Trang chính » Sáng Tác, Truyện ngắn Email bài này

Chỗ trống dưới ngón tay Phật

 

 

 

Tôi là chỗ trống trong đáy mắt ứ máu của mẹ tôi. Tôi là chỗ trống tím ngát đớn đau trên quê hương tôi. Tôi sinh ra dưới chân núi Đá Bia. Mãi quẩn quanh nơi mình sinh ra, tôi và những người bạn của tôi không siêu thoát được, vĩnh viễn không siêu thoát được, có lẽ vậy.

Bầu trời thẳm xanh nhìn tôi công tâm và thấu hiểu. Ngôi nhà vách ván lộng gió nhìn tôi độ lượng thân thương.

Chiến tranh đẩy cha con tôi về hai phía: Cha tôi đồng hành với số đông còn tôi thì bị bắt quân dịch. Ra khỏi quân trường Đồng Đế với khuôn mặt cháy nắng và mái tóc húi cua, tôi tháp tùng những cuộc hành quân, thi hành những sự vụ lệnh luân đổi quẩn quanh từ bụng Cù Mông đến lưng Đèo Cả, lùng sục châu thổ sông Ba, truy kích từng chiếc mũ tai bèo trong những lùm xương rồng bàn chải dưới chân Chóp Chài, Núi Nhọn.

Bạn bè gọi tôi là “anh hùng nhát gan yếu mật”, là con thỏ to đùng, là thằng lính làm thơ, bắn chỉ thiên thành thạo.

Ác mộng tôi tràn những đêm tiệc máu. Đêm của tôi là những đêm thảng thốt bàng hoàng đau thắt trái tim. Tôi hãi hùng thấy mình đang bò người ra liếm láp máu me, chung quanh tôi xác người la liệt, tay chân đầu mắt nát đứt la liệt, tóc tai ruột phổi vắt vẻo cành gai la liệt… Tâm hồn tôi xói lở ý thức làm người. Đụng trận là điều tôi sợ hãi nhất trong chuỗi ngày bi thiết cõi nhân sinh, nhưng rồi tôi cũng phải giáp mặt, phải giằng xé, phải tự đả thương trái tim mình.

Nheo mắt. Nín thở. Ngón tay tôi ngập ngừng ôm vào cò súng, một dòng điện lạnh chạy dọc sống lưng. Trong vòng ngắm của tôi, đỉnh đầu ruồi đang thẳng hàng với chiếc mũ tai bèo thấp thoáng. Ánh sáng chia tư. Linh hồn tôi chia hai. Một này bản năng tự vệ. Một kia tim máu nghĩa tình.

Nheo mắt. Nín thở. Bắn! Mệnh lệnh siết cò vừa phát ra trong đầu, tôi đã nghe tiếng cười của ba tôi hòa trong tiếng hân hoan trẻ thơ nắc nẻ giòn tan của tôi. Ba cõng tôi trên vai, nâng hai cánh tay tôi giang ra quay vòng, quay vòng. Chúng tôi chơi trò “Bay lên, thần tiên bay lên!” trên mảnh vườn sau nhà. Năm ấy, vườn mai nhà tôi nở muộn, cả một vùng vàng rực, lung linh, mai quê tôi sực nức hương thơm không đâu bằng. Năm ấy… Mẹ tôi nhắc đó là thời điểm tháng ba âm lịch. Năm ấy… hằn nét u buồn quắt quay lên mắt mẹ tôi. Ba tôi đi tập kết. Cuộc tự phân ly của gia đình tôi diễn ra trong lén lút, bí mật, nước mắt cũng dụi dấu thật sâu vào lòng mẹ tôi. Mẹ gánh tôi trên một đầu thúng tròn, đầu kia mấy cục đá cháy đen thui. Tôi nhìn ngược lên mặt mẹ tôi, mắt mẹ đỏ ướt, sa sầm làm cho tôi vô cùng lo sợ. Mắt mẹ tôi đã chết từ dạo đó.

Từ ngày hay tin ba tôi vượt Trường Sơn về lại địa đạo Gò Thì Thùng, nỗi lo sợ càng dâng lên trong tôi mạnh mẽ, mỗi lần thấy xác người chết trận tôi đều nghĩ liệu ai mang khuôn mặt thân thương xa vắng của tôi? Những lúc ấy, tim tôi đập thình thịch, tôi đau thắt tim nhận lỗi về mình và mong cha tôi tha tội cho thằng con bất hiếu.

Nheo mắt. Nín thở. Tôi chợt rút ngón tay ra khỏi cò súng, muốn nấc nghẹn. Một loạt đạn ngược chiều chợt xé roẹt qua đỉnh đầu tôi. Cơ thể tôi đông cứng. Tâm hồn tôi đông cứng. Khoảnh khắc thoát chết gang tấc nhắc tôi sự nghiệt ngã của chiến tranh. Tôi không bắn người, người sẽ bắn tôi. Tôi mường tượng đến những vết nhăn cũng đang kéo dùn trên trán cha tôi với bao đau đớn. Không biết cha có thấy con trai mình bị ép nằm phục sau bụi xương rồng này không? Chiếc mũ tai bèo nào con cũng nghĩ là cha, cha ơi! Tôi vội giật nòng hướng khoảng không, siết cò. Lá rách rụng lã chã. Tôi thở ra nhẹ nhõm cho một lần thoát tội.

Nheo mắt. Nín thở. Nòng súng ngoái đầu nhìn tôi, tia mắt đen lạnh lùng, nó phả vào mặt tôi mùi thuốc khét lẹt như trêu ngươi, mai mỉa. Cái đỉnh đầu ruồi to dần, to dần rồi lao ngược vào mắt tôi như một viên đạn. Tôi giật mình suýt hét lên. Những cú giật mình của tôi đã không qua được đôi mắt cú vọ của tay trung đội trưởng, nó ra lệnh cho tôi bò lên nhập vào nhóm trên, nhóm đỡ đạn. Những lúc tạm yên, vào vị trí gác, tôi nghĩ nhiều đến việc tự đả thương để giải ngũ nhưng rồi tất cả những cơ hội của tôi đều qua nhanh. Có lần tôi đã quấn chiếc mền dù quanh bàn tay phải, chuyển súng lên tay trái, tôi đã dí nòng xuyên qua lớp mền dày, bàn tay phải đã cảm nhận được dòng điện lạnh ngắt sắp phát ra của thương tích, thì ngay lúc ấy tôi được điều động sang vị trí khác. Mãi mãi nó chỉ là ý nghĩ nung nấu trong tôi mà không thực hiện được.

Tôi được điều về đại đội biệt kích đóng quân ở Hòn Ngang. Những cái tên Bắc Lý, Đông Hòa, Tây Hòa, Tân Sơn Định… là những nỗi khiếp hãi làm run chân khụy gối những người mặc áo lính ủi hồ. Một trận đánh ác liệt dọc đường Số Bảy. Sau khi pháo binh từ Củng Sơn dọn đường, những chiếc GMC chở lính đổ xuống xanh cả vạt rừng khô nhưng loay hoay mãi mà không tiến lên được đành phải đánh đến đâu đào chiến hào đến đó, đến chiều, khi gọi trực thăng tiếp viện thì tình hình thay đổi được chút ít. Vừa núp vừa bắn. Có lúc vừa lùi vừa bắn. Hai bên tung hết cỡ hỏa lực vào nhau để chiếm lấy từng bụi xương rồng nhấp nhô, từng tảng đá thụt thò. Tôi chỉ còn con đường lao lên, lao lên để tự vệ với đạn từ bên kia và cả với khẩu côn từ phía sau của thằng trung đội trưởng khét tiếng. Tôi ngoái nhìn xác của thằng bạn tôi vừa đổ gục xuống mà tê dại, điên máu, điên hồn.

- Lên! Thằng nào không lên tao bắn! Ngay sau câu dọa nạt là tiếng súng đanh lạnh bắn ra từ đồng đội, bạn tôi ngã gục, tôi quay lại chỉ kịp nhìn thấy thằng trung đội trưởng thổi phù phù vào nòng khẩu ru-lô rồi đánh tay cho ổ đạn quay rè rè. Meee…ẹ! Đó là tiếng chửi thề đầu tiên trong đời của tôi.

Một trận đánh ác liệt hơn ngay trên đồng lúa Long Tường. Trời khóc. Lúa khóc. Những bờ ruộng khóc. Cánh đồng lúa vàng tan vụn ra dưới những cú vốc tung tàn nhẫn của đạn cối. Lúa ngã rạt, vung vãi. Hương lúa trổ đòng cháy khét. Lúa cũng tan xương nát thịt như người. Lúa cũng tê tái điếng đau như người. Bức tranh tang thương được khắc bằng dày đặc, chật nêm xác những người trai trẻ, tô bằng trăm trăm ngàn ngàn mớ não óc vỡ toang, trắng nhoẹt, đỏ lòm… Một bức tranh đầy âm khí.

Tiếng súng dừng đột ngột như một cuộc hưu chiến đuối rã bất ngờ vô điều kiện. Sự im lặng trước cơn bão hay Việt cộng đã rút thật? Tôi khấp khởi mừng thầm, rời mắt khỏi đỉnh đầu ruồi, gác nòng súng lên một xác chết, tay phải buông khỏi cò, phẩy bớt bùn rồi lau miết lên lưng áo. Tôi chợt thấy sợ, lúc nào đó, có thể khoảnh khắc tới đây thôi, bàn tay này, bàn tay phải vừa phẩy bùn, cũng không lau được nước mắt, mồ hôi cho chính mình nữa. Tôi khẽ nhúch nhích cơ thể, nhúch nhích bộ đồ trận đầy máu và bùn, đưa mắt bao quát cánh đồng. Vài đôi mắt từ đằng kia căng cố nhìn lại, những chiếc nón sắt khẽ lắc lắc ra hiệu. Vẫn án binh bất động.

Chợt thấy nhớ nhà đến nao người, nhớ đến nhũn cả sắt thép. Nhớ như là đang sắp chết đuối giữa bầu trời rỗng không. Không biết mình đang làm gì ở đây và tại sao có cuộc giết chóc khủng khiếp này? Bộ đồ trận đang ngập trong bùn này, cánh chim đại bàng trên tay áo này, những trái lựu đạn giắt đầy thắt lưng này, đôi giày trận bout de shaut ngập bùn này… tại sao nó gắn vào cuộc đời tôi? Tại sao tôi không phải là người nông dân hiền lành chất phát như cha ông bao đời? Tại sao giờ này tôi không được ở nhà sửa lại giàn mướp, sửa lại cái chuồng gà nho nhỏ cho mẹ?

Mẹ tôi tới bữa ăn sẽ nhìn vào chỗ tôi thường ngồi mà thở ra thườn thượt. Ngày tôi bị bắt lính, bị đẩy lên chiếc xe GMC, mẹ ngã xỉu khi thùng xe đóng rầm một tiếng lạnh lùng và chiếc xe chở tôi, chở bạn bè tôi lao vút đi. Chỗ trống ơi, tôi sẽ về, sẽ lấp đầy chỗ đó. Tôi sẽ về cầm lại đôi đũa tre quen thuộc, bữa ăn lại đầm ấm, mẹ sẽ gắp thức ăn cho tôi thật nhiều, sẽ khẽ nhắc tôi không được lật con cá trong dĩa vì người dân biển miền Trung tin như vậy ghe sẽ lật chìm khi giáp làn sóng cả.

Tôi sẽ về ngôi nhà vách ván của mình, sẽ ngắm những sọc nắng từ vách soi vào in trên từng đồ vật; vàng ơi, nâu ơi, xanh ơi, tôi thuộc lòng vị trí của từng mảng màu trong nhà ngay cả khi tôi ngồi lim dim mắt, ngay cả khi tôi đang lồm cồm trên đồng ruộng bầm đỏ máu người này đây. Tôi sẽ về tì tay lên khung cửa sổ không đóng bao giờ của căn phòng riêng tôi, vì nó chỉ là một ô nho nhỏ vuông vuông, nó là con mắt nhìn ra vườn, nhìn những chùm khế ngọt trĩu quả vàng xanh, những “mâm xôi” đơm đầy bông khế tím ngát. Không biết ở nhà giờ này khung cửa sổ ấy có thay tôi ưỡn ngực, căng tai khoan khoái hứng lấy ngọn gió nam non mát rượi mang cả tiếng chuông nhà thờ vang ngân hay không?

Tôi sẽ về, sẽ về! Mẹ chờ con nghen mẹ! Xung quanh con giờ chỉ toàn xác chết, người chưa chết gần nhất cũng nằm tít bờ bên kia đám ruộng. Án binh bất động, chúng con đang chờ lực lượng đến giải vây. Trận địa rộng lắm, đã ba hôm rồi con chỉ ăn vài ngụm gạo sấy, một ít lá ớt quơ vội ở bìa vườn ngang qua. Nội ngày hôm nay không được giải cứu, bọn con sẽ xé đường máu mà chạy. Bạn bè con nằm xuống như rạ, không đếm xuể. Ông Phật quả không nói ngoa, vô thường, sinh diệt vô thường, cái ngón tay của Phật to lớn trên núi Đá Bia đang chỉ về hư vô có phải là một tiên đoán cho ngày tận diệt này không. Con đang gác cây súng lên vồng ngực đã ngừng thở của một anh bạn Việt cộng trẻ măng mà cứ ngỡ bạn ấy nằm ngủ, đôi mắt to khép hờ dưới cặp mày kiếm gần giao nhau mạnh mẽ của bạn ấy làm con xúc động, mong rồi bạn ấy sẽ trở dậy, sẽ về, sẽ lấp đầy nỗi nhớ trong ngôi nhà mình, mẹ bạn ấy chắc mừng đến phát khóc, đến quýnh quíu tay chân… Bà mẹ Việt nào thấy đứa con mình rứt ruột đẻ ra bị tan xương nát thịt mà không quặn đau, mà không tê dại phải không mẹ!?

Bạn ấy ra trận cũng để lại chỗ trống ở nhà như tôi. Một người ra đi mà nhà có biết bao chỗ thành trống vắng? Chỗ trống trong phòng sách của tôi chắc giờ đã phủ bụi, những André Gide, những Jean Paul Sartre, những Rimbaud, Valery… Tôi sẽ về! Sẽ ngồi vào chỗ trống cạnh kệ sách để đọc và lắng nghe những gì có nghĩa, có tình của nhân loại này. Tôi sẽ về với tất cả mọi người, với nồng nàn, âu yếm, với bước lang thang đường quê trưa hè, với giấc mộng chung hực sáng buổi mai. Tôi sẽ về để đọc cho nhàu nhĩ, đọc cho thấm thía Mùa Địa Ngục của Rimbaud:

Tìm thấy lại rồi!
Cái gì? Vĩnh cửu
Đó là biển trộn lẫn
Mặt trời…

Tôi sẽ cất giọng gầm vang như sư tử: “Không có lời ngụy biện nào cho chiến tranh”. Tôi sẽ về gối đầu nằm hàng trăm quyển sách, sẽ ràn rụa yêu thương, sẽ oặn mình nước mắt. Quê hương ơi, ngôi nhà ơi, mẹ ơi, con sẽ về!

Tôi sẽ về! Có chiếc nón ai đó đang mãi đợi tôi, có cái mùi ngọt ngào thơm tho của da thịt ai đó đang đợi chờ cơn mụ mị đắm say của chàng trai mới lớn là tôi!

Tôi sẽ về, chỗ trống ơi!

Và tôi đã về thật. Một viên pháo thổi tung chỗ tôi nằm, thổi cả bùn tơi ra tung tóe. Tôi bay lên trơ trọi, nhẹ thênh. Con đang về nhà đây mẹ! Chỗ trống sẽ được con lấp đầy, vĩnh viễn lấp đầy. Mẹ hãy gọi tên con là Chỗ Trống! Quê hương ơi, người thân ơi, ai đó ơi, hãy gọi tên tôi là Chỗ Trống! Chỗ Trống. Chỗ Trống. Chỗ Trống… Một trong trăm ngàn chỗ trống của cả hai phía không siêu thoát được dưới ngọn núi mang hình ngón tay của Phật, ngọn Đá Bia quê tôi.

 

Phú Yên, 4/2012
N.H

bài đã đăng của Nguyễn Hiệp


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)