Trang chính » Biên Khảo, Phê Bình Email bài này

Cảm Nhận Tiểu Thuyết "Đẻ Sách" của Đỗ Quyên

LTS: Đẻ Sách là một cuốn tiểu thuyết đang thành hình của nhà văn Đỗ Quyên. Có thể gọi Đẻ sách như một Siêu Tiểu Thuyết, tiểu thuyết về cách viết tiểu thuyết, trong đó những nhà văn ăn thịt đồng loại để cho ra tác phẩm.
Xin đọc Chương 1 (Ăn Tim); Chương 2 (Ăn Chân) Phần 1, Phần 2, Phần 3; Chương 4 (Ăn Tay) trên damau.org.

Đọc một tiểu thuyết là một sự làm quen giữa hai con nguời xa lạ- nhà văn và độc giả. Dù cho chấp nhận những lý thuyết rằng nguời đọc cũng góp phần sáng tạo nội dung tác phẩm, ta vẫn phải nhìn nhận rằng chủ yếu “tiểu thuyết tính” (fictionality- thuật ngữ trong tiếng Anh và Việt do tác giả bài này tạm đặt ra) nằm trong mối tương quan, giữa sự chủ động của nhà văn để tuờng thuật lại một trải nghiệm- thực hay ảo – của mình, và sự “dàn dựng” lại trải nghiệm đó bằng ý thức văn học của nguời đọc. Tiểu thuyết tính, do đó, có thể coi như có 3 mức độ: cảm nhận ngôn từ, cảm nhận biểu tuợng và cảm nhận cấu trúc.

Cảm nhận ngôn từ là mức độ thích hợp để thuởng ngọan văn học hiện thực1. Ý tưởng chính của tác phẩm hiện thực có góc độ trực quan; các chất liệu đều lấy thẳng từ thực tế; tính cách văn học của tác phẩm hiện thực phần nhiều nằm ở khả năng trần thuật (narration). Cảm nhận biểu tuợng là mức độ giành cho văn học hiện đại, khi nội dung không còn là quan hệ giữa những nguời và vật, mà là giữa những ý niệm trừu tượng. Ý nghĩa chính của quá trình sáng tạo và tiếp thu này nắm ở trong khả năng liên tưởng phong phú và độc đáo giữa nội dung ẩn dụ và bản thể sự vật theo những cấu trúc của logic Aristotle. Cả nhà văn lẫn nguời đọc đều được an tòan phóng nhiệm sự suy diễn của mình mà không phải xa rời khuôn khổ những quy luật sinh tồn và tỉnh táo của cuộc sống. Hậu hiện đại là phản ứng của một phong trào nhận thấy những khuôn khổ đó quá ngột ngạt và chính là khởi điểm sự trói buộc quan niệm con người. Cái mà hậu hiện đại luôn luôn sáng tạo không hẳn là nội dung, mà là cấu trúc.

Đây là nền văn chương của những ý thức xa lạ – mặc dù có lúc những nguời viết này tuyên bố rằng chính ý thức mà chúng ta quen thuộc, đồng thuận và chung đụng mới là xa lạ với con người- những trạng thái tinh thần lệch lạc, những ảo ảnh vô thức, hoặc những tiếng nói từ các miền đất không có trên bản đồ nền văn minh. Bước qua mỗi tác phẩm là một chuyến đi gập ghềnh, có khi chấn động, đối với tự ngã nguời đọc, đối với tất cả những định chế tinh thần về thực tại, bản chất, và trật tự. Chính vì vậy mà người đọc luôn luôn tự cảm nhận một khuynh hướng tranh cãi và phủ nhận, thậm chí kết án những nội dung và diễn đạt của tác phẩm, và một phản xạ tự nhiên thóai lui về thế giới của những ý nghĩa đồng thuận. Lỗi lầm này người ta đặc biệt tìm thấy ở những nhà bình luận và diễn dịch theo phong cách Marxist và phân tâm học, (tệ hơn, là những người kết hợp cả hai!) với thói quen quy tất cả mọi hiện tuợng -kể cả hiện tượng văn học -về giải thích theo một điều kiện, một mẫu số chung thông dụng với xã hội trí thức. Luận lý của nguời đọc tìm đến thông cảm với luận lý của nguời viết; người ta đọc các hoang tưởng văn học như một phản kháng của lý tính (theo kiểu “Nhật ký người điên” của Lỗ Tấn), không bao giờ xuất hiện ý nghĩ một nguời cầm viết xuất thân từ giới bác học như mình có thể tìm ra một góc độ đối lập hoàn toàn và loại bỏ lý tính. Cái phản xạ thóai lui vô ý thức, cái bản năng tự nhiên rút về những chỗ đặt chân an tòan, là một mối đe dọa làm tổn hại đến tác phẩm và sự thưởng thức mà người đọc thể lọai văn chương hậu hiện đại phải luôn luôn lưu ý.

“Đẻ Sách” từ cái nhìn đầu tiên đã thấy đậm đặc phong vị hậu hiện đại. Nhưng người độc giả, ấm ức vì lỡ bỏ công ra đọc mà không hiểu nổi ý tác giả, dễ bị đưa đẩy đến chỗ dựng nên một cấu trúc logic nhất quán làm khung cho cả tác phẩm. Ví dụ, từ hai cái khái niệm rất uyền chuyển, “Ăn Tim” và “Ăn Chân”, để có sự thông đạt về ngôn ngữ, người đọc đã thông thuộc thế giới biểu tượng bèn “hiểu” ngay rằng chữ “ăn” chính là ẩn dụ về một sự tiêu thụ (consummation), hay thích hợp hơn với công việc của nhà văn, là sự khai thác cảm hứng (hay lợi dụng cảm hứng?). Nhà văn “ăn tim” nghĩa là đào sâu vào, rút rỉa chất liệu từ cảm tình con người; bà luật sư “ăn chân” nghĩa là được gợi hứng từ hành trình của những người di dân… Có thể hình dung 2 chương truyện, hai ý niệm như 2 hạt trên một xâu chuỗi, mà “ăn” là sợi chỉ xuyên suốt, nối liền lại thành một mạch lạc. Cũng vậy, riêng trong chương 1, có thể coi “tim” như là sợi chỉ của chương, là biểu tượng chính, tất cả những chi tiết, những tình tự, những sự vật như núm vú… đều ám dụ về “tim”. Từ sự hỗn độn có dụng ý của tác giả, một thứ mô thức “rõ ràng” và “lớp lang”, một thứ “ý nghĩa” hay “mục đích” được gán ghép vào cho tác phẩm. Và nếu được quyền đóng góp một lời khuyên cho độc giả của ‘Đẻ Sách”, người viết bài này chỉ xin lưu ý đừng nên rơi vào cái bẫy tri thức rất dễ dàng ấy.

Có khi nào ta lắng nghe một cuộc độc thọai được xem là “lảm nhảm” (xin lỗi tác giả Đỗ Quyên vì cách nhập đề này), như từ miệng một người điên, một người say…, hãy lưu ý rằng đó là sự tuôn đổ một mạch tư duy rất riêng tư, không được chọn lọc và “kiểm duyệt” chặt chẽ để khơi gợi sự chú ý và sự đồng tình của người nghe. Dòng ý tưởng đó có một tòan thể tính rất lắt léo và trơn trượt, vì mỗi một khái niệm, một mệnh đề, có thể liền lạc với nhau theo một cách thức riêng biệt không hề lặp lại. Chính vì vậy, người nghe không quen thuộc với phép luận lý thì đánh giá đó là sự phi lý, còn người quen thuộc và có kỹ năng bám theo mạch lý luận thì phàn nàn rằng đó là sự hỗn độn. Nhưng nếu ngôn ngữ là thể hiện thực tế thì chưa hề tồn tại cái thực tế nào trong đó chỉ tồn tại một biến chuyển, một quá trình. Nếu cho rằng phát biểu- bằng lời hay bằng văn tự- là diễn tả những trường hợp và trạng thái tinh thần, thì cũng không khi nào tồn tại một khỏanh khắc tập trung chuyên biệt của ý thức con ngừơi vào một chủ đề, một lộ tuyến suy lý. Vậy nên hiểu sự mạch lạc như một chức năng đời thường/ quan hệ, chức năng thuyết phục và hướng dẫn. Văn học đã từng là một nối dài của chức năng đó; nó đã song hành và đôi khi thay thế sử học, giáo dục và chính trị; nhưng văn học còn có thể và có nhiệm vụ mô tả những góc nhìn bị che dấu bởi những “sự thật”, góc nhìn gần với những người say, người điên, những kẻ đùa cợt, những não trạng hoang sơ, chất phác, hay thần bí… Ngay từ buổi bình minh, trong bất cứ vai trò nào, văn học cũng đã nhìn nhận được rằng cái táo bạo của một người viết đi “lan man”, “chệch đề” đôi lúc, chính là cái làm nên chiều sâu cho một tác phẩm, không để cho chủ đề trở thành thước đo, thành sự kiểm duyệt độc đóan tuyệt đối bó nghẹt trí tưởng tượng. Khi đã vượt qua được cái tập quán củng cố bởi hàng ngàn năm lịch sử của xã hội con người, là đòi hỏi trong mọi trường hợp tính cách dễ chấp nhận của những thông điệp thuyết phục và hướng dẫn, thì người ta mới có thể đi đến chỗ cảm nhận được cái khóai lạc thẩm mỹ khi đọc thơ Bùi Giáng.

“Đẻ Sách” đã “học” được tu từ và kết cấu từ giấc mộng. Ý nghĩa của những biểu tượng chủ như ‘ăn” được thả lỏng lẻo, gần như được dùng trong mỗi lần xuất hiện để chỉ một-hay nhiều- thứ khác nhau. Trong khá nhiều ngữ cảnh, những chữ đó gần như không có ý nghĩa logic, dường như được đặt vào một khoảng trống hay đè lên chỗ một chữ khác trong câu, để làm nổi lên nhịp điệu lặp lại. Thủ pháp “bỏ nghĩa lấy chữ” là một thể nổi bật của ngôn ngữ vô thức, thể hiện một khỏanh khắc khi một biểu tượng do biến động ngẫu nhiên của tinh thần mà nổi trội lên, tập trung một phần lớn sự chú ý của ý thức trong mộng. Vì thế, một số khái niệm, vật thể, hành động… khác bị “hy sinh”, bị đặt ngòai tầm với tạm thời của ý thức mộng, và chỗ đứng của chúng trong mạch lạc tự sự bị chiếm hữu bởi biểu tượng “chủ”. Tính xuyên suốt và tính tòan thể của hình thức này, do đó, giống như một bức hình chụp trung thực một khỏanh khắc của tư tưởng tác giả đang chịu một ấn tượng mạnh mẽ, một ấn tượng bỗng chốc nảy sinh rất vu vơ nhưng cô đọng bằng hình ảnh những yếu tố đang bức thiết và ám ảnh trong dòng đời tác giả.

Hiểu như thế, ta có thể hình dung giữa một giấc mơ, Đỗ Quyên đột ngột bị đánh động bởi một ý niệm mơ hồ, rằng ngôn ngữ của các giác quan, của những kinh nghiệm trần trụi của cuộc đời mà anh (và mọi người) đã sống thật, nhìn tận mắt, sờ tận tay, đã kích thích những căn tính bản năng, là một thực tế gắn bó khắng khít -gần như trùng hợp- với sáng tạo văn nghệ hơn là những ẩn dụ mơ hồ, hoa mỹ và cao quý mà chúng ta thường hãnh diện dùng để tự miêu tả2. Nếu đây là một ý nghĩ hiện đến trong lý trí tỉnh táo, anh có lẽ đã gạt nó qua một bên, tránh không đi sâu vào một vùng đất hiểm nguy và thô thiển; hoặc nếu thật sự tự tin vào khả năng ví von của mình, anh sẽ tự dựng nên một hệ thống chặt chẽ những những tương quan giữa đối tượng vật chất và ý niệm trừu tượng, một hệ thống nhất quán xuyên suốt và chuyển tiếp dọc theo nhiều giai tầng của hiện thực. Ví dụ như “ăn” sẽ đuợc thần thánh hóa lên là sự thưởng thức, là dung hòa tuyệt đối một khách thể, một ý tưởng xa lạ vào con người mình… Nhưng một ấn tượng đến từ giấc mơ có cái may mắn không bị sự sáng suốt của lý trí xói thẳng vào khiến cho nó nhạt màu, lõang vị và mang một sức sống èo uột; giấc mơ không nhớ rằng Đỗ Quyên là một nhà văn, nó chỉ nhìn thấy những con chữ đang quay cuồng xáo trộn trong vô thức của anh, và với cái hăm hở của một đứa trẻ xử dụng một từ mới được mớm cho, nó điền ngay những chữ như “đẻ” và “ăn” vào chỗ của những từ nó không biết, không nhận ra, hoặc đơn giản là không thích.

Tác phẩm của Đỗ Quyên luôn luôn là một trò chơi với sự ngẫu nhiên của chữ nghĩa. Đặc biệt, với “Đẻ Sách”, tiểu thuyết đầu tay, trò chơi đã trở thành một sự đùa nghịch hồn nhiên, kể cả với khía cạnh thân phận người viết đằng sau con chữ. Như Sigmund Freud đã viết “những thủ pháp như cô đọng, đổi chỗ, biểu hiện qua sự phi lý, biểu hiện qua tính trái ngược, biểu hiện gián tiếp…, tất cả ta thấy tham gia vào tạo thành sự trào lộng, lộ rõ một sự tương đồng rất xa với tiến trình của giấc mộng.” Dù ở trong những điều kiện nhân văn nào, lòai người vẫn cần thiết và sáng tạo một truyền thống của motif kẻ đùa giỡn (joker), kẻ bằng cách làm biến dạng hoặc lột trần vỏ bọc của sự thật, hoặc phơi bày ra một khía cạnh khác của thực tế bị che giấu, làm cho con người đánh mất ảo tưởng và quay về một trạng thái tinh thần quân bằng và thiết thực hơn. Joker là một phóng ảnh ra môi trường bên ngòai những trải nghiệm tự thân của vô thức, sự hiểu biết đích thực về bản thân vượt khỏi những ngã chấp tự khóac vào, và nối lại sự liền lạc với vô thức, nền tảng và nguồn gốc của sự sống. Đỗ Quyên viết về nghề nhà văn, cái “thiên chức” thiêng liêng, về những bạn bè mình, những tên tuổi của trào lưu văn học mới, không bằng cái nhìn của một người đang tỉnh táo, nghiêm trang, mang theo từng thước tấc của xã giao, danh vị, mà là của một người đang đùa giỡn, của một tấm kiếng nhà cười bóp méo hết mọi nguyên bản, để tạo thành đường nét của nụ cười. Anh tạo ra những liên tưởng ngang ngược về mọi ý nghĩa, mọi tên gọi, cọ xát cái tao nhã bóng bẩy của thế giới con người với cái thô kệch chân chất của tự nhiên, của bình dân. Cái tên Nguyễn Hưng Quốc nghe cao cả đuợc nôm na thành Hưng Nước; Hà Sỹ Phu đùa giỡn thành Hà Sỹ Nông, v.v. Vì không ai giận tấm gương của nhà cười đã đùa giỡn với hình ảnh của mình, Đỗ Quyên tin rằng không ai sẽ mất lòng khi anh làm cho họ quên đi “cái tôi” trong một phút.

Và cuối cùng, ta cũng thấy những bước nhảy rất gấp của Đỗ Quyên, để lại khỏang trống quá lớn cho trí tưởng tượng người đọc lấp đầy vào. Vẫn biết đó cũng là một phương pháp sáng tác, nhưng có lẽ người viết cũng không nên đòi hỏi người đọc phải thưởng thức chất liệu sống từ ý tưởng của mình, thay vì có một sự bày biện ít nhiều. Tác giả “Đẻ Sách” đã nắm bắt rất thành công bố cục của thể lọai này, trong đó có cách sắp xếp xen kẽ bất cứ ý tưởng nào mọc lên giữa giờ phút chiêm nghiệm, và để cho mỗi ý tưởng tự sống và phát triển thành một mạch tự sự, có thể kéo dài ra mà không bao giờ gặp nhau. Đến lúc đóng lại cuốn tiểu thuyết, người đọc có thể lùi lại và quan sát tòan diện không gian của các mạch tự sự này, như ngắm nhìn những mảnh màu chồng chéo lên nhau trong một bức tranh lập thể. Nhưng ở giai đoạn này, khi mới chỉ có 2 chương đầu được công bố, người đọc có lẽ sẽ khó mà theo dõi được những nhân vật và hòan cảnh gần như vô số của “Đẻ Sách”, nhất là ở một số điểm, khi những ý tưởng như vậy đổ về hơi dồn dập, nhiều mạch dẫn lồng vào mạch khác. Gần như không ai có thể đóan được, dựa trên kinh nghiệm cảm thụ thẩm mỹ thường ngày, tại sao tác giả cố ý để cho chương 2 quá dài, gấp 5-6 lần chương 1. Và sau cùng, tác giả Đỗ Quyên vẫn xử dụng chất liệu quen thuộc cho các công trình và tác phẩm trước của anh, đó là cộng đồng văn nghệ sỹ mà anh quen biết, để xây dựng “Đẻ Sách.” Người đọc không đi lại thường xuyên trong môi trường đó chắc không thể nào đóan ra được những cách chơi chữ của anh. Vì vậy, tôi có cảm giác rằng đây là một tác phẩm rất riêng tư, nhắm vào những người đã hiểu Đỗ Quyên hơn là những người muốn hiểu anh. Trong việc cảm nhận “Đẻ Sách”, tôi có một may mắn mà ít bạn đọc nào có được: là một người bạn của tác giả, nhưng lại không có điều kiện đi lại thường xuyên với anh. Điều kiện thứ nhất giúp tôi hiểu rõ được những thế mạnh của “Đẻ Sách”, điều kiện thứ hai giúp tôi đặt mình vào hòan cảnh bạn đọc thông thường dễ hơn mà nhìn được những khiếm khuyết của nó.


1 Cách phân chia này, cũng như mọi cách phân chia khác trong lĩnh vực văn học, đều rất hạn chế và bất cập. Cần phải nhấn mạnh rẳng các truờng phái/chủ nghĩa không phải đặc thù của một thời kỳ lịch sử, cũng không phải những giai đọan trên chu trình tiến hóa của văn học. Những thuật ngữ ước lệ mà người viết bài này tạm xử dụng chỉ nên hạn chế cho nền văn học trong khỏang 2 thế kỷ vừa qua. Sau cùng, trong bài này, khi độc giả đọc thấy, chẳng hạn, “văn học hiện thực”, xin hiểu là “văn học nghiêng về huớng hiện thực”.

2 Mọi trường phái phủ nhận siêu hình đều có cách diễn tả khác nhau, tùy thuộc vào cung cách tiếp cận, trải nghiệm văn hóa trừu tượng bằng cảm giác vật chất. Ví dụ như mỹ học Trung Hoa cổ: “Bất tri vị ngoại chi vị nhi viết ngã năng độc thư giả.” Không biết đuợc cái mùi vị bên ngoài mùi vị thì không thể đọc sách. (Tư Không Đồ)

bài đã đăng của Trần Thiện Huy


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)
porn ficken russian porn japanese porn watch porn watch sex izle sex izle anal porn tube amateur porn watch