Trang chính » Bàn tròn, Bàn Tròn: Văn Học Nghệ Thuật, Biên Khảo, Tiểu luận Email bài này

Những tiếng nói cộng hưởng[1]

5 bình luận ♦ 25.10.2012

 

 

 

Mặc dù việc phân loại nhà thơ nữ hay nam, đồng tính hay dị tính thường làm tôi có cảm giác nặng nhọc như thể nhìn lại những đồ dùng thừa thãi mà mình đã thiếu tỉnh táo đèo bòng trong một chuyến đi xa, các tác giả nữ vẫn đem lại cho tôi một trải nghiệm đọc thú vị, vừa là trải nghiệm của một người đọc, người viết nữ, vừa của một kẻ không muốn đóng khung sự viết của người nữ vào kinh nghiệm nữ giới với các thiên kiến nằm sẵn trong bản thân mỗi cá thể. Quan sát hình ảnh phản chiếu của người nữ trong thơ các nhà thơ nữ Việt Nam đương đại, ấn tượng chung nổi bật nhất của tôi, nhiều người đã tiếp nối những kinh nghiệm nổi loạn từ quá khứ, thẳng thắn và quyết liệt với lựa chọn: bác bỏ việc người nữ là một đối tượng bị soi, khẳng định chủ thể tự soi chính mình. Những tác giả tôi đề cập ở đây, có thể không phải những nhà thơ (nữ) tôi thích đọc nhất ở khía cạnh niềm vui thẩm mĩ, nhưng là những người bằng việc lựa chọn viết như một cách phô bày kinh nghiệm nữ giới và đòi hỏi sự bình quyền cho nữ giới ở các mức độ khác nhau, tôi thấy ở họ ý thức phản kháng mạnh mẽ với cấu trúc xã hội mang tính trấn áp từ quá khứ tới hiện tại, nỗ lực xây dựng lại hình dung về người nữ cũng như khơi gợi hi vọng về một cộng đồng người viết nữ Việt Nam.

 

* * *

 

Trước hết, thành thực, tôi cảm thấy dễ chịu hẳn khi đi từ thế giới đầy những ý tưởng tham vọng về các vấn đề lớn lao, của đất nước, lịch sử, tình hình chính trị của các nhà thơ nam, ở ấn tượng lớn, để gõ cửa những ngôi nhà nhỏ riêng tư của các nữ thi sĩ hay áp tai vào những bức tường cô quạnh. Đó là một hạnh phúc đơn giản đã đến với tôi, bất kể các tác giả nữ có thuyết phục được tôi bằng nghệ thuật và tư tưởng của họ hay không, thứ hạnh phúc của sự tự do đơn lẻ, đôi khi là sự đơn lẻ quyết đoán đến mức như không ai thâm nhập được – đôi khi tôi gõ cửa, và chỉ nghe vọng lại chính tiếng gõ mơ hồ của mình, đôi khi tôi áp tai vào tường, và tôi chỉ cảm thấy hơi thở của làn rêu quạnh quẽ. Trong những căn phòng riêng của các nhà thơ nữ, chúng ta nghe tiếng la hét, tiếng thét lạ lùng, tiếng đập phá, tiếng tường vỡ, tiếng đá rơi, tiếng khóc, tiếng than thở, tiếng rên rỉ, tiếng cười ngạo nghễ, tiếng gieo mình tuyệt vọng xuống một vực thẳm tưởng tượng… Điều quan trọng hơn cả với tôi, những thế giới riêng tư, bé nhỏ của những cái tôi ấy, ngay cả khi biện giải hay tuyên ngôn, vẫn mạnh về cảm giác và tưởng tượng hơn là trí tuệ và phân tích thông thái, và vì thế, nó gây cảm xúc. Thứ nhãn mác thường được gắn một cách thiếu thuyết phục cho thơ của các nhà thơ nữ là chỉ biểu thị cuộc sống cá nhân chật hẹp, tôi lại nghĩ ở đây có thể tạo ra một sự cộng hưởng mang sức mạnh tập thể, phần nào có thể liên hệ tới ý tưởng mà Carol Hanisch đã làm cho nổi tiếng với bài viết “The Personal Is Political” (1969)[2]. Đầu thiên niên kỉ, dường như có lúc người đọc đã chờ đợi một làn sóng văn chương nữ với những tác giả chứng tỏ các quan niệm cấp tiến lẫn tìm tòi trong nghệ thuật viết, hợp lưu cả trong và ngoài nước, thuộc nhiều thế hệ gối tiếp nhau, có thể kể tới ở hải ngoại Lê Thị Thấm Vân, Lê Thị Huệ, Nguyễn Thị Thanh Bình, Nguyễn Thị Hoàng Bắc, Nguyễn Thị Ngọc Nhung, Trịnh Thanh Thủy, Đặng Thơ Thơ, Đỗ Lê Anhdao, Miên Đáng, Trần Minh Quân…, song song với trong nước là Dư Thị Hoàn, Ý Nhi, Ly Hoàng Ly, Phan Huyền Thư, Nguyễn Thúy Hằng, nhóm thơ nữ Ngựa Trời với Thanh Xuân, Lynh Bacardi, Khương Hà, Phương Lan, Nguyệt Phạm… Một vài người trong số này thể hiện quan điểm nữ quyền khá trực diện với ý thức chính trị mạnh mẽ, như phần nhiều các nhà thơ nữ hải ngoại. Một số khác, chẳng hạn Nguyễn Thúy Hằng, dường như “phi chính trị” với những sáng tác thể nghiệm đầy tưởng tượng và dường như từ chối diễn đạt các thông điệp; nhưng với tôi, những sáng tác của Nguyễn Thúy Hằng và một vài nhà thơ riêng lẻ khác lại rất chính trị ở nỗ lực phá dỡ các bức tường tù ngục bao quanh một cá nhân, và điều này hẳn quan trọng không kém việc phá dỡ các bức tường tù ngục bao quanh một cộng đồng rộng lớn hơn. Vậy thì bằng cách nào, tiếng nói của thân thể, của tưởng tượng, những quan niệm tình yêu, tình dục, sự tự định nghĩa bản thân… vượt qua ý nghĩa riêng tư để trở thành câu chuyện chung của thơ nữ? Bằng cách nào, những cá thể hiện diện lẻ loi cạnh nhau lại khiến chúng ta phản tỉnh về sự trấn áp và nhu cầu chống lại những trấn áp? Trong mối quan hệ quyền lực, giữa phụ nữ và đàn ông, người viết nữ và người viết nam, người viết nữ và ý thức về cấu trúc xã hội có tính trấn áp, người viết nữ và chính bản thân họ,v.v. bằng cách nào trải nghiệm nữ giới, khí chất nữ giới, điều kiện tâm sinh lý, vô thức cộng đồng hay cá nhân… lại làm nên sức sống của ngòi bút nữ? Thành thật, tôi chưa thấy được nhiều sự lên tiếng thật sự độc đáo và hấp dẫn về giới của những cây bút nữ viết tiếng Việt, nhưng tôi tin đã có những tiếng nói quan trọng trong việc phá dỡ định kiến lên người nữ và người nữ trong văn chương Việt Nam giai đoạn vừa qua, cũng là một giai đoạn đang trôi qua.

 

* * *

 

Hình ảnh người phụ nữ phản kháng lại diễn ngôn đực tính, diễn ngôn của chế độ phụ quyền như một gánh nặng quá khứ xuất hiện trong nhiều trang viết nữ với sự bộc trực của ngôn từ và thông điệp thơ. Mặc dù chỉ có bốn tác giả nữ xuất hiện trong một tuyển tập khá đặc sắc 26 nhà thơ Việt đương đại (Nhà xuất bản Tân Thư, Hoa Kỳ, 2001) gồm Nguyễn Thị Hoàng Bắc, Lê Thị Huệ (ngoài nước), Ly Hoàng Ly, Phan Huyền Thư (trong nước), chủ đề cổ xúy cho nữ quyền ở hai tác giả Nguyễn Thị Hoàng Bắc và Lê Thị Huệ vẫn tạo nên một ấn tượng gây hấn. Tôi thích thú với Nguyễn Thị Hoàng Bắc vì giọng điệu riêng biệt, hài hước lẫn đau xót, khinh bạc và thấu hiểu, nhạo báng mà không cao giọng, sẵn sàng tấn công mà vẫn có vẻ gì đó thơ mộng.

 

Nghinh hôn

thình lình
tiếng trống nghinh hôn vang lên
một hồi trống trận
đã đến giờ rước dâu rồi sao
sơn cùng thủy tận
tôi sẽ làm gì với thằng người đàn ông ấy

nó sẽ làm gì tôi
tiếng trống nghinh hôn
thùng thùng trống trận
như lời mụ giả làm mai mối nói
mai này
đời hai con sẽ rồi kết nối
tóc tơ bền vững
sát cánh chung lưng
đứng
trên cùng một mặt trận
tôi và thằng người hình nhân ấy
tiếng trống dang tay
đối mặt nhìn nhau
so găng thật ngầu

 

Ở đây, hình ảnh một lễ đón dâu long trọng, thiêng liêng theo lệ tục truyền thống, hình ảnh tiêu biểu của tôn ti và lễ giáo, kết tụ cả quan niệm tình yêu, hôn nhân trở nên suồng sã thông qua thao tác đổi trường từ vựng: từ ngữ miêu tả cuộc nghinh hôn đồng thời tái hiện một cuộc chiến đấu thực sự, trống nghinh hôn thành trống trận, cảnh thề bồi giao ước được tái hiện như là “trên cùng một mặt trận”… Điểm mấu chốt thay đổi tình thế từ bị động sang chủ động của người nữ là cái nhìn của người nữ với đối tượng: đến cuối bài thơ, “thằng người đàn ông ấy” chỉ còn là “thằng người hình nhân ấy”, một đối tượng có khả năng áp chế (đàn ông) trở thành một hình ảnh thụ động, một bóng ma (hình nhân). Với một bài thơ dường như vui vẻ, Nguyễn Thị Hoàng Bắc một mặt đã lật đổ quan hệ phu – phụ tôn ti bằng cách xác lập quan hệ tay đôi ngang hàng, một mặt lật tẩy hệ thống ngôn từ thường áp bức người nữ từ trong vô thức sử dụng của người viết và người đọc bằng cách nhại lại nó. Một cuộc chiến đấu hẳn sẽ quyết liệt (so găng thật ngầu) nhưng không cao giọng, vì thế, bài thơ, ở một nghĩa khác ánh lên, lại thật thơ mộng.

Ở một bài thơ khác, Nguyễn Thị Hoàng Bắc lật ngược tình thế cho những người phụ nữ vốn bị đóng đinh vào hình ảnh “đàn bà đái không qua ngọn cỏ” bằng một sự tái diễn giải táo bạo hành vi này. Bài thơ Ngọn cỏ dưới đây lần đầu đăng trên tạp chí Hợp Lưu 1997, và đăng lại trong tuyển tập thơ nói trên đã từng là một scaldal về người phụ nữ “đái ra thơ”:

 

Ngọn cỏ

tiếng nước đái
nhỏ giọt
trong bồn cầu tí tách
thứ nước ấm sóng sánh vàng
hổ phách
trong người tôi tuôn ra
phải rồi

tôi là đàn bà
hạng đàn bà đái không qua ngọn cỏ
bây giờ
được ngồi rồi trên bồn cầu chễm chệ

bây giờ
được ngồi rồi trên bồn cầu chễm chệ
tương lai không chừng tôi sẽ
to con mập phệ
tí tách như mưa
ngọn cỏ gió đùa

 

Bài thơ này đem lại cho tôi nhiều cảm xúc: vừa là sự nhạo báng ngạo mạn vừa có gì thật gần gũi, thậm chí trìu mến, vừa thách thức vừa tự khai báo thân phận, giễu cợt lẫn đau xót. Hình ảnh người phụ nữ tự lắng nghe âm thanh tiếng nước đái tí tách, hình dung sắc vàng sóng sánh tuôn ra từ cơ thể mình, tự miêu tả tư thế “chễm chệ” trên bồn cầu của mình, và không chút ngượng ngùng biểu diễn lại thao tác của thân thể đó gây ấn tượng bởi sự đùa bỡn ngang tàng, sự bài bác hài hước và thông minh những nguyên tắc nữ tính thông thường vốn bị trấn áp bởi cái nhìn của nam giới và chính phụ nữ thần phục. Trong cách hiểu của tôi, hứng thú đùa bỡn với sản phẩm bài tiết của cơ thể mình (nước đái), tự quan sát nó và phô bày không gian kín (phòng vệ sinh) ở đây tạo thành một hợp thể hình ảnh và hành vi tiết lộ một dạng cảm xúc phóng túng tự nhiên và niềm vui biểu đạt tự do, rất khác với những cách làm việc với các chất liệu dơ bẩn trong nghệ thuật đương đại để biểu thị những ý tưởng tham vọng và gây sốc hơn, liên tưởng trường hợp Merda d’Artista / Artist’s Shit (Cứt của nghệ sỹ) của Piero Manzoni hay ‘Shit’ Show (Triển lãm ‘Cứt’) của Andres Serrano chẳng hạn. Hình ảnh tưởng tượng phóng đại có tính chất nghịch dị về người phụ nữ trở nên “to con mập phệ”, kết quả của việc ngồi rồi trên bồn cầu, sẽ làm sản sinh ra một dòng nước “tí tách như mưa” có thể đọc như một phúng dụ của sự bất tuân nhưng là với một niềm vui nhẹ nhõm đến ngạc nhiên. Ngoài ra, sẽ không thể hiểu hết sắc thái hài hước của những hình ảnh thơ này nếu không hình dung lại về không gian sinh hoạt truyền thống của người phụ nữ Việt Nam ở nông thôn cũ, khi cái nhà vệ sinh hiện đại chưa xuất hiện, và toilet của họ có thể là giữa cánh đồng – sự riêng tư được thực hiện giữa chốn công, ngược lại với không gian toilet khép kín của cuộc sống hiện đại. Theo mạch liên tưởng này, bài thơ có thể tạo ra những không gian giao tranh lưỡng lự giữa tư và công, truyền thống và hiện đại, văn minh làng xã và văn minh công nghiệp… và sự tự quan sát mình của người nữ ở đây rõ ràng không tách rời với ý thức diễn giải lại quá khứ và không gian của quá khứ. Nếu hiểu tiến trình lột mặt nạ này như một cách thức phản kháng, thì nó là một cuộc tấn công nhiều đích ngắm, trong đó không chỉ cái nhìn nam giới, cấu trúc xã hội mà còn cả không gian sống cũng được diễn giải lại, và xa hơn, nó ngầm diễn giải lại những áp bức gắn chặt trong ngôn ngữ. Việc làm thơ, sự tự tiết lộ thân phận mình trong thơ không phải là một cuộc trị liệu tâm lý cá nhân, mà thành sự kích thích những cú lội ngược dòng ngoạn mục theo ý nghĩa này.

 

* * *

 

Trước khi bàn tiếp một chủ điểm khác của thơ nữ, tôi xin nhắc lại ở đây một điểm bùng nổ tranh luận về nữ quyền trong cộng đồng người viết tiếng Việt năm 2005 liên quan tới việc sử dụng thân thể (nữ giới) trong sáng tác. Một tâm bão có thể là một chuỗi “trò chơi” theo ý của những người chủ trương Tạp Chí Thơ: số Mùa Xuân 2005, chuyên đề “(tôi là) TrungTâm của Vũ Trụ” đã để những cái rốn của 26 nhà thơ (nam, nữ, bất kể giới tính) tự kể chuyện mình, cùng các bài thơ viết tự do về thân thể, song song là mục Đố Vui Có Thưởng trên website Tạp chí Thơ (nay đã ngừng hoạt động), một game cho bạn đọc đoán những nhà thơ “vui vẻ khoe rốn cùng thế giới” bằng cách click chuột vào rốn và nhiều game sử dụng hình ảnh thân thể khác như Gian Hàng Cơ Thể, Những Khung Cổng Chậu, Ngọn Cờ Đào Của Xương Chậu, tạo nên một cuộc nhậu thân thể rầm rộ và gây ra những phản ứng trái chiều.

 

biaTapChiThoXuan2005

 

Cực đoan nhất là phản ứng của một nhóm nữ quyền mang tên Nguyễn Trần Khuyên (gồm Nguyễn Vũ Khuyên và Trần Minh Quân) với bài viết Một nền văn học xây dựng từ Đực và phục vụ cho Đực[3] chia hai luận điểm rất rõ ràng: phản ứng với các sáng tác “duy dương vật” của các cây bút nam trên các diễn đàn Tiền Vệ, Talawas và phản ứng với việc các bút nữ đã tham gia cuộc chơi trên Tạp Chí Thơ cùng các sáng tác của họ như biểu hiện của “Một nền văn học phục vụ cho Đực − Sự thiếu ý thức về văn hoá và nữ quyền của các cây bút nữ”. Trong luận điểm thứ nhất, các tác giả nhóm nữ quyền này đã đưa ra một thống kê: “ tỉ lệ họ sử dụng hình ảnh làm tình, các bộ phận phụ nữ để nói lên vấn đề chính trị, xã hội đến khoảng 70%… Điều nguy hiểm trong công cuộc đòi hỏi tự do và tạo ra cái mới là các ngòi bút nam trực tiếp hạ nhục phụ nữ qua việc biến họ thành những vật đụ, không hơn không kém”. Trong luận điểm thứ hai, nhóm tác giả phân tích hành vi khoe rốn của các tác giả nữ như một biểu hiện của ý thức nữ quyền hời hợt, sập bẫy và lặp lại “truyền thống duy dương vật”. Tiếp đó, nhóm Nguyễn Trần Khuyên mở chiến dịch lấy chữ kí “Chống văn chương miệt thị nữ giới”, yêu cầu Tạp Chí Thơ rút khỏi trang web những hình ảnh lạm dụng thân xác phụ nữ, “phơi bày thân thể phụ nữ như một món hàng để thoả măn dục tính cho đàn ông.”[4] Bỏ qua những xung đột nảy lửa trong quan điểm của các cây bút nam nữ, tôi cho rằng bài viết đã đưa ra những luận điểm sâu sắc có thể tranh luận xa hơn. Đó là một tiếng nói nữ quyền rõ rệt, cùng với những tranh luận được khởi xướng trước và sau đó, như sáng tác của các tác giả nữ trên Tạp Chí Thơ cuối thập niên 1990, chuyên đề Tình yêu, tình dục và phái tính trong văn học của Tạp Chí Việt số 4 đầu năm 2000, chuyên đề Tình yêu và tình dục trong văn chương trên Tiền Vệ, những tranh luận xung quanh nhóm Ngựa Trời, các chuyên đề giới tính của Da Màu…cho thấy sự va chạm giới tính trong sinh hoạt văn chương nói chung. Hiện tượng này dường như khá tương thích với ý tưởng trong bài viết Rethingking the Public Sphere: A Contribution to the Critique of Actually Existing Democracy[5] của Nancy Fraser: từ việc chỉ ra tính chất lý tưởng hóa không gian công tư sản và điểm mù về giới hay tính chất đực tính trong quan niệm về không gian công của Jürgen Habermas, Nancy Fraser đã đề cập tới sự tồn tại các không gian công cạnh tranh của các nhóm bên lề − những nhóm bị loại trừ bởi không gian công chính thức (official public sphere), chẳng hạn như các nhóm phụ nữ mà bà định hình trong thuật ngữ “Counterpublics” (tạm dịch: các nhóm đối-công). Những dang dở trong câu chuyện nữ quyền ở Việt Nam khiến tôi băn khoăn: phải chăng, trong bối cảnh các bức xúc chính trị và nhân quyền nói chung dường như có một sức lan tỏa lớn hơn, tiếng nói của những cá nhân về các vấn đề giới tính, màu da… trở nên thứ yếu hoặc có thể bị diễn giải sai, hoặc khó được đẩy xa hơn?

 

* * *

 

Trở lại với những tác phẩm thơ nữ, có thể nói, sự bùng nổ những tự sự về/của thân thể và chủ đề tình dục như một dạng trải nghiệm và khám phá lại chính mình là một cách thức hiệu quả để đối đầu với sức mạnh trấn áp của những định kiến xã hội. Về mặt nào đó, việc thân thể tự do lên tiếng có thể đọc như một chiến lược văn bản tấn công vào khuôn mẫu của quan niệm về cái đẹp và nữ tính, nổi bật lên cả hai hướng, niềm hân hoan thân thể được phát hiện trở lại và nỗi đau đớn thân thể được tỏ bày. Đôi khi, nó là sự lựa chọn một kiểu thẩm mĩ ít nhiều nghịch dị nhằm đả phá những hình ảnh có tính chất trang trí về người nữ, đả phá việc hưởng thụ/tiêu thụ cái đẹp của người nữ theo sự ưa chuộng của các khách hàng nam giới. Người nữ cảm thấy thế nào khi phơi ra những phần cơ thể bị cấm kị của họ? Niềm vui khám phá và làm chủ thân xác của mình? Sự thẹn thùng? Sự thản nhiên? Hay là cảm giác thách thức của kẻ tranh đấu? Lê Thị Thấm Vân, đã khoe những sợi lông nách một cách hân hoan cùng hình chụp cơ thể mình:

 

Giơ tay[6]

   cám ơn nhà thơ Đỗ Kh.

Tôi đã từng (phải) giơ tay
xin phép
điểm danh
đồng ý
đầu hàng
trình bày ý kiến
cùng nhiều lý do khác,
nữa.
Lúc này tôi (đang) nằm
giơ tay để
lộ những sợi lông
nách mới mọc lún phún của tôi,
thế thôi.

LTTV-GioTay

 

Trang bìa tập thơ Dự báo phi thời tiết (nxb Hội nhà văn, 2006) với hình ảnh năm nhà thơ nữ từng gây sốc thị giác và sau đó, là một trong những nguyên nhân mà cơ quan kiểm duyệt văn hóa đưa ra để thu hồi tập thơ.

 

biaDuBaoPhiThoiTiet

 

Trong bài thơ của Trần Minh Quân, một tác giả trẻ định cư tại Mỹ, câu chuyện dường như hết sức riêng tư, nhỏ bé nhưng đem lại sự xúc động của khám phá, những giọt máu lã đã rơi và tiếng nước nhỏ giọt, hai cá thể trần truồng, yếu đuối mà đầy tràn sức sống của tưởng tượng:

 

Hai đứa kinh nguyệt trần truồng[7]

Trước kỳ kinh nguyệt tới, máu đóng cục lã đã rơi làm tôi lơ đễnh,
hai đứa trần truồng nằm nghe tiếng nước nhỏ giọt trong bồn tắm,
trả lời câu hỏi của một buổi sáng ẩm mốc:
Vâng, thể xác cô ấy là sự chuyển động.
Nó bám lấy cơ hội khi tôi trượt chân
xiết tay tôi lâu hơn lịch sự cho phép,
thông điệp là sự thèm muốn được hôn lên quần áo (vì chúng đang phủ người tôi).
Từ phía sau cô ta thở những dấu hỏi vào tai,
nhưng điều duy nhất lúc ấy tôi hiểu được
là khoảng cách giữa bàn tay tôi và môi cô ấy.
Vâng, toàn thân cô ấy là những sự thèm muốn lạc mất vị trí,
mắt mũi, tay chân, mùi thuốc lá cô ta hút –
chúng bay bổng rồi bám vào tôi.

 

Ở một phía cảm hứng khác, không khai thác hưởng lạc thân thể, Lynh Bacardi thật sự làm tôi ấn tượng với xúc cảm về sự đày đọa thân xác, nỗi đau đớn và tồn tại nghiệt ngã của thân xác, nhất là trong những rối loạn tâm thần:

 

Bẩm sinh

nàng ba mươi tuổi
người đàn bà có vết chàm bên khóe mắt trái
tôi ngửi thấy mùi máu trên thân thể nàng
trời tối nặc mùi ống cống
chiếc kim tiêm cong oặt ẹo dưới gan chân
nàng đi thật chậm xuống thang gác
cái nhìn mù lòa
con đường gắt nắng và tiếng còi hụ
mẹ nàng được phát hiện bị giết trong phòng ngủ
tay cầm con cu giả chạy pin
máu nhỏ xuống bậc thang
nàng ba mươi tuổi

(Trong tập Dự báo phi thời tiết)

 

Ở bài thơ này, bí mật tăm tối của thân xác và sự phơi bày ẩn ức theo một cơ chế ngôn ngữ tàn bạo là cách Lynh Bacardi tấn công bạo liệt vào các thiết chế trấn áp. Ấn tượng về mùi máu trên cơ thể, vết máu trên bậc thang, cái chết của bà mẹ với đồ chơi tình dục trên tay, kim tiêm dưới gan chân… là những dấu hiệu kích động thân xác, đậm đặc chất liệu đô thị, khiến người đọc rùng rợn và thức tỉnh về sự hiện hữu tàn nhẫn của trạng thái phi nhân tính, loạn động vật trong không gian sống thường nhật, mà kẻ chịu đày đọa khủng khiếp nhất chính là đàn bà.

Khai thác bản năng, đẩy cao nhu cầu thân xác khiến việc viết về tình yêu và tình dục trở thành chủ đề thích hợp cho một cái nhìn nhân bản: vừa là cái gì thuộc về con người nói chung, vừa là đặc thù của người nữ, như một nạn nhân của khao khát bị đè nén và như một kẻ đang tìm lại sức sống của chính mình, cái tôi bản năng đam mê của Lê Thị Thấm Vân hay Phương Lan với nồng độ đậm đặc của các ấn tượng tình dục và cảm xúc căng mở có thể là những ví dụ tiêu biểu cho khía cạnh này. Tuy nhiên, tôi muốn dẫn ra đây một tác phẩm viết về tình dục nhưng không gợi cảm giác luyến ái nồng nàn, si mê, mà tục tằn, bạo lực, căng thẳng, phơi bày cái nhìn của những nạn nhân, đồng thời đầy thách thức trong những bi kịch được phát hiện. Xin đọc một bài của Lê Thị Thấm Vân:

 

GIÁ TỰ DO [8]

Đêm trước ngày vượt biển
mẹ thắp nhang lâm râm khấn nguyện
“Lạy trời phù hộ cho con tôi thoát…
thoát công an
thoát tù tội
thoát bầy cá đói mồi
thoát bọn thú dữ mặt sạm, cằm bạnh, mắt trợn trắng dã, nước dãi ứ đầy miệng đang chực chờ ngoài biển khơi.”
Nhưng trời che mắt, bịt tai, ngoảnh mặt.
Con gái tuổi trăng rằm
ba lần bị
chín giống đực xịt tới tấp tinh khí vào âm hộ-hậu môn-mắt-mũi-miệng-tóc-tai-bụng-đùi-ngực…
Thân xác người thiếu nữ
là bữa cỗ ngon cho bầy cá
dưới ánh trăng rằm.

 

Hoàn toàn bộc trực và rõ ràng về thông điệp, bài thơ là một bằng chứng cho thân phận của những cơ thể tha hương. Viết, một cách nào đó là nhằm khơi lại những vết thương của tự do − tôi không biết trải nghiệm quá khứ thực tế của các nhà thơ nữ di dân này − cái giá đắt đỏ của việc đổi lấy tự do ở một phương trời khác, sự chấp nhận chà đạp lên chính thân thể mình. Nhu cầu nhân quyền (tự do) chèn ép nữ quyền (sự bạo dâm phải chịu đựng) khiến cho tư tưởng từ bài thơ này ở vào một tình thế chênh vênh của những trấn áp. Hình ảnh cuối cùng của bài thơ, thân xác thiếu nữ trở thành bữa cỗ ngon của bầy cá dưới trăng rằm đem lại một cảm giác đau xót bạo liệt về sự chà đạp. Sự tái hiện thẳng thừng những kinh nghiệm vượt biên đau đớn của người phụ nữ trong bài thơ này, hay việc sử dụng hệ từ vựng chiến trường như một thao tác giễu nhại ngầm ngôn ngữ thời chiến trong những bài thơ của Nguyễn Thị Hoàng Bắc tôi đã dẫn ra trên kia, cho phép người đọc mở rộng chủ đề nữ quyền trong liên hệ với một chủ đề khác: chuyện quốc gia. Tình thế của những người phụ nữ − nạn nhân ở đây tiết lộ, đặt trong phả hệ của những hình dung có tính chất huyền thoại hóa người phụ nữ với dân tộc, quốc gia, sẽ thấy, phụ nữ không chỉ là nạn nhân của cấu trúc xã hội phụ quyền và các quan niệm gia trưởng truyền thống mà có thể còn là nạn nhân của các diễn ngôn về quốc gia dân tộc, dù vấn đề chiếm đoạt hình ảnh phụ nữ phục vụ cho các diễn ngôn quốc gia hình như chưa được đặt ra với thơ nữ Việt Nam sau chiến tranh.

Nhìn xa hơn một phả hệ của thơ nữ và thơ về người nữ sẽ thấy rõ hơn ý nghĩa phản biện xã hội mạnh mẽ của những hiện tượng thơ đặt kề cạnh nhau này. Một thời gian dài − tất nhiên, bây giờ đó đã là một câu chuyện của quá khứ − thơ của các tác giả nữ trong chiến tranh ở miền Bắc bị đẩy vào điểm mù giới tính. Và cũng chính bởi bị nam hóa hay vô giới tính hóa suốt một thời kì dài này, thơ nữ những năm đầu đổi mới bùng nổ nhu cầu người nữ được nói bằng “giọng nữ” của mình, và họ chấp nhận là người nữ với những bổn phận nữ để được sống với những cảm xúc riêng tư. Thơ sau chiến tranh của nhiều tác giả nữ trưởng thành từ các phong trào cách mạng, phong trào thanh niên xung phong như Lâm Thị Mỹ Dạ, Lê Thị Mây đầy ắp khắc khoải riêng tư về những thân phận đàn bà đi qua chiến tranh, nhu cầu được làm mẹ, làm vợ bình thường, nhu cầu được yêu và khẳng định tình yêu… Không khó nhận thấy dù có những giọng nói phá cách, như người nữ trong thơ Phạm Thị Ngọc Liên “Em muốn giang tay giữa trời mà hét” thì những tiếng nói này chủ yếu vẫn là sự bày tỏ nhu cầu được sống với cảm xúc riêng tư của người nữ trong giới hạn đã phân định và được chấp thuận của những cấu trúc xã hội về giới. Chính thế nên tự sự về nỗi đau tan vỡ của cô gái trong thơ Dư Thị Hoàn vì người tình bất cẩn với thân thể nữ “Sau giây phút êm đềm trên ghế đá, Anh không cài khuy áo ngực cho em” mới thành chuyện động trời! Niềm kiêu hãnh nữ tính, một huyền thoại, của những người nữ chịu đựng áp lực nặng nhọc của lịch sử và số phận, chịu đựng với sự quả cảm thành một ấn tượng dồn nén, sâu xa, xiết chặt, đầy ẩn ức, dằn vặt trong thơ Dư Thị Hoàn, một điểm nhấn khó phai của thơ nữ sau Đổi Mới. Rõ ràng, không có cuộc chiến đấu nào đến từ hư không, và các nhà thơ nữ Việt Nam, trong nước hay hải ngoại đã từng bước nói lên mạnh mẽ tiếng nói của mình. Sự khai thác chất liệu thân thể trong thơ nữ là một hệ quả tất yếu của sự giải phóng tư duy và có một hiệu quả đặc biệt với thơ nữ trong việc khẳng định lại quyền lực, chống ý thức hệ gia trưởng và các diễn ngôn trấn áp đã hằn sâu lên thân thể của người nữ theo những cơ chế tinh vi. Do đó, mặc dù việc phô bày thân thể và viết nhiều về tình dục đến nay không còn là cách hữu hiệu để gây dấu ấn văn chương, nhưng với chủ điểm này, có thể thấy sự chuyển hóa trong cách người nữ tự soi chính mình: từ ý thức được tình cảnh bị trấn áp tới ý thức về giá trị, từ phản biện điều kiện bên ngoài, lật tẩy hiện trạng cấm kị của xã hội và văn chương tới sự phản tư bằng chính cấu trúc cơ thể mình.

 

* * *

 

Như vậy là, tiếp cận từ các chủ đề quan trọng trong thơ nữ, tôi muốn khẳng định ý nghĩa tạo dựng một không gian văn học chung của các tác giả nữ với sự cộng hưởng của những tiếng nói cá nhân về giới. Từ sự tấn công các thông điệp trấn áp của cấu trúc xã hội và các diễn ngôn đực tính thông qua các dạng thức huyền thoại hóa phụ nữ trong quan niệm về nữ tính, cái đẹp, tình yêu, tình dục, hôn nhân… tới tiếng nói tự do của thân thể, những tiếng nói của người nữ Việt Nam, hải ngoại hay trong nước, là nạn nhân và người tranh đấu cùng một lúc, đã gặp gỡ gần như đồng thời với những phong trào phụ nữ tự do và nữ quyền trên thế giới. Trong một cái nhìn phản biện liên tục, giới hạn của các chủ đề và cách thức tiếp cận chủ đề mà tôi phác lại trên kia dường như đã được cảnh giác đâu đó, về khả năng thân thể nữ bị công cụ hóa, hay việc viết về tình dục trở nên một motif khuôn sáo hoặc những thông điệp được trình bày đơn giản… Câu chuyện của người Hồi giáo chống lại cái nhìn phương Tây về cái mạng che mặt của họ một lần nữa nhắc nhở chúng ta cảnh giác với mọi khuôn mẫu tư duy, kể cả những khuôn mẫu của cái gọi là tự do và giải phóng. Tôi hi vọng bài viết này sẽ khơi lại và nối tiếp những câu hỏi đã từng được xới lên trong về văn chương và người viết nữ Việt Nam, đẩy xa hơn những lời kêu gọi đã có, mở rộng hơn những lối đã có người đi và tự do trong những cuộc chơi thể nghiệm nghệ thuật. Một sự giải phóng của tư duy và lối viết có thể đến từ bên trong mỗi cá thể, cuộc đấu tranh bên trong của chính họ với trải nghiệm của cá nhân họ. Thách thức về giá trị văn chương vẫn lửng lơ trước mắt những nhà thơ nữ đang theo đuổi thơ ca, một thách thức bắt nguồn từ sự trông đợi của độc giả cùng ý thức tự định vị mình một cách bình đẳng. Tôi vẫn nghĩ, các nhà thơ nữ, những tiếng nói cá nhân và tự do bây giờ vẫn là những gì đáng tin cậy và trông đợi, hơn là sự hài lòng hay an ổn. Họ thật sự có một không gian riêng, chừng như nhỏ bé, nhưng đầy sức thẩm thấu và cộng hưởng; bài thơ của Miên Đáng dưới đây có thể nói hộ tôi niềm yêu mến những không gian riêng này.

 

Nhỏ bé

Không Gian Riêng này nhỏ bé. Em cũng nhỏ bé.
Quyển sách này nhỏ bé. Em cũng nhỏ bé.
Chú chuột này nhỏ bé. Em cũng nhỏ bé.
Hơi ấm này nhỏ bé. Em cũng nhỏ bé.
Con người nhỏ bé. Em cũng nhỏ bé.
Chàng nhỏ bé, nhỏ bé em.
Nhỏ bé nỗi cô đơn,
trái đất thâu dần vào âm thanh ngọt ngào cuối giờ thứ 24.
Ngủ yên.

 

 


[1] Xin cảm ơn các tác giả Phùng Nguyễn, Đỗ Kh., Nguyễn Thị Ngọc Nhung đã đọc góp ý và giúp đỡ về mặt tư liệu cho bài viết này.

[2] Carol Hanish − The personal is political – http://www.carolhanisch.org/CHwritings/PIP.html

[3] Talawas 07.04.2005, lưu trữ tại: http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=4231&rb=0102

[4] Thông tin lưu trữ tại trang Gió – O: http://www.gio-o.com/NguyenTranKhuyenTalawas.html

[5] Fraser, Nancy (1990) Rethingking the Public Sphere: A Contribution to the Critique of Actually Existing Democracy, Social Text (Duke University Press) JSTOR466240, đăng lại trong Calhoun ed. (1992) Habermas, and the Public Sphere, Cambridge Mass: MIT press, trang 109–142.

[6] Lưu trữ tại: tienve.org/home/literature/viewLiterature.do?action=viewArtwork&artworkId=5206

[7] Lưu trữ tại: http://www.gio-o.com/TranMinhQuan4BaiTho.html

[8] http://tienve.org/home/activities/viewTopics.do?action=viewArtwork&artworkId=1729

bài đã đăng của Nhã Thuyên


5 bình luận »

  • Nhà phê bình (2): Nhã Thuyên và Những Tiếng Nói Ngầm | Sến viết:

    […] những tiếng nói cộng hưởng […]

  • đặng thơ thơ viết:

    Tiểu luận của Nhã Thuyên tiếp cận những vấn đề của văn chương nữ trong tương quan giao thoa giữa giới tính, ngôn ngữ, quyền lực, và những diễn ngôn của quyền lực phụ hệ. Tôi thích “cách đọc” thơ nữ của Nhã Thuyên. Cô đọc trong giao thoa chằng chịt của nhiều hệ quy chiếu. Rồi cô kéo vấn đề ra ngay từ điểm hội tụ của những quy chiếu ấy bằng giải cấu trúc những diễn ngôn mang tính trấn áp, và soi rọi thơ nữ dưới những luồng nhìn và những khái niệm rộng hơn, bao quát hơn hẳn những gi đã viết về thơ nữ.
    Nhã Thuyên nhắc đến “hệ thống ngôn từ thường áp bức người nữ từ trong vô thức sử dụng của người viết và người đọc”
    Quá đúng. Ngôn ngữ không bao giờ vô tư, hồn nhiên, trung lập, hay trung tính (John McGowan, Post Modernism and its Crisis).
    Ngôn ngữ không bao giờ có đủ từ để nói về những vấn đề hiện hữu. Ngôn ngữ mang trong bản thân nó những ngộ nhận, thiếu sót, hoặc sai lệch. Ngôn ngữ đang xử dụng luôn đại diện cho số đông, do số đông làm chủ, nói về những vấn đề của số đông, những giá trị và góc nhìn của một số đông nhất định. Vì đây là ngôn ngữ chung của một cộng đồng nói/viết/nghĩ giống nhau, nên ngôn ngữ luôn “thiên vị” cái chung. Những gì cá biệt, không lập lại, độc sáng, và riêng lẻ thường không có chỗ đứng trong ngôn ngữ chung của cộng đồng. Những suy nghiệm, triết thuyết, phân tích, giảng giải phần lớn đều chỉ diễn ra trên sân chơi của ngôn ngữ chung, dù là ngôn ngữ bác học, và chỉ nói đến những điều mà ngôn ngữ cho phép nói trong sức chứa của hệ ý nghĩa của nó. Người ta tưởng rằng ngôn ngữ là sự thật. Đúng hơn, ngôn ngữ mang trong nó những lỗ hổng của những sự thật riêng lẻ bị xóa mờ. Thật ra ngôn ngữ định nghĩa một số điều bằng cách phủ định những điều khác. Ngôn ngữ định nghĩa một người phụ nữ bằng những gì không phải là phụ nữ, cách dễ dàng nhất, vì ngôn ngữ không có một định nghĩa đơn giản về tình trạng nữ, khí chất nữ, và khái niệm nữ trong những quy chiếu khác nhau. Ngay trên sân chơi chính của ngôn ngữ, là văn chương, thì cũng có những vấn đề nữ chưa có đủ ngôn từ để nói.
    Cuối bài, Nhã Thuyên viết:
    “Thành thật, tôi chưa thấy được nhiều sự lên tiếng thật sự độc đáo và hấp dẫn về giới của những cây bút nữ viết tiếng Việt, nhưng tôi tin đã có những tiếng nói quan trọng trong việc phá dỡ định kiến lên người nữ và người nữ trong văn chương Việt Nam giai đoạn vừa qua, cũng là một giai đoạn đang trôi qua.”
    Giới( tính) là một hệ ngôn ngữ, một hệ thống những ý nghĩa và biểu tượng, cùng những luật lệ, đặc quyền, và hình phạt liên quan đến việc xử dụng nó. Vì giới là một hệ thống những ý nghĩa và hàm nghĩa, ngôn ngữ giới tính có thể dùng để cho bất cứ điều gì muốn nói. Giới tính trong đồ vật, giống đực, giống cái. Giới tính trong thiên nhiên, ông trời, lòng đất mẹ. Giới tính trong khoa học, đinh vít nữ có lỗ, đinh vít nam có mũi nhọn. Giới tính trong nghề nghiệp, ông giám đốc/cô thư ký, bác sĩ nam/y tá nữ. Giới tính trong những không gian công cộng và riêng tư như Nhã Thuyên phân tích thơ Nguyễn thị Hoàng Bắc. Giới tính trong những chọn lựa nhỏ nhặt nhất từng ngày, màu sắc, tác phong, tư thế, những qui ước mang tính biểu diễn. Và giới tính trong lịch sử loài người, history. Tôi tin là từ tiểu luận này, văn chương Việt và phê bình văn học Việt sẽ dần thoát khỏi những “điểm mù giới tính” vẫn từng hiện hữu khi một người tự đóng đinh mình vào một vị trí cố định trên spectrum giới tính hay tính dục. Việc đi lại tự nhiên trên spectrum này, bằng thân thể hay ý tưởng, hoặc việc vượt lên những nấc ngăn giới tính như tác giả xác định, sẽ giúp chúng ta nhìn một toàn cảnh nữ/giới/ và văn học thoát khỏi những điểm mù ngăn chặn, phản lệch của những diễn ngôn mang tính trấn áp trong đời sống.

  • Nhã Thuyên và Những Tiếng Nói Ngầm (1) « Sến viết:

    […] những tiếng nói cộng hưởng […]

  • Về Những tiếng nói ngầm | NHA THUYEN viết:
  • Toàn Văn Luận Văn Nhã Thuyên: "Vị Trí Của Kẻ Bên Lề: Thực Hành Thơ Của Nhóm Mở Miệng Từ Góc Nhìn Văn Hóa" | Kệ Sách eBook viết:

    […] Những tiếng nói cộng hưởng[1] – 25.10.2012 […]

Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)
porn ficken russian porn japanese porn watch porn watch sex izle sex izle anal porn tube amateur porn watch