Trang chính » Sáng Tác, Truyện ngắn Email bài này

ngôi nhà và dòng sông biến mất

 

 

 

Bà Lâm kéo cái ghế nhỏ, ngồi vào giữa chỗ vệt nắng cắt bóng hình khung cửa trên nền nhà đen sẫm. Trong tâm trí bà chỉ còn hình ảnh đứa cháu trai. Gương mặt ngây thơ vừa buồn rượi vừa háo hức của nó khiến bà đau nhói tủi thân. Tội nghiệp thằng chó con đang lớn phổng phao đột nhiên bị người ta hắt hủi, kỳ thị.

Chiều hôm qua, đi học về, nó cất cặp sách, thu mình chui vào lòng bà. Nó ngần ngừ một lát rồi bảo:

- Bà ơi, con không đi học nữa đâu.

- Chết, sao con lại nói thế?

- Bố con đi tù, con còn đi học làm gì?

- Không được nói bậy. Bố đi trồng cà phê trên Đak Lak, gửi tiền về nuôi con.

- Sao bố đi làm mà không thấy gọi điện về cho con? Sao mãi không thấy bố về chơi với con?

- Bố gọi điện ban ngày, con đi học không được nghe. Đường xa, sang năm bố mới về được.

- Bà cho con nghỉ học ở nhà nghe điện của bố.

- Không được. Nghỉ học thì biết làm gì?

- Con ra chợ Long Biên làm thuê, khuân vác. Con đi đánh giày. Bao giờ có tiền con lấy hoa quả về bán kiếm lời, nuôi bà nuôi dì.

- Trẻ con ai người ta thuê. Không đi học, không có chữ, người ta khinh mình con ạ. Không có học ai cũng ức hiếp được mình hết.

Nó ngần ngừ một lát rồi đột nhiên mừng rỡ, hồ hởi như chưa từng có điều gì khổ sở:

- Lớn lên con sẽ đi làm cướp bà ạ. Làm cướp thì có gì là xấu đâu. Chú Sang gần nhà mình buôn ma túy với làm cướp, đi tù bốn năm về, bây giờ xây nhà to, mua xe nữa. Mà con chỉ cướp của nhà giàu thôi bà ạ. Tại vì nhà giàu họ cũng đi ăn cướp với tham nhũng mới giàu…

Bà Lâm thấy hoa mắt, choáng váng. Bà cố tìm trong vốn từ ngữ ít ỏi những lời để khuyên bảo cháu.

- Con nói bậy người ta bỏ tù thì chết. Ai dậy con nói thế?

- Con sang chơi nhà thằng Cún, thấy bố nó bảo mẹ nó thế.

- Con gắng học hết lớp 12, rồi bà xin cho đi làm công nhân. Không có chữ, người ta lừa gạt, ức hiếp, mình cũng không biết cãi làm sao, con nghe chưa?

- Vâng. Nó cúi mặt trả lời bà rồi chạy tót ra sân chơi.

Nắng đã xóa tới tận đâu. Bà Lâm vịn vào thành giường đứng dậy. Nguyệt đi chợ về khép cánh cổng loảng xoảng, đi thẳng vào nhà. Cô để mớ rau xuống cái bàn nhựa ngay trước mặt bà Lâm, cầm túi ni lon có mấy bìa đậu và vài quả trứng vịt đi ra phía vòi nước ngay trong sân nhà. Bà Lâm giở mớ rau, vừa ngắt, vừa nói vọng ra:

- Tao trông mày dạo này “bết” lắm.

- Thế à mẹ.

- Mai đi chợ mua ít thức ăn về mà bồi dưỡng. Rồi sang bên chợ Cao Nguyễn mua lấy cái áo mới. Phải có tấm áo đẹp nó mới ra người đàn bà con ạ.

Nguyệt chỉ cười nhìn bà, không đáp.

Bà Lâm càng thắt ruột, thương con trai. Trước khi đi, nó nói với bà: “Lần này con đi dễ khó về mẹ ạ. Con đi chừng nửa năm thì mẹ lo cho con một phân vàng, gửi người mang vào, như vậy là con thỏa nguyện.” Bà Lâm chỉ mang máng hiểu con bà cần phân vàng để làm gì. Cả đời làm việc không ngơi tay bà đâu dám nghĩ đến vàng bạc. May mắn dành giữ được dăm phân vàng, đã chia cả cho các con làm vốn. Giờ nó không may sơ sảy. Bà đem tất cả tiền định dành làm sổ tiết kiệm cho thằng cu cháu, đi mua cũng chỉ được nửa phân vàng. Con Nguyệt, không rõ chạy vạy ở đâu, đem về đưa cho bà nửa phân nữa. Vậy là đủ. Bà để sẵn trong hộc tủ, khóa lại. Cũng chỉ còn vài ngày nữa là đến lượt thăm nuôi, bà sẽ giao cho nó. Thằng Vọng. Bà đẻ rơi nó ở phố Vọng.

Mùa đông năm một ngàn chín trăm bảy mươi hai.

Lâm khép cánh cửa phòng tập thể, bấm cái khóa nhỏ. Do dự một lát, rồi cô lấy mẩu phấn để sẵn ở rìa cửa sổ, viết dòng chữ bé tí lên cánhá cửa gỗ. Lâm về Ngọc Hồi một thời gian. Các bạn ở lại thay Lâm trực chiến nhé. Thân. Khoác vào cánh tay chiếc túi nhựa bên trong có bộ quần áo, ít đồ sơ sinh, tã lót chuẩn bị sẵn, Lâm đi bộ về hướng đường Đuôi Cá. Đường phố vắng tanh. Thỉnh thoảng, một người vai mang cuốc xẻng hoặc xách túi nhựa, bước đi vội vàng. Tới đầu phố Vọng thì tiếng còi báo động rú lên. Lâm nép vào một mái hiên, nheo mắt nhìn lên. Chưa đầy hai phút sau, tiếng động cơ ì ầm rồi trong chớp mắt thành tiếng gầm rạch xẻ mọi vật. Hai chiếc máy bay in trên bầu trời. Lâm chui vào căn nhà bỏ hoang, tìm một “hố” cá nhân. Mặt đất chồm lên, co giật dữ dội, những tiếng nổ vỡ toác, truyền đi trong đất cơn vật vã tắc nghẹn, mọi đồ vật lăn lộn, nhảy chồm chồm, trộn vào nhau trong cơn rung lắc không ngừng. Lâm chỉ kịp quỳ gối và chống khuỷu tay, há to miệng, bịt chặt lấy tai. Những mảnh ngói, vôi vữa đầy ngập, lút người Lâm. Lâm vùng vẫy. Cơn đau chợt cuộn lên trong bụng, thúc về phía mỏ ác. Tiếng động cơ rụi dần, xa dần. Hơi nóng và khói bom từng khối ùn lên mù mịt. Lâm lết khỏi đống gạch ngói vỡ. Cơn đau quặn thắt, ứ lại nơi ngực. Một dòng nước ấm nóng trườn xuống đùi và bắp chân. Cô cố kêu được vài tiếng như tiếng của con thú nào đó rồi lịm đi, khói bom choán đầy ngực, tai và mũi.

Có ánh đèn “phòng không” chập choạng, chao đi chao lại. Một cú vấp vào ống chân Lâm đau điếng.

- Mẹ. Thằng nào nằm chết ở đây?

Ánh sáng màu vàng đất tỏa lên người Lâm. Lâm ráng sức rên một tiếng khẽ.

- Úi bà đẻ. Làm sao đưa đi nhà hộ sinh đây?

- “Hộ” cái con kẹc. Cháy rồi. Dìu bà ấy về bên “vòm” đi.

Lâm được đỡ lên vai một thanh niên. Anh ta gần như nâng bổng cả người cô, đi xuyên qua những căn nhà hoang, đồ đạc vỡ vụn. Có lúc ra khỏi những căn nhà, bầu trời lộ ra đỏ rực trong đêm tối vì ngọn lửa vùng vẫy, gào thét từ nhiều phía xa xa. Những tàn tro nóng không ngớt rụng lả tả từ không trung. Tới một căn phòng chìm quá nửa dưới mặt đất, có lẽ trước đây là hầm chứa của căn nhà cũ nào đó, thanh niên đưa Lâm thẳng vào phía trong, đặt nằm lên giường. Người lớn tuổi hơn đã có mặt từ bao giờ, đang đổ nước nóng trong bình thủy vào cái chậu. Ông ta giúi bình thủy vào tay thanh niên: “Nấu nước đi”.

Cơn đau dồn dập, xô đẩy Lâm vào khoảng không. Trước hai người lạ, Lâm sợ không dám kêu than, nhưng những tiếng nấc bị nén xuống lồng ngực làm người cô nảy lên, hai mắt trợn ngược, nước mắt ròng ròng. Kiệt sức muốn lịm đi. Người đàn ông quát to: “Hít mạnh vào, thở thật sâu. Lả đi là chết cả mẹ lẫn con đấy”.

Thanh niên mang tới cái kéo trong ca nước đang sôi đặt trên đèn cồn.

Cơn đau dồn xuống bụng dưới, cảm giác buồn buồn và tức, Lâm thấy người mình đang căng lên hết cỡ rồi nứt toác ra.

“Rặn nữa đi, mạnh vào. Sắp ra rồi. Lạy “cụ”, “cụ” hít mạnh vào cho con nhờ!”

Người đàn ông đỡ lấy đứa bé vừa vuột khỏi cửa mình người mẹ, khéo léo gỡ dây rốn đang vòng quanh cổ nó, phát mạnh vào đít. Thằng bé oe oe khóc vài tiếng rồi nín bặt. Ông ta cắt rốn, đặt vào bụng nó miếng băng nhỏ xíu rồi lấy chiếc khăn mỏng thấm nước trong cái chậu vuốt lên người nó cho sạch máu và nước ối, đặt nằm trên chiếc khăn bông. Thằng bé ngọ ngoạy như con mèo con. Nó được mặc chiếc áo sơ sinh bé xíu, quấn tã xanh. Thanh niên bế Lâm đặt sang một phía chiếc giường, thu dọn tấm vải nhựa đầy máu và bọc cuống nhau nặng trĩu. Lâm định nhổm dậy, người đàn ông quát:

- Nằm yên. Muốn băng huyết chết à?

Ông ta bế đứa bé, giơ lên trước mặt Lâm trong ánh sáng ngọn đèn phòng không vàng đục và ánh lửa nham nhở từ xa tít hắt lại.

- Chị trông, tai to mặt lớn đẹp như con quan. Đặt mẹ tên là thằng Bom cho rồi, bom với đạn bao giờ mới ngơi.

Trong ánh sáng ngọn đèn, gương mặt người đàn ông đen kịt muội tro nụ cười tươi sáng, hàm răng trắng, gò má chìa ra khắc khổ, giờ mới thấy anh ta vẫn còn trẻ, chỉ hơn người kia độ vài ba tuổi. Thanh niên trở vào, đưa cho Lâm ca nước chè xanh nóng có bỏ lơ mơ một chút đường. Vừa lúc đó, tiếng động cơ lại cào xé mọi vật, mặt đất chồm dậy dữ dằn, Lâm lật sấp mình che cho đứa bé đang nằm bên.

*

Nán lại vài ngày ở “vòm” của Kính “Cà răng” và Tám “Lệnh”, hai trùm giang hồ khét tiếng vùng bến Phà Đen và cả một dải đê Thanh Nhàn, bãi Minh Khai, Lâm một mình bế đứa bé về Ngọc Hồi. Cô không ngờ hai người đàn ông đỡ đẻ cho mình đêm cả Hà Nội đảo lộn vì bom lại là hai tên đâm thuê chém mướn tàn bạo, không từ một trò tranh giành, trấn áp nào để trở thành thủ lĩnh của tất thảy đám du đãng vùng bến sông. Lúc này, cả Hà Nội là chiến địa. Lâm không hiểu vì sao hai người ấy còn trụ lại trong dãy phố đổ nát. Thường ngày, đàn bà con gái xớ rớ tới đó có khi còn bị cưỡng hiếp. Ba ngày Lâm ở lại, ngày nào Tám Lệnh, thanh niên đã cõng cô về “vòm”, cũng nấu nước ấm để tắm cho đứa bé. Không ngờ Ngọc Hồi cũng bị ném bom. Lâm không tìm được bà dì ruột, đành phải bế thằng Vọng trở về Hà Nội.

Đi nhờ một chiếc xe chở nứa khô từ thành Nam về tới ngoại ô, Lâm phân vân. Chỉ còn nước đánh liều tìm về nhà máy, nương nhờ vài ba hôm, rồi tìm cách đưa con đến nơi sơ tán. Nữ công nhân không chồng mà chửa như Lâm, có tên trong đợt đầu những người phải sơ tán về các tỉnh lân cận để tiếp tục nhiệm vụ lao động sản xuất. Nhưng Lâm nằng nặc xin ở lại bám nhà máy, tham gia vào đội tự vệ, vừa lo sản xuất không ngừng một giây, vừa trực chiến bắn máy bay. Lâm muốn đáo công chuộc tội. Những sếp phụ nữ ban ngày nghiêm giọng kiểm điểm, mắng mỏ Lâm, nhưng buổi tối lại giấm giúi đem cho cô lúc thì vài lạng đường bọc kỹ trong bao giấy, khi bát gạo quê, trái chuối. Lâm còn hăng hái, chưa hề nghĩ tới những chướng ngại khi đứa bé ra đời.

Thằng Vọng đang ngủ ngon, cái chỏm mũ sơ sinh trên đầu nó phập phồng như một đụn mây vừa rớt xuống. Lâm chợt để ý thấy một đoàn người đang im lìm, lũ lượt đi ngược hướng với cô. Họ dắt xe đạp, hoặc chở nhau trên xe, thồ theo lỉnh kỉnh mền bông, bát đĩa, xoong nồi. Có cả những chiếc xe ba gác trên đó chất tủ khảm xà cừ, đầu máy may, những đồ sứ được chằng buộc cẩn thận. Lâm chợt nhận ra một dáng quen quen đi lẫn giữa đám người. Vừa lúc, có ba thanh niên đi xe đạp từ đâu lao tới. Họ chặn ngang chiếc xe ba gác chở tủ xà cừ và đồ sứ, máy may.

- Những đồ đạc này không được mang ra khỏi thành phố.

- Các anh là ai mà không cho chúng tôi mang vật dụng gia đình theo? Chúng tôi đi sơ tán.

- Là ai cũng mặc. Sao bây giờ các ông bà mới đi, lệnh sơ tán hàng tháng nay rồi. Con cháu tư sản phản động ở lại định làm “chỉ điểm” phải không? Liệu hồn.

Người thanh niên dáng quen quen rẽ đám đông bước tới. Lâm nhận ra đó chính là Tám Lệnh, người từng cứu giúp và chăm sóc cô đêm đẻ rơi thằng Vọng.

- Các anh là ai? Muốn khám xét phải có giấy tờ, chỉ thị. Tôi muốn xem giấy tờ chỉ thị của các anh.

Ba thanh niên ngớ ra nhìn nhau. Một người chỉ vào cái băng đỏ trên cánh tay:

- Không thấy gì đây à? Bọn này không cần giấy tờ gì hết.

- Cái băng đó tôi mang cũng được. Là giả danh.

- Anh… dám vu khống chúng tôi hả? Liệu thần hồn. Một người hùng hổ xông tới. Tám giữ cánh tay anh ta đang vung lên.

- Không ai được quyền cấm người sơ tán mang theo đồ dùng của họ, trừ phi anh chứng minh được đó là đồ ăn cắp hay phi pháp. Cũng không ai được quyền ngăn cấm những người này đi sơ tán, trừ phi chứng minh được rằng họ là “chỉ điểm” như anh nói.

- Anh là ai mà… dám… Mấy thanh niên đuối lý, ấp úng.

Tám mỉm cười.

- Không biết Tám Lệnh bến Phà Đen à?

Nghe tới đó, ba thanh niên xanh mặt, vội vàng lên xe phóng thẳng. Lâm bế đứa bé len đám đông lại gần.

- Anh Tám!

Người thanh niên quay lại. Anh ta cười với Lâm như gặp lại người bà con xa lâu ngày, giọng nhỏ nhẹ:

- Sao Lâm còn quanh quẩn ở đây, không về quê à?

- Ngọc Hồi cũng bị ném bom. Dì ruột em đã đi sơ tán rồi.

- Giờ Lâm muốn làm sao? Bom đạn này tội nghiệp cho thằng cu con quá.

- Em cũng chưa biết. Định ở nhờ cơ quan vài ngày rồi đưa con em về Nam Định xem sao.

- Hay là… Tôi đưa Lâm về làng tôi lánh tạm một thời gian nhé?

- Ai lại thế? Mang tiếng cho anh thì chết. Em không dám đâu.

- Chiến tranh giặc dã thế này, lo gì mấy chuyện cỏn con. Lâm đợi ở đây tôi thu xếp xong sẽ đưa Lâm đi ngay.

Tám ra lệnh cho mấy đàn em tiếp tục đưa đoàn người ra khỏi thành phố, còn anh mượn một chiếc xe đạp chở Lâm. Tám đạp xe về hướng cầu Long Biên. Ngược gió, xe chở nặng, Tám gò lưng đạp. Vừa đi, anh vừa kể cho Lâm nghe chuyện đời mình, thoải mái như với một người bạn lâu ngày gặp lại. Lâm không ngờ con người được coi là trùm du đãng nơi bến sông lại có tài ăn nói, hóm hỉnh và thông minh đến thế. Những chuyện cơm áo, “thoát hiểm” thường ngày trong đám anh em bến sông, qua lời Tám, đều trở nên gay cấn, ly kỳ, không thể nào đoán trước, trĩu nặng say mê của những kẻ không tuân phục, những kẻ chọn cái sống nơi đầu sóng ngọn gió, thậm chí là ranh giới sự chết, nên dám bỡn cợt với mọi thứ luật định thông thường. Lâu nay, Lâm không được vui như thế. Hai người dừng lại một lúc để Lâm cho thằng Vọng bú bữa chiều. Tám đi quanh quẩn, về đưa cho cô mấy bắp ngô non, xé lớp vỏ thấy hạt trắng như ngọc. Mãi chiều tối mới về tới nhà. Tám đưa Lâm tới ở nhờ bà bác ruột. Cha mẹ anh qua đời từ lâu, chôn cất ở làng.

- Đây là Lâm, em gái người bạn thân của cháu. Cô ấy ở lại bám nhà máy nên khi sinh không kịp về nơi sơ tán. Bác cho Lâm và cháu bé ở nhờ một thời gian, cháu sẽ thường xuyên qua lại.

Bà bác nhìn Lâm vẻ dò xét kín đáo rồi bảo cô bế đứa bé vào trong buồng, thu xếp cho hai mẹ con chỗ ở ấm áp. Hàng ngày, Lâm theo bác trồng đậu, trồng lạc, dỡ khoai, gánh nước. Làng ở ngay bờ bên kia sông Hồng, nhưng không phải vùng trọng điểm nên cách xa những nơi bị bom. Không còn nghe tiếng còi báo động vọng về từ phía Hà Nội. Đêm chỉ còn tiếng gió trào lên ngoài vườn mía. Bên sông, những vạt hoa cải nở vàng, nở trắng tuôn lên trời thứ ánh sáng trắng bạc như phản chiếu từ mặt gương hay hơi nước đang sôi. Có lẽ đây là những ngày bình lặng nhất đời Lâm. Mỗi đêm nằm bên con đang ngủ yên, cô đều thấy chính nó đã che chở mình khỏi tai ương, khổ nạn. Lâm tự hỏi tại sao dòng sông phải chảy, phải mang đi những gì mà có khi chính nó cũng không muốn mang? Dòng sông như một linh hồn phải mang theo thân xác nó trong những mùa hoa vông đỏ chói như lời cầu nguyện giục bay lên. Một lần, Lâm nói với Tám, lúc đã trở thành người thân thiết nhất với cô:

- Anh đừng về Hà Nội nữa. Em lo…

*

Nguyệt vừa đi thăm Vọng ở trại tỉnh Thanh về. Trông cô tề chỉnh, từ đầu tới chân sắc nét và sáng láng hơn hẳn ngày thường, hắt ra một thứ sức sống rực rỡ, và chỉ hơi buồn. Bà Lâm giục con đi tắm rửa. Thằng cu Vang đã ăn cơm trước rồi tót đi chơi. Bà Lâm vừa xới cơm vừa hỏi:

- Lần này có được gặp không?

- Có được gặp mặt mẹ ạ. Anh con trông cũng gầy, đen, nhưng tươi tỉnh, lạc quan. Dạo này không phải đi làm đá nữa, chỉ trông vườn tược, công việc cũng nhẹ. Quà của gia đình thì được đưa ngay lúc thăm.

Bà Lâm nén tiếng thở dài.

- Còn “việc kia” thì sao con?

- Anh con cho số điện thoại 1 người, nói đưa cho người ấy khắc sẽ tới. Nhận được sẽ báo tin về cho gia đình. Con đã làm đúng như anh con dặn.

- Ừ. Bà Lâm thấy trong người vơi nhẹ, mềm xuống.

Sau Hòa đàm Paris năm một ngàn chín trăm bảy mươi ba, bà Lâm còn nán lại vùng quê ven sông Hồng thêm một thời gian rồi mới đưa gia đình, có ông Tám và thằng cu Vọng 2 tuổi trở về nền nhà cũ trong xóm lao động. Cha mẹ đẻ của bà cũng đã trở về thành phố từ nơi sơ tán. Nhà máy trước đây không nhận bà Lâm vào làm nữa, vì bà lấy người chồng có lai lịch không rõ ràng.

Ông Tám ở nhà vợ, đối với cha mẹ vợ yêu thương hòa thuận. Không còn “buôn tàu bán bè”, ông chấp nhận làm phu khuân vác, đạp xích lô, sửa chữa điện nước cho các gia đình, có khi làm những con diều nilon sặc sỡ đẹp mắt bán vài hào cho lũ học trò thành phố. Bà Lâm nuôi heo gà, đan len, bóc lạc, dán hộp “các tông”, vấn thuốc lá thuê, bán chè chén và quà vặt tùy theo từng mùa. Cuối xuân sang hè, ông Tám về quê bẫy chim cu gáy, kéo mật nấu đường, có khi theo thuyền về tận Hải Phòng, Nam Triệu. Những chuyến đi may mắn cũng có lời, gom góp dăm chuyến được cái xe đạp để bà Lâm đi lại, có khi là ít xà bông thơm, đồ điện cũ để bán ngoài chợ đen. Tám năm sau khi sinh thằng Vọng, bà Lâm sinh thêm thằng cu Bình. Đêm nằm bên chồng, bà nói trong tiếng con chim ăn đêm kêu mãi đầm nước ngoài xa lăn tăn dội tới:

- Em không muốn các con sau này lại sống gian khó, trôi dạt như chúng mình.

- Cuộc đời không ai dám chắc sẽ dựa vào cái gì đó mà yên ổn mãi mãi em ạ. Không ai có thể sống trọn cuộc đời yên ấm đầy đủ mà không trải qua ly tán, mất mát.

Ông trầm giọng, rành mạch, dịu dàng:

- Đời sống có người giàu kẻ nghèo, em bận tâm làm gì. Anh chỉ ghét những người lừa dối và mượn công kẻ khác, như Lý Thông trong truyện Thạch Sanh. Các con sau này lớn lên, dù trong hoàn cảnh nào cũng có chí làm ăn, chịu khó, thì lo gì không được sống ngẩng cao đầu…

Thằng cu Bình lớn lên, dong dỏng cao, đẹp trai, khéo ăn khéo nói, y như cha nó. Ông Tám đã mất vì tai nạn giao thông trong lúc chở hàng từ bến cảng về phố, năm Bình mới lên ba. Cũng có người nói ông bị một tay anh chị có ân oán từ thuở giang hồ quay về đâm chết.

Bảy giờ năm mươi lăm phút sáng, ngày Hai mươi sáu tháng Chín năm Hai ngàn không trăm lẻ bảy, hai nhịp dẫn trụ số mười ba, mười bốn, mười lăm cầu Cần Thơ sập xuống, giết chết 54 người trong đó có 1 kỹ sư, còn lại là công nhân và dân thường đang làm việc, phục vụ tại công trình.

Cu Bình có tên trong danh sách công nhân tử nạn. Bình đang học nghề và làm thợ sửa chữa đồ điện tử tại tiệm Hưng Khoát trong chợ Vĩnh Long. Mới tuần trước, nó nhắn tin về cho bà Lâm. “Con sắp mở tiệm riêng. Bao giờ kiếm đủ tiền con về xây lại nhà cho mẹ và thằng cu.”

Ngày xảy ra tai nạn, con trai bà chủ nhà Bình ở trọ sốt thương hàn, không ra công trường được. Nể tình bạn vừa được nhận vào làm, không muốn bị mất việc, Bình xin nghỉ 1 ngày ở tiệm sửa đồ điện tử, lấy mũ và găng tay bảo hộ, thay cậu ta ra công trường.

Mẹ con người công nhân thoát chết đã tìm ra Hà Nội để tạ lỗi với gia đình bà Lâm. Cậu con trai xin nhận bà Lâm làm mẹ nuôi, hứa sẽ phụng dưỡng bà sau này. Bà Lâm đau đớn, nửa tỉnh nửa mê hàng tháng trời. Theo bạn bè đi làm ăn xa, thằng cu Bình còn nói với mẹ: “Mẹ yên tâm, con đi xa không đua đòi hư hỏng, bao giờ có sự nghiệp con về với mẹ.”

Sau lễ cúng bốn mươi chín ngày cho Bình, bà Lâm dậy, tỉnh táo, nhưng chân trái bà tê liệt, gần như không đi lại được. Gánh nặng gia đình dồn lên vai Nguyệt. Thương con cháu, bà Lâm gượng dậy lo thu vén cửa nhà.

Bà tự hỏi, tại sao những người muốn đứng ngoài sự tính toán, bon chen để giành giật điều gì đó từ cuộc đời, rốt cuộc lại không tránh khỏi bị cuộc đời dửng dưng và bất chợt trút tai ương của nó? Có cách nào tránh né những khổ nạn ở đời hay không? Tiền bạc và của cải có gánh đỡ được hoạn nạn cho người ta hay không? Tại sao người chết rồi lại không còn gặp được?

Cúng bốn mươi chín và một trăm ngày cho Bình, bà đều “xin” thầy đồng để gọi thằng Bình về cho mẹ, chị và cháu gặp mặt. Thầy đồng đảo thiên đảo địa liên hồi, có khi nhảy chồm chồm, nhưng rốt cuộc lúc giá đồng chỉ nằm vật, không nói được lời nào.

Hai ngày sau khi Nguyệt đi thăm Vọng trở về nhà, một người đàn bà trong xóm, bà Lâm có biết nhưng ít khi giao thiệp, tới nhà báo tin, Vọng đã nhận được trót lọt một phân vàng gia đình gửi vào trại.

Từ quân ngũ trở về, Vọng làm nghề lái xe tải đường dài cho một công ty vận chuyển. Đi làm được ba năm thì Vọng bế về nhà đứa bé đã gần 1 tuổi. Thằng cu con giống hệt bố nó ngày còn mới tập đi, ngày ấy, thằng Vọng bước từng bước chập choạng như con chim non rớt xuống mặt đất xòe cánh xoay hết bên nọ tới bên kia giữ thăng bằng, rồi sà vào lòng bà Lâm, cười òa lên. Một năm sau, thì đến lượt Nguyệt theo về. Cô không phải là mẹ đẻ thằng Vang. Nguyệt còn nhỏ tuổi, trắng trẻo, ưa nhìn, tính tình lại mạnh mẽ, phóng khoáng. Bà Lâm làm lễ cưới cho con, không đình đám nhưng cũng đầy đủ, long trọng. Có tiền, lại thường xuyên xa gia đình, Vọng sa vào con đường nghiện ma túy không ai hay.

Về đứa con dâu, bà Lâm có nhiều điều không hài lòng. Nó chẳng biết bếp núc, chậm tính toán, lo lắng việc trong nhà. Nhưng được cái không cãi lại bà bao giờ, ngay cả lúc bà rầy la, mắng mỏ. Nó chỉ nhăn răng cười, và có một lần duy nhất đáp lời bà, nó nói: “Con có được ai dạy dỗ bao giờ đâu”. Thằng Vọng bị bắt vì sử dụng và mua bán ma túy tới lần thứ hai. Nguyệt vẫn lặng lẽ đi về như lúc gia đình còn yên ấm. Cô làm công nhân ở nhà máy trước đây bà Lâm từng làm việc, do mẹ chồng xin cho. Tiền lương hàng tháng Nguyệt đưa hết cho bà Lâm để lo chi tiêu trong nhà. Từ ngày không còn đi lại được, bà Lâm càng thương Nguyệt. Nó vẫn tươi sáng, vẫn cười, nhưng gầy lệch hẳn đi.

Bà Lâm gặng hỏi người phụ nữ đến báo tin, có biết gì về tình hình thằng Vọng trong trại. Bà này chỉ lắc đầu và xin phép ra về. Bà Lâm hiểu sắp có điều gì quan trọng lắm đến với con, nó cần có tiền lo lắng, bà thầm cầu xin Trời Phật phù hộ để thằng Vọng tai qua nạn khỏi. Bà Lâm không đoán được rằng, những phạm nhân nghiện ma túy nhắn tin về gia đình như vậy thường đã biết trước những ngày cuối cùng của mình, cần có chút tiền, vàng để lo cho những ngày đó bớt lạnh lẽo, được êm thấm.

Nguyệt đi làm ca đêm. Thằng cu Vang học bài xong đã ngủ một mình trên gác xép. Bà Lâm không còn lên gác được, phải gọi nó dậy bỏ màn từ nãy. Đặt lưng xuống giường, bà chợt nghe như có tiếng động mơ hồ rất khẽ phía sau nhà. Tiếng chuột chạy hay có con mèo hoang nào lảng vảng. Bà Lâm nhắm mắt, nhưng có gì đó khiến bà bồn chồn không yên. Bà trở dậy, cầm cây đèn pin, cố gắng nhẹ chân để thằng cháu khỏi tỉnh giấc. Kéo chốt cửa, bà vịn vào tường lần ra sân. Không tin được. Trong chái nhà để đồ cũ có ánh sáng mờ mờ và bóng người. Bà men theo bức tường, lết tới. Trong nhà có tiếng động mạnh hơn, tiếng loạt xoạt. Người trong đó hình như cũng biết bà đang tới. Đó là Nguyệt và một thanh niên lạ, cả hai đang vội vàng mặc áo quần. Bà Lâm chợt hiểu vì sao mấy tháng nay Nguyệt có thêm tiền để đưa cho bà chạy chữa thuốc thang, và vì sao mấy người hàng xóm gần gũi của bà không còn lui tới.

Nguyệt vội vàng chạy ra đỡ mẹ. Trong ánh sáng ngọn đèn pin chiếu lên bức tường trống, bà Lâm lờ mờ thấy mặt cậu thanh niên. Bà chợt thấy cảm giác nhẹ nhàng và rộng mở như thể bao nhiêu cay đắng và khổ đau trong cuộc đời bà chỉ còn nhẹ tựa chiếc mạng nhện vương trên lá cỏ tươi. Bà mở lời:

- Cậu cứ ở lại. Tôi là mẹ đẻ nó.

 

Khánh Phương
2008 – 10/ 2012

bài đã đăng của Khánh Phương


9 bình luận »

  • sinhvien viết:

    đọc tiểu luận KP thấy chị là người luôn hướng tới những cái mới. đọc truyện thì lại thấy truyện cũ.

  • Đỗ Nguyễn viết:

    Một sáng tác rất hay không sắc màu chính trị, không từ vựng đao to búa lớn và chỉ thể hiện tình người. Bạn làm tốt công việc của một nhà văn chân chính không để tư tưởng bị ảnh huởng bởi bất cứ khuynh hướng chính trị nào. Bạn chỉ kể chuyện những mảnh đời đau khổ, thân phận người phụ nữ trong cuộc sống không có ngày mai rất thật mà vẫn không mang tính cách tài liệu hay có kiểu “phản ánh hiện thực “… Có thể bạn đã hơi phung phí dữ liệu cho một truyện ngắn, đáng lẽ có thể sẽ là một truyện vừa (hoặc khá dài) không kém phần độc đáo nếu bạn khai thác kỹ lưỡng thêm những tình huống đã liên tục tạo sự lôi cuốn, nếu bạn đào sâu thêm thế giới nội tâm của nhân vật …
    Tôi rất mong bạn tiếp tục con đường riêng mà bạn đã tự vạch ra: Cách kể chuyện đầy chi tiết hấp dẫn của một nhà văn có cái nhìn tinh tế và có sự rung cảm sâu xa trước mọi sự kiện trong đời sống. Xin cảm ơn Khánh Phương rất nhiều.

  • Đỗ Nguyễn viết:

    Tôi xin đồng ý với bạn Sinhvien về tính “cũ” trong truyện này. Nhưng nếu chúng ta có thể hiểu “cũ” đây có nghĩa là “kinh điển” chứ không là cũ kỹ, sáo mòn. Vì đề tài tình người, những kiếp đời đau khổ này đã luôn được nói đến cũng như sẽ còn được nói đến. Nhưng thật ra, chúng ta cũng có thể thấy được cái “mới” nếu nhận định rõ là nhà văn đã thật sự thoát khỏi những áp đặt của mọi tư tưởng chính trị cũng như không bị lệ thuộc vào một trào lưu nào mà chỉ làm chủ tư tưởng của mình. Kết luận của truyện sẽ không có gì mới nếu ta không để ý đến cách hành xử của hai nhân vật nữ : ” Nguyệt vội vàng chạy ra đỡ mẹ ” thay vì Nguyệt hốt hoảng sợ hãi, cô đã chỉ nghĩ đến mẹ. Và bà Lâm “chợt thấy cảm giác nhẹ nhàng và rộng mở …” thay vì giận dữ … Phải chăng đây là một khuynh hướng tư duy ” mới” vẫn thấm đậm tình người mà còn phảng phất tính nữ quyền? Cách viết này đã cho độc giả thấy được niềm tin tạo dựng từ tình cảm của các nhận vật hoàn toàn chân thật và rất đẹp.
    Nếu bạn có thêm ý kiến, tôi xin lãnh hội. Trân trọng.

  • sinhvien viết:

    truyện cũ hay mới là năm trong khoảng cách giữa thi pháp của truyện và thời đại người đọc. Mới không nhất thiết là có giá trị và cũ cũng không phải là không hay. Đặt đúng vị trí của nó cài gì cũng có giá trị. Truyện này cũ bởi nó dựa trên lối viết của văn chương truyền thống, riêng về nghệ thuật hòa lẫn với hàng ngìn truyện ngắn trong văn chương việt hiện nay. Chúng tôi là những người đọc trẻ, chúng tôi cần một cái gì đó mới mẻ trong ý tưởng, hành ngôn, hình tượng, cấu trúc. Nói chung là sự vượt thoát như Khánh Phương đã từng đòi hỏi ở một số tác giả khác mà chị đã viết trong tiểu luận của mình.

    Đỗ Nguyễn viết: “Cách viết này đã cho độc giả thấy được niềm tin tạo dựng từ tình cảm của các nhận vật hoàn toàn chân thật và rất đẹp.” cái này nói thật hồi học cấp hai tôi đã từng viết những bài văn phân tích tác phẩm kiểu như thế. “Rất chân thật và rất đẹp.”

    Ví dụ: Hình ảnh anh nông dân hiện lên rất chân thật và rất đẹp. Hình ảnh Chị Dậu hiện lên rất chân thật và rất đẹp, không những thấm đẩm tình người, ma còn phảng phất trong ta tinh thần lên án đòi quyền công bắng cho người phụ nữ trong xã hội xưa…

  • Đỗ Nguyễn viết:

    Theo suy nghĩ của tôi thì từ xưa cho đến gần đây, trong văn chương VN truyền thống có nhiều điều đen tối nhất là về thân phận phụ nữ (đen tối như cái tiền đồ của chị Dậu mà ta học từ cấp hai)và tuyệt vọng (như kết cuôc bi thảm của Cánh đồng bất tận Nguyễn Ngọc Tư)… Một chút mới mẻ vẫn là tình người nơi các nhân vật và kết cuộc còn hy vọng, chỉ vì tôi ít còn thấy điều này trong văn lẫn thơ. Điều khiến tôi nhẹ nhõm thay vì đọc những tác giả mà tôi không có khả năng hiểu họ muốn nói gì. Trong thời đại những gì đã tưởng là mới chỉ còn là sự bế tắc; với tôi, cái mới không gì khác hơn là tìm lại được nét đẹp của loại truyện mang tính kinh điển này, từ đây sẽ là một khởi điểm cho sự vượt thoát …

  • sinhvien viết:

    Khi nào chúng ta vượt lên được tư duy tiểu nông đang đeo bám trong hình tượng, diễn ngôn, tư tưởng, sự nỗ lực vụng về trong việc mô phỏng hiện thực…thì khi ấy mới mong có sự vượt thoát. Mà vượt thoát ở đây là gì nhỉ. Những gì cần phải vượt? những gì cần phải thoát? Đó chính là từ bỏ tính chất tiểu nông. Mà tính chất tiểu nông là gì? đọc truyện này sẽ thấy.

    chúng ta không phủ nhận những người đi trước nhưng đã nói đến sự vượt thoát thì phải biết đưa những thứ nhỏ bé để vào đêm tối của nó. Riêng tôi không mấy hi vọng về sự vượt thoát của văn chương trẻ Việt trừ một vài hiện tượng gần đây, nhưng tôi lại sợ họ sẽ chết sớm mất. Chừng nào vứt bỏ được cái “rất chân thật và rất đẹp” thì hòng may. Tôi nghĩ muốn vượt thoát trước hết phải học cách nói láo, nói láo trước, sáng tạo sẽ đến sau, nói láo mà không gượng, nói láo để làm cho chi tiết, hình tượng vượt ra ngoài mô phỏng nghèo nàn, hướng tới một thế giới không vuốt đuôi hiện thực…như vậy sẽ đến được một thế giới đúng hơn, chân thực hơn, đẹp hơn..

    hi vọng và chờ đợi…biết đến bao giờ…
    mong an lạc đến với mọi người

  • Đỗ Nguyễn viết:

    Tôi nghĩ tưởng tượng (hư cấu) để có chi tiết, tình huống cho cốt truyện là một cách viết nhưng nhà văn cũng phải diễn tả sự tưởng tượng bằng cảm xúc chân thật của mình (ví dụ cách viết hiện thực thần kỳ). Nói láo một cách khôn khéo cũng có thể gặt hái thành công. Tính tiểu nông còn tồn tại nhưng nó vẫn là nét đặc thù của văn chương V N, khi nhìn xã hội V N và nền giáo dục mà chúng ta đã thừa hưởng một cách đau khổ, thì từ bỏ tất cả một cách nhanh chóng không thể dễ dàng … Chúng ta hãy kiên nhẫn thêm vì vẫn còn hy vọng, theo kiểu “có nụ hưởng nụ trong lúc đợi hưởng hoa”. Ta có thể đi tìm những điều không chân thật và không đẹp đẽ gì theo mọi kiểu cũng không thiếu; nhưng trong lúc này, tôi đánh giá cao những người viết còn thể hiện được cảm xúc của họ là chủ yếu. Cũng có thể một khi vượt thoát được những gì muốn vượt thoát, văn chương cũng như mọi thứ chỉ còn để phục vụ cho ngành thương mại mà thôi khi mà trên thế giới này, sự in ấn có rất nhiều mà tư tưởng hay thì rất ít. Người ta thường xem rẻ những gì đang có và tìm kiếm xa vời. Sau những bùng nổ, bứt phá (cứ cho rằng vì chúng ta bắt buộc phải trải qua mọi thời kỳ nào đó), nhiều văn sĩ thi sĩ đã từng đi tìm cái mới lạ giờ đây chỉ còn trước mặt là muôn ngàn câu hỏi ( có thể có cả câu hỏi: làm thế nào để nói láo cho tốt?) … Tôi cũng như bạn, đang đợi chờ và hy vọng. Chúc bạn yên vui.

  • Đỗ Nguyễn viết:

    Chào bạn sinhvien, bạn có viết “trừ một vài hiện tượng gần đây, nhưng tôi lại sợ họ sẽ chết sớm mất “. Bạn có thể cho tôi biết những hiện tượng này là ai để tôi tìm đọc thưởng thức? Vì sống đời lưu vong, tôi thật sự không có dịp đọc nhiều văn chương V N, thấy có “cây nhà lá vườn” chất lượng là mừng, nhất là loại “hàng thật” (với tôi có nghĩa là không có mùi chính trị đã là thật và mới)… Là độc giả, chúng ta phải che chở khuyến khích hết lòng những hiện tượng tốt, nếu họ chết sớm là lỗi tại chúng ta. Tôi rất chân thành đón nhận sự giúp đỡ của bạn để khám phá thêm những tài năng mới mà tôi đồng ý là quá hiếm hoi.
    Vô cùng cảm tạ.

  • Tao Phùng viết:

    Quan niệm của bạn sinhvien về cái mới và cái cũ nó thật là nằm trong khuôn khổ của một lối tư duy rất cũ về văn học và nghệ thuật mà theo đó có những khung khổ và cần vượt thoát. Bản thân sự vượt thoát hay mới mẻ như bạn nói cũng đã cũ mất rồi!

Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)