưa thớt, đường xá rất khó đi. Ông Nguyễn Văn Xê, người cận kề với Hàn Mặc Tử trong những ngày tháng cuối đời tại trại phong Quy Hòa cũng vào Bến Sắn cùng ngày này. Ông Xê là tác giả của tập hồi ký viết về sinh hoạt của Hàn Mặc Tử ở Qui Hòa từ ngày mới vào cho đến lúc lâm chung. Thời gian kể lại những chuyện này, bệnh tật đã tước mất đi của ông Xê cánh tay trái và hai cẳng chân. Trời xanh ưa cảnh trớ trêu, bấy nhiêu chưa đủ vừa lòng, nên cuối đời, ông Xê phải gánh thêm chứng mù và điếc, bất hạnh lại trùm lên bất hạnh.

Đời một đứa bé mồ côi cha mẹ phải sống trong cảnh cô đơn, lòng ngập tràn thương nhớ và biết bao nỗi niềm có lẽ đã thôi thúc trong lòng Đơn Phương bao điều muốn tỏ bày, và thi ca là phương tiện giúp cho ông làm điều ấy. Nghe kể rằng ông tập tành làm thơ từ lúc mới 13 tuổi. Tại Bến Sắn, gặp được nhiều thi nhân đồng cảnh ngộ, tâm trạng như nhau, hồn thơ của ông như mạch nước ngầm tích tụ lâu ngày, giờ đến lúc khơi nguồn tuôn chảy, và tự đây, chảy cuồn cuộn mãi không ngừng cho đến cuối cuộc đời của ông.

Năm 1966, Đơn Phương và một vài thân hữu nữa trong trại phong như Hải Vân Nhi, Huyền Diệp Tử…đã thành lập thi văn đoàn Nguồn Thương, được sự hưởng ứng, tham gia của nhiều cây bút ở các trại phong khác. Diễn đàn của nhóm là tạp chí Nguồn Thương, xuất bản từ 1971 đến 1975. Sau 75, toàn bộ tạp chí này bị đốt, nay nếu còn, may ra chắc chỉ còn một ít trong sưu tập riêng của vài người nào đó.

Từ năm 1967, ông có thơ đăng báo. Thi tập Thương Quê, được nhà văn Sơn Nam ân cần giới thiệu trên nhật báo Tia Sáng và được diễn ngâm nhiều lần trong chương trình thi văn Mây Tần do nhà thơ Kiên Giang phụ trách trên đài phát thanh Sài Gòn. Năm 1971, tập thơ đầu tay này của ông được xuất bản.

Đầu năm 1972, khi đang ở Bến Sắn, một chân của ông phải bị cắt vì vết thương quá nặng. Trong quãng thời gian đau đớn tột cùng từ thể xác đến tinh thần, ông đọc quyển Hàn Mạc Tử của Trần Thanh Mại, và khởi lên ước nguyện viết tiếp để hoàn thành tập thơ Quần Tiên Hội của thi sĩ họ Hàn.

Công việc chưa xong, ông lại rời trại về Tây Ninh. Trong một chuyến đi Quy Hòa, chân còn lại của ông cũng tiếp tục bị giải phẫu. Ông sống đời du lữ, rày đây mai đó, khi thì bán vé số, khi làm kiếp ăn xin, mãi đến năm 1981 thì về ở trại phong Thanh Bình, Thủ Đức. Vào lúc này ông đã bị tàn phế nặng nề, hai chân thì cụt, còn các ngón tay của ông cứ co rút lại dần, chỉ còn lại hai cái cùi tay nhỏ xíu. Không còn cầm viết được nữa, ông phải lấy dây cột viết vào tay. Bị bệnh tật hành hạ, đau đớn và khổ sở không thể nào tả xiết, thế nhưng nguồn thơ thì lại không ngừng tuôn trào trong tâm tưởng của một nhà thơ. Ngày ấy, với Đơn Phương:

Cười ra Thơ và khóc cũng ra Thơ…

(“Ẩn số cuộc đời”)

Ông trú ngụ trong một căn chòi lá nhỏ bên bờ rạch nhìn ra sông Thủ Thiêm. Ông đặt tên cho tổ ấm này là Lều Gió Ven Sông. Căn chòi nhỏ, nhưng gió mát lồng lộng bốn mùa. Tại đó, ban ngày ông đi bán vé số, lúc rảnh, là nơi để tụ hội bạn bè đến đàm luận thi văn. Và cũng từ đây, ông tiếp tục viết tiếp Quần Tiên Hội, mấy năm sau thì hoàn thành .

Có lần đang đi bán vé số, vài ý thơ tâm đắc hiện lên trong đầu, sợ rằng không ghi chép thì sẽ quên. Anh hỏi mượn cây bút của cô gái bán thuốc lá bên đường, có lẽ nhìn thấy thân hình cùi đày dị dạng của anh, cô ấy sợ nên từ chối. May mắn lúc đó có một người đàn ông đang ngồi trên chiếc xe Honda ở gần, nghe vậy thì lấy viết ra, lại thấy tay anh không còn nguyên vẹn, nên đề nghị chép giúp. Anh đọc, người đàn ông tốt bụng đó ghi:

Tình chàng không giống Trương Quân Thụy
Có nghĩa trinh nguyên thấm tận hồn
Chảy mãi trong tim nguồn Thánh Ý
Hoa lòng không đậu xứ Tân Hôn

(câu 679-682, Quần Tiên Hội)

Có khi, ý thơ dồn dập, ông viết miệt mài cả đêm, tới sáng thì kiệt sức không đi bán vé số nổi nữa, phải đem trả lại cho đại lý.

Tệ hơn, có lần lo cắm cúi viết những dòng thơ đang nhảy múa trong đầu, mâm vé số của anh bị kẻ bất lương rinh mất, vậy là hết sạch cả vốn. Bù lại, trong tình cảnh éo le ấy, ông đã viết ra được cả hàng chục câu thơ mượt mà óng ả như những dòng tơ:

Nương nương ơi! Đàn lòng ra thơm nức
Lửa hồng thơ hừng hực đốt tâm trung
Ta nắn nót phím đàn căng tột bực
Tình đôi ta đến tuyệt mức vô cùng…

Một nghệ sĩ nhận xét về Đơn Phương rất có tình lý:

Đối với Quần Tiên Hội của Đơn Phương, chúng tôi nghĩ rằng hãy khoan nói đến chuyện thơ hay hay dở, chỉ nghĩ đến hình ảnh một người mắc bệnh nan y, ngồi trong cái chòi lá trông ra bờ sông cô quạnh, cố gắng kẹp cây bút bằng những ngón tay cùi cụt để chép đi chép lại những vần thơ, điều đó cũng đủ để chúng ta thương cảm và trân trọng.

(Tô Kiều Ngân)

Sau khi tập thơ Quần Tiên Hội làm lễ ra mắt, được văn giới đánh giá rất cao, nhiều bài viết giới thiệu, bình luận tập thơ được đăng tải trên báo và tạp chí. Đơn Phương vẫn tiếp tục làm nghề ăn xin.

Ta là người hành khất
Độc hành hứng sương bay
Hóa thân tiền kiếp lưu đày
Sanh ra thừa kế chuỗi ngày buồn thiu
Thước nào đo được tiếng kêu
Từ trong thương tích dập dìu thổi ra

(“Lễ Dâng,” Xuân 2008)

Một hôm, khi anh đang ngồi ở ven đường phố chợ, có người phụ nữ thay vì cho tiền như những người khác, lại bỏ vào chiếc nón lá của anh một bó rau muống. Thấy lạ, anh ngước mặt nhìn. Người phụ nữ đó bất giác thốt lên:

“Ủa! Thi sĩ Đơn Phương đây mà!”

Sự kiện xảy ra bất ngờ trong thoáng chốc làm Đơn Phương ngẫm nghĩ nhiều, ông quyết định từ giã nghiệp ăn xin. Năm 1992, ông trở về ẩn náu tại Bến Sắn và từ đó ít khi rời nơi đây để đi đâu. Ông được cấp cho căn nhà nhỏ nằm ven suối. Con suối róc rách chảy giữa hai hàng cây rừng rợp bóng mát ấy với ông là Khe Ngọc, còn căn nhà nhỏ đơn sơ, là Tịnh Bần Viên. Ghi nhớ ngày dọn đến Tịnh Bần Viên, 21-01-1996, ông có bài thơ “Mái Ấm Tiêu Dao”:

Gió xuống, chiều trăng rụng suối mơ
Nắng sâu, lún tận nẻo xa mờ
Khói luồn mấy khúc xa xăm nhạt
Một bức hoàng hôn, tranh rất thơ

….

Sớm vui hớp gió bên Khe Ngọc
Chiều mượn liềm trăng gọt bớt sầu

(“Vu Vơ 4”)

Một bài khác:

Lều trăng chưa dọn sạch
Lời thơ buồn như mây
Thưa không! Ảo ảnh chan đầy
Mắt em sầu rụng ngõ gầy buồn tênh!

(“Dại quá! Xin chừa!”)

Đời sống nơi đây phải chịu nhiều khó khăn, thiếu thốn, nhưng nhờ cuộc sống giản dị, đạm bạc nên những ngày tháng được hưởng cảnh an cư nơi đây lại là những ngày êm đềm hạnh phúc nhất và giúp ông sáng tác sung mãn hơn hết.

Ngoài thi ca, một niềm an ủi lớn với ông là vợ con. Chuyện tình của ông cũng ly kỳ như cuộc đời ông. Vào một buổi tối cuối thu năm 1972, khi ông đang trên hè phố thì có người dẫn đến một cô gái tuổi độ 20, trên mặt có vài vết bầm. Người quen nọ nhờ ông dẫn cô gái đáng thương đó đi trốn sự truy bắt hãm hại của bọn du đãng cầu Ông Lãnh. Ông đưa cô gái gởi ở nhờ nhà một người thân cũ ở Tây Ninh, còn mình thì tiếp tục làm gã hành khất giữa gió mưa nắng bụi của cuộc đời. Cảm mối ân tình này, cô gái không muốn rời xa anh nữa, tự nguyện làm chiếc bóng của anh cho đến cuối đời. Họ có với nhau hai người con, một gái, một trai. Vợ của ông tên Liên, nhưng để kỷ niệm mối lương duyên buổi đầu gặp gỡ, ông đặt cho cô cái tên mới rất thơ mộng là Song Thu. Người quen, thường chỉ gọi là Thu. Ông làm thơ tặng Thu:

Gió Thu mơn tóc em dài
Đong đưa hoa nắng rụng cài dáng thơ
….

Gánh hương tưới đẫm thư phòng
Tưới luôn hình dáng em trong hồn này

(“Dở dang khó nói đền bù, viết cho nội thê Trịnh Thị Liên một ngày chớm sang Thu” (2000))

Nhìn cảnh người vợ đảm đang tận tụy chăm sóc cho chồng, ông làm nhiều câu thơ thắm thiết nghĩa tình cho nàng:

Mỗi khi mắt khói chui vào
Em ơi, giữ kẻo thơ trào tràn mi

Ngoài người vợ hiền chung thủy sắt son, một vài bóng hồng đi qua cuộc đời cũng thấm sâu hình ảnh của họ trong tâm hồn và thi ca của ông. Tâm hồn của một thi nhân, dào dạt hồn thơ, thì cũng nồng nàn thủy chung không kém trong tình yêu:

Thấy em từ xứ Chiêm Bao
Quét gom nắng hạ phơi màu nhớ thương

(“Xin chừa cho anh”)

Ta chết đi, nhưng mảnh hồn yêu dấu
Theo bước em cho đến vạn đời sau…

(“Rồ dại”)

Mai anh chết, ở bên dòng suối mát
Hồn nhớ em sầu thảm đến muôn đời!

(“Khổ lòng chưa!”)

Điều trái ngang, là sự lo sợ mơ hồ về cái chết lại không đến với ông, nhưng đến với những người mà ông đã yêu, đã nhớ. Những bài thơ sáng tác khi tưởng nhớ họ, Đơn Phương thường viết những dòng đề tặng, đọc chúng thôi, nghe cũng đủ bâng khuâng, như, trong bài “Chúc xuân người dưới mộ”, “Nằm mộng đêm xuân”, “Lưu luyến hồn xưa,” v.v….

Trong bài “Tưởng nhớ Phạm Thị Thu Lan người yêu xưa đã tử nạn trên chuyến xe chiều 1986”:

Còn em dưới mộ có reo vui?
Cạn chén men xuân chắc ngậm ngùi?
Trông nén hương trầm bao khói tỏa
Nhớ thương mờ mịt chẳng tàn nguôi?

Một số bài khác: “Viết cho Nguyễn Thị Băng Giang, một trong những người yêu đã mất”:

Đêm qua nằm ngủ trên đồi
Chiêm bao thấy dáng em ngồi dưới trăng

(“Dấu tích mơ”)

Ta đem mai táng ý thơ buồn
Trong ráng mây chiều lả tả buông
Trong bóng hoàng hôn thưa thớt nắng
Trong hồn ai nhẹ lướt qua truông

(“Ta đem mai táng”)

Nhớ một người con gái nào đó:

Đau thương cứ mọc thêm chồi
Nhớ người con gái bên đồi trăng xưa

Áo trời rách bởi cơn mưa
Hồn tôi rách bởi lưa thưa nắng chiều

(“Chồi đau thương”)

Ngoài những cánh hồng đã sớm dạt trôi theo gió cuốn, Đơn Phương còn có nhiều bài thơ viết cho những người đồng cảnh ngộ với mình đã mất, thể hiện niềm thương cảm sâu xa. Trong một bài thơ, ông ghi: “Tưởng nhớ những người đồng cảnh ngộ hiện nằm trong nghĩa trang Bến Sắn.” Viết cho họ, mà cũng là viết cho chính ông mai sau:

Suốt cuộc đời tàn tạ…khổ bao nhiêu
Khi nằm xuống đìu hiu như lá úa

…….

Kiếp Thi Nhân lệ máu đẫm một thời
Nay được hưởng một khung trời hiu quạnh!

(“Nói chuyện nhau dưới mồ”)

Rời biển khổ, các anh nằm yên đó
Nhờ nắng mưa gọt bỏ mọi niềm đau

….

Bây giờ đây nằm bên nhau san sát
Dưới trăng buồn vẫn tán chuyện vu vơ

(“Chỉ là cát bụi”)

Trong hoàn cảnh bệnh tật hiểm nghèo, đời sống sầu thảm như thế, Đơn Phương đã không ít lần bị ám ảnh và dự cảm đến cái chết của chính ông:

Một mai ta chết thì sao
Trăng, thơ và mộng có cùng vào áo quan?

Để rồi … nếu rủi một mai .…
Xin đem tơ bện hình hài áo quan

Xin dâng kinh hạt một tràng
Xin chôn theo cả trăng vàng cùng ta.

(“Gởi lại mai sau”)

Xin đừng giẫm lá trăng non
Trong đây hồn chữ vẫn còn phất phơ

Sống đem tơ máu mà căng
Chết rồi chỉ có hương trăng canh mồ!

(“Mồ Đơn Phương”)

Càng lớn tuổi, hai mắt của ông cũng càng mờ dần, chữa trị nhiều vẫn không khỏi, thế nhưng ông vẫn tận dụng hơi sức còn lại để tiếp tục sáng tác. Sự nghiệp của ông thật đáng nể, với hàng mấy mươi thi tập, kịch thơ, trường thi. Trường thi của ông, ngắn nhất là 2000 câu, dài thì lên đến cả 4000 như Giao Châu trường hận, Lời ca hoang, Khói cuộn rừng hương, Ngọc đàn thanh, Hận trường ca .…Viết thì quá nhiều, nhưng đáng tiếc là ông không đủ điều kiện để xuất bản thơ của mình, nên ngoài Thương QuêQuần Tiên Hội, ít người có dịp thưởng thức được thơ ông.

Vào tháng 11 năm 2012, Đơn Phương vào nằm điều trị tại khoa nhiễm bệnh viện 512 giường tỉnh Bình Dương vì bệnh viêm phổi. Sau hai tuần, ông lặng lẽ ra đi vĩnh viễn vào khoảng 3 giờ sáng ngày 15 tháng 11, năm 2012, hưởng thọ 72 tuổi. Ông sinh năm Canh Thìn, chết năm Nhâm Thìn, mạng ông là mạng rồng, một kiếp rồng bay lượn trong sấm chớp bão giông mà vẫn hằng nhả ngọc phun châu, đóng góp vào thi đàn nước Việt một thi nghiệp đồ sộ đáng quý.

Đời Đơn Phương và Hàn Mạc Tử có vài điểm trùng hợp kỳ thú. Thi sĩ họ Hàn sinh lúc 8 giờ sáng, ngày 22 tháng 9 năm 1912, mất lúc 3 giờ chiều ngày 11 tháng 11 năm 1940. Ngay năm Hàn Mạc Tử mất, Đơn Phương ra đời. Đơn Phương mất lúc 3 giờ sáng, cũng trong tháng 11. Hàn sinh giờ Thìn, Đơn Phương sinh và mất đều vào năm Thìn. Trong lúc nhiều người đang tưởng niệm 100 năm ngày sinh của Hàn, Đơn Phương trở bệnh nặng, chăm sóc ông là một bệnh nhân ở chung trong trại phong, học trò của ông Nguyễn Văn Xê, kẻ đã chăm sóc cho Hàn Mạc Tử trong những ngày tháng cuối đời.

Hàn thọ 28 tuổi, Đơn Phương thọ 72 tuổi, cộng lại, cả hai có mặt trên cõi đời được đúng 100 năm. Cả hai đều bị hành hạ vô cùng đau đớn khổ sở bởi căn bệnh hiểm ác, nhưng cũng từ đó, họ lại cho ra đời hàng chục ngàn câu thơ đẹp đẽ, lóng lánh như châu ngọc để hiến dâng cuộc đời. Trong một bài tựa cho tác phẩm của mình, Đơn Phương viết:

Tôi làm thơ! Nghĩa là tôi đồng lõa với nỗi thống thiết, bi thương và bất hạnh, nghĩa là phơi bày hết thảy những tế bào sạm đen, bế tắc chẳng còn chu lưu trong huyết quản. Cũng có nghĩa là tôi khờ dại không chung dòng chuyển lưu thoái hóa của luật trời.

Tôi làm thơ! Nghĩa là tôi cưỡng chế toàn bộ lệ lòng, toàn bộ sầu vương, oán giận, cải tạo chúng thành những tràng chuỗi Thơ long lanh, chớp ngợp màu sắc. Vì đau thương hay hạnh phúc, đoàn viên ly biệt, mật đắng hay hương thơm đều là hạt hoa tinh tuyền, đều là nụ thơ triền miên tỏa sáng trong tận đáy lòng người Thơ vĩnh cửu.

(Thơ Đơn Phương, tr.21)

Ông được an táng trong nghĩa trang Bến Sắn, nằm cạnh những người thân quen của ông. Nơi đây ông đã nhiều lần trầm ngâm đứng nhìn, cảm thương, ngẫm nghĩ đến số kiếp bất hạnh đau thương của biết bao người. Trên mộ Đơn Phương có hai tấm bảng ghi lại lời thơ của ông:

Đây không hơi mỹ tửu
Cũng chẳng niềm ly tao
Chỉ có thơ vĩnh cửu
Toát ra từ thương đau

(Thơ Đơn Phương)

Để kết thúc bài viết tưởng niệm Đơn Phương, xin chép lại trọn vẹn một bài thơ của ông, để san sẻ những cảm nghĩ của chính ông, về một ngày khi ông nằm im lặng dưới mộ phần:


MỘT MAI TÔI NẰM XUỐNG

Một mai tôi nằm xuống
Trong vũng đời buồn thiu
Còn ai gom sầu muộn
Dưới cơn mưa ban chiều!

Một mai tôi nằm xuống
Đáy mộ thầm buồn tênh
Dải tơ trời ai cuốn
Lạc loài trôi mông mênh!

Một mai tôi nằm xuống
Cô độc đường thơ bay
Dòng hương trăng cuồn cuộn
Còn ai hốt vào tay!

Một mai tôi nằm xuống
Gởi trọn kiếp sầu hoang
Bàn tay nào nặn uốn
Ý thơ buồn mênh mang!

Một mai tôi nằm xuống
Những giai điệu huyền mơ
Biết còn ai chiều chuộng
Hay lạc loài bơ vơ!

(“Trời chớm sang Thu,” 2008)

 

  HoangAnhtruocmoDonPhuong Hoàng Anh trước mộ Đơn Phương

 

Tác phẩm của Đơn Phương:

-1958-1969: Thương Quê (xb. 1971)

-!989: Quần Tiên Hội (nxb. Văn Nghệ, 1991)

-Thơ Đơn Phương (nxb.Văn Nghệ, 2009)

19 tập thơ: Hành khất ca, Lưu Luyến, Vu Vơ (6 tập), Thương quê .

4 kịch thơ: Lệ trăng, Quần Tiên Hội, Hồn rụng non tiên, Vườn xuân thánh.

8 truyện thơ: (từ 1500 đến 4000 câu): Hận trường ca, Giao Châu trường hận, Máu Thánh vườn hoang, Ngọc đàn thanh, Khói cuộn rừng hương, Máu nhuộm vườn trăng, Thiên tình đất Thủ .

3 tập văn xuôi tổng hợp, và rất nhiều bài thơ rời khác còn nằm trong di cảo của ông. Tại đám tang của ông, người con gái của ông có nói: “Khi gần chết, ba con có dặn rằng, tụi con ít ăn học, chữ nghĩa kém, vì vậy toàn bộ di cảo của ba con hãy giao lại cho các soeur gìn giữ, nếu các bác các chú có cần thì liên hệ với các soeur.”

THAM KHẢO:

-Thơ Đơn Phương (NXB. Văn Nghệ, 2009)

-Ngọc Đàn Thanh (1991)

-Vu Vơ III (1991)

-Những dòng tơ (Nguyễn Đắc Thắng, nxb.Văn Nghệ, 2009)

bài đã đăng của Hoàng Anh


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)