Trang chính » Bàn Tròn: Dịch thuật, Dịch Thuật, Nhận Định Email bài này

Tản mạn về văn chương và dịch thuật

0 bình luận ♦ 18.12.2008

magritte doubles Theo lời thuật của nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường, trong một buổi sơ kiến khi được hỏi: “Nhân cách của nhà văn là gì?”, nhà thơ Trần Dần, kiện tướng của phong trào Nhân Văn Giai Phẩm 56-58, đã nói: “Đó là văn cách của anh ta”. Trần Dần lập lại một cách vô thức một phát ngôn của nhà khoa học Buffon từ hai thế kỷ trước mà nay đã trở thành đầu môi miệng lưỡi của nhiều người. Đó là “Le style, c’est l’homme” (Văn là người), một cách diễn dịch: văn phong hay thi pháp phản ánh tư cách con người của nhà văn, nhà thơ.

Cách diễn dịch này cũng cỏ thể áp dụng cho nhà dịch thuật bởi vì y cũng là một thứ nhà văn, nhà-văn-bất-thành (écrivain manqué.) Một nhà văn đích thực có thể là một dịch giả, nhưng một dịch giả chuyên nghiệp không thể hoặc hiếm khi trở thành nhà văn. Khác biệt là ở chỗ nhà văn thì hoàn toàn tự do trong khi nhà dịch thuật chỉ có tự do hạn chế: Y như một con ngựa với dây cương buộc vào một cây cột. Cây cột đó là văn bản gốc. Y chỉ có thể đi loanh quanh dăm ba bước nhưng không thể cất vó bay bổng như nhà văn vì mỗi khi đi quá xa, y lại bị cái dây cương giật trở lại cây cột gốc. Nói chi thì nói, tự do biểu đạt của y chỉ là độ dài của dây cương.

Vấn đề “văn là người” xưa như thời đồ đá cũ và đã bị đả phá kịch liệt hay chôn vùi trong văn chương hiện đại, nói chi tới hậu hiện đại. Một ngoại lệ là thời kỳ Nhân Văn Giai Phẩm. Đây là nhân cách của nhà-giáo-nhà-văn Nguyễn Công Hoan khi ông làm thơ chửi cụ Phan Khôi:

Văn chương, đù mẹ thằng cha bạc,

Tiết tháo, tiên sư cái mẽ ngoài

Nguyễn Tuân, “bậc thầy của ngôn ngữ”, ngông và cao ngạo đến thế trong tự truyện “Nguyễn,” cảm thấy con người mình hèn. Ông nâng chén rượu lên lã chã nước mắt nói: “Tao còn sống đến hôm nay cũng là nhờ biết sợ.” Người ta thương cảm chứ không trách ông. Nhà văn Nguyễn Minh Châu cũng than van: “hèn, hèn chứ?” Cương nghị đến như Trần Dần, “lãnh tụ trong bóng tối,” sau rốt cũng phải quy hàng chế độ (xem Ghi, TD). Những chuyện đó, theo tôi, chỉ là những hiện tượng bất thường trong một hoàn cảnh cũng bất thường.

Trong thời gian đất nước bị chia cắt, về dịch thuật ở miền Bắc đa số là những văn, thi phẩm dịch từ tiếng Nga của các tác giả Petôfi, Mayakovsky, Sholokhov, v.v. ngoại trừ một cách lộ liễu những nhà văn đối kháng như Solzhenitsyn hay Pasternak mà miền Nam chộp lấy dịch liền. Không thấy có tác phẩm nào dịch từ tiếng Việt ra tiếng Anh hay Pháp, miền Bắc hay miền Nam cũng vậy. Riêng về văn dịch sang tiếng Việt thì trong những năm 55-75, miền Nam “là cả một trời văn học dịch” với số lượng hơn một ngàn tác phẩm dịch mà tác giả Nguyễn Văn Lục đã tổng kết rất chi tiết trong bài “20 năm Văn học Dịch thuật miền Nam“ đăng trên tạp chí Hợp Lưu số 79. Những dịch giả nổi tiếng đồng thời cũng là những học giả và trí thức như Nguyễn Hiến Lê, Nguyễn Văn Trung, Vũ Đình Lưu, Bùi Giáng, Phạm Công Thiện, Trần Thiện Đạo, Liêu Quốc Nhĩ, v.v. (trong bài này, ngừơi viết cũng được vinh dự điểm danh với tác phẩm dịch Ông Đại Sứ (The Ambassador) của Morris L. West, NXB Trình Bầy, Saigon, 1969, được khen là đáng kể và hay.)

(Khi đó, dịch thuật đến với tôi một cách tình cờ do sự mời mọc của nhà văn Thế Nguyên, người chủ trương NXB Trình Bầy, sau khi ông được đọc vài trích đoạn (serials) của tôi dịch từ cuốn Les Centurions (Những Anh Hùng Thấm Mệt) của Jean Lartéguy cho tập san “chui” Thái Độ cùa nhà văn Thế Uyên. Ông Đại Sứ bán chạy đến nỗi phải tái bản lần thứ 2. Sau đó, khi nhà văn Nhật bản Yasunari Kawabata được trao giải Nobel văn chương 1968, ông Thế Nguyên lại thừa thắng xông lên mời tôi lựa chọn dịch một trong hai cuốn Thousand Cranes (Ngàn Cánh Hạc) hay Snow Country (Xứ Tuyết). Tôi chọn dịch Xứ Tuyết vì thấy văn chương đẹp và lãng mạn, ngờ đâu khi xuất bản lại là một thất bại về thương mại. Dịch cuốn Xứ Tuyết, tôi dựa phần lớn theo bản Pháp văn Pays de Neige do Armel Guerne và Bunkichi Fujimori chuyển ngữ, và phần nào theo “Snow Country” do E.G. Seidensticker dịch vì bản Anh ngữ có văn phong khô khan, không mềm mại như bản Pháp văn. Dịch thuật khi ấy, tôi nào có lý thuyết gì, chỉ tâm niệm văn dịch phải thanh thoát và tự nhiên cho độc già người Việt thưởng thức. Sau 40 năm, đọc lại Xứ Tuyết của mình tôi vẫn thấy hài lòng. Chắc đây là một trường hợp “văn mình, vợ người.”)

Sau khi đất nước thống nhất, thi văn xã hội chủ nghĩa vẫn khô cằn đến nỗi nhà phê bình Đặng Tiến phải so sánh với “một bãi sa mạc” trong bài phê bình tập thơ “Bóng Chữ”, điều làm cho tác giả, nhà thơ Lê Đạt phật ý. Phải đợi đến “đổi mới” và “cởi trói”, mới rộ lên những tài năng mới như Nguyễn Huy Thiệp, Dương Thu Hương, Bảo Ninh, Phạm Thị Hoài, Nguyễn Khắc Trường, Lưu Quang Vũ, với những tác phẩm để đời, nhưng cũng chỉ được một thời ngắn ngủi rồi lặng tiếng, người thì viết lách làng nhàng, người thì chạy ra nước ngoài, người thì tai nạn chết. Từ đó “văn là người” không còn ý nghĩa gì nữa. Đặc biệt với thế hệ trẻ sau này, văn là văn, người là người, không có xí xộ gì hết. Có kẻ quá khích còn nói: “Nhà văn đã chết! Văn bản muôn năm!” hàm ý văn bản quan trọng hơn nhà văn đã viết ra nó.

Một điều đáng lưu ý là đa số tác phẩm Việt Nam được dịch ra tiếng ngoại quốc cho đến nay đều là “văn cởi trói.” Những nhà văn đươc chiếu cố nhiều nhất phải kể đến Dương Thu Hương, Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài và Bảo Ninh. Những dịch giả tài năng đáng kể có Phan Huy Đường, Nina McPherson, James Banerian, hai vợ chồng giáo sư Peter Zinoman và Nguyệt Cầm. Cũng còn có vài bản phỏng dịch không đáng kể cùa một số nhà văn hiện thực xã hội chủ nghĩa như Lê Lựu, Ma Văn Kháng, Nguyễn Khải bởi vài dịch giả vô danh người Việt và biên tập do nhà văn “phản chiến” Wayne Karlin.

Văn chương “tiền chiến” được dịch sang ngoại văn heo hắt như lá mùa thu với vài truyện ngắn của Nam Cao, đặc biệt là Chí Phèo, Tắt Đèn của Ngô Tất Tố, Bước Đường Cùng của Nguyễn Công Hoan và đặc biệt là cuốn Số Đỏ (Dumb Luck) của Vũ Trọng Phụng do cặp dịch giả tài năng Peter Zinoman-Nguyệt Cầm chuyển ngữ. Về phía Tự Lực Văn Đoàn, còn tệ hại hơn. Ngoài cuốn Bùn Lầy Nước Đọng của Hoàng Đạo và hai truyện ngắn của Thạch Lam, tuyệt nhiên không có tác phẩm nào cùa Khái Hưng, và đặc biệt của Nhất Linh Nguyễn Tường Tam – mà GS Hoàng Ngọc Hiến đã trân trọng tôn kính là “đại văn hào”- đã được dịch ra ngoại văn cả. (Thật ra Nhất Linh cũng có ký sự Đi Tây dưới bút hiệu Lãng Du đươc dịch nhưng đó không phải là những tác phẩm tạo nên danh tiếng của ông như Đoạn Tuyệt, Dòng Sông Thanh Thủy). Tôi cảm thấy bất nhẫn và cho đây là mối sỉ nhục chung cho văn học Việt Nam đương đại nếu tình trạng này cứ kéo dài. Thay vì dịch thơ Huy Cận, Xuân Diệu, Bùi Giáng, Quang Dũng, người ta lại đi dịch thơ Tố Hữu! Vấn đề là ai đủ tài năng để có thể dịch cho hay ngoài Huỳnh Sanh Thông, người đã dịch Truyện Kiều và một thi tuyển thơ Việt từ thế kỷ 11 cho đến 20. Đó là dịch giả tài ba nhất mà tôi nhận diện cho đến nay.

Ngoài ra và quan trọng hơn, lại có một khoảng trống lớn về phương diện điểm sách và phê bình những tác phẩm đã được dịch để đánh giá chất lượng. Một cuốn truyện dịch đưa ra công chúng mà không có “ma” nào đếm xỉa tới cũng kể như mặc áo gấm đi đêm. Những truyện dịch của Dương Thu Hương vì do những nhà xuất bàn lớn xuất bản bên Mỹ cho nên đã được nhừng tờ báo uy tín như New York Times, Los Angeles Times điểm sách và hết lời ngợi khen. Đáng tiếc cho những văn phẩm dịch của Phạm Thị Hoài chỉ quanh quẩn trong nước Úc và Tân Tây Lan do những nhà xuất bản vô danh nên không có số độc giả đáng kể. Phải chi được xuất bàn bên Mỹ thì lại là một chuyện khác. Tựu chung cũng là do ngừơi dịch tuy có khà năng nhưng vì được bảo trợ và cấp “grant” của Úc đề ngồi dịch nên tác phẩm chỉ được xuất bàn hạn chế. Nhưng Tôn Thất Quỳnh Du cũng có thể kể lả người đam mê và có nhiệt tâm, những đức tính đáng ca ngợi nhưng chưa đủ để hoàn tất những công trình lẽ ra phải nâng cao và phổ biến giá trị của văn chương Phạm Thị Hoài trong số độc giả Anh và Mỹ. Cũng nên lưu ý về một điểm quan trọng thực tiễn khác: Phải tìm cách hấp dẫn những “đại gia” xuất bản ở Bắc Mỹ vì số lượng dân cư đông đảo (Mỹ: hơn 300 triệu; Gia Nã Đại: 33 triệu) hay Anh quốc (61 triệu), trong khi dân số Úc và Tân Tây Lan cộng lại chỉ vẻn vẹn có 25 triệu.)

Không phải là cứ được trao tặng giải thửơng nào đó, dù là Nobel, mà cho rằng tác phẩm toàn bích. Tôi đọc bản dịch Linh Sơn của Cao Hành Kiện mà thấy vô cảm với văn phong tuy rằng cốt truyện làm nao núng lòng người. Trái lại tôi vô cùng thích thú khi đọc hai truyện Đàn Hương HìnhBáu Vật của Đời (Phong Nhũ Phì Đồn) của nhà văn Mạc Ngôn do dịch giả tài ba Trần Đình Hiển chuyển ngữ. Đọc văn Trung quốc mà thấy thoải mái như đọc văn Việt Nam, không có hơi hướm “Tầu” chút nào. Dịch như thế, theo tôi, mới là dịch. Cũng với sự thich thú như vậy, tôi đọc bàn dịch Paradise of the Blind (Những Thiên Đường Mù) của Dương Thu Hương do tài năng Phan Huy Đường và Nina McPherson chuyển ngữ. Đọc bản dịch mà cứ tưởng như một tiểu thuyết sáng tác nào đó. Nhưng là người song ngữ, song văn nên so sánh với nguyên bản tôi cũng thấy có vài ngộ nhận có lẽ vì phải dịch qua Pháp văn. Ví dụ “transmissions battalion” (tiểu đoàn truyền tin) chì có nghĩa với người Pháp. Còn đối với Anh, Mỹ, phải là “signal battalion”. Một ví dụ khác. Khi cô Tâm dặn dò bà đầu bếp, cô nói: “Mỗi mâm xin cho năm đĩa, năm bát.” Không hiểu tiếng Pháp dịch thế nào mà cô McPherson tương luôn: “For each guest, I’d like five plates and five bowls”. Người Anh, Mỹ nào có ý niệm gì về “mâm”, nghe vậy chắc họ cũng hết hồn luôn về khà năng ẩm thực của mỗi thực khách. Đây chỉ là hai thí dụ ngộ nhận đập vào mắt mà thôi.

Tôi chưa được đọc Dumb Luck (Số Đỏ, của Vũ Trọng Phụng) do Peter Zinoman-Nguyệt Cầm dịch, nhưng theo một bài điểm sách, cũng được khen là “thanh thoát” tuy 30 trang giới thiệu có hơi dài dòng. Dịch thuật với tôi chỉ là một “hobby”, thích cái gì thì dịch nấy, với nhu cầu chia xẻ, thế thôi, vả lại tôi cũng bỏ dịch lâu rồi. Với Thiên Sứ của Phạm Thị Hoài, tôi đã đọc từ 1990 khi được NXB Đa Nguyên xuất bản lần đầu. Thích thì thích thật vì nó mới lạ nhưng tôi không đủ đam mê để dịch nó. Gia dĩ nó lại có hơi hướm “nouveau roman” và những ý tưởng hơi “Tây” vì khi sáng tác là lúc tác giả mới du học về, nên có hơi làm dáng với những từ và cụm từ Pháp và Anh rải rác đó đây khắp truyện. Đến khi thấy cuốn The Crystal Messenger do Tôn Thất Quỳnh Du dịch, được xuất bản bên Úc, tôi mừng vì đả có người đủ đam mê và can đảm làm việc đó. Nhưng cầm cuốn sách lên tôi đã hơi thất vọng vì cái nhan đề. Đọc nó, tôi không cảm thấy nó liên can gì đền “thiên sứ” Bé Hon đươc sai xuống trần để ban phát những nụ hôn. Hãy thử làm một cú dịch ngược (reverse translation) để xem nó có ý nghĩa gì: “Người đưa tin bằng pha lê”? Độc giả Úc có thể cho qua vì thấy nó là lạ, nhưng tôi, tôi thấy đó là một sự phản bội. Giở sách đọc qua mấy trang đầu, tôi đã thấy có sự ngộ nhận. “Mở lên những mái nhà” (ouvrir sur les toits) và “những lời rao truyền trên mái nhà” (crier ou proclamer sur les toits) là những ý tưởng thuần Pháp. Chả là ngày xưa mái nhà đều là mái bằng nên các bà nội trợ láng giềng có thể kể cho nhau nghe những chuyện ngồi lê đôi mách (commérages) về nhà nọ nhà kia chứ đâu có phải là “the rooftops’ muffled mumbling”. Vả lại dùng “homo” là đủ, cần chi phải “homo sapiens”, và nếu muốn thế thì phải nói cho rõ hơn “homo sapiens sapiens” là con người hiện đại ngày nay. Tôi không có kiên nhẫn so sánh hai bản văn nên cứ đọc phớt qua thì thấy bản dịch cũng khá thanh thoát tuy không “ấn tượng” như tôi mong ước. Có dịp tôi sẽ quay lại nhận xét bản dịch này.

Trở lại với ngữ nghĩa của “ám thị” mà tôi đã viết trong bài “Đọc Vision Impaired…”, vì vốn Hán học eo hẹp nên tôi đã thỉnh ý GS Nguyễn Huệ Chi, trưởng Ban Cổ Văn, Viện Văn Học VN, một nhà Hán học uyên thâm. Anh Huệ Chi viết:

“Bộ Từ Hải 3 tập (Thượng Hải, 1999) ở tập Trung trang 3978 có 01 chữ “ám thị” ở bên cạnh có nghĩa là biểu thị chứ không phải chữ “thị” là nhìn. Nghĩa hai chữ “ám thị” ấy, “Từ Hải” giải thích dài dòng, nhưng cách hiểu thì cũng như anh đã lý giải, có nghĩa là một hình thức đặc thù về mặt tâm lý, có thể là ngôn ngữ hoặc một dấu hiệu phi ngôn ngữ nào đấy (như động tác, ra hiệu bằng tay, một biểu hiện tình cảm đặc biệt trong hoàn cảnh lúc bấy giờ…) nhằm biểu thị ngầm cho người tiếp nhận biết ý kiến và thái độ của mình. Như vậy, trong kho từ vựng Hán không có từ kép “ám thị” mà chử “thị” là nhìn…Trong phạm vi tiếng Việt thì việc tùy ý đem một từ Hán này ghép với một từ Hán kia rồi giải thích theo lối luận nghĩa của 2 từ ấy để có một nghĩa mới… trước sau vẫn là việc ít nhiều khiên cưỡng.”

Đến đây chắc bạn đọc cũng thắc mắc vì sao tôi cứ quay mũi dùi vào dịch già Tôn Thất Quỳnh Du. Có vài lý do. Thứ nhất, tôi ngưỡng mộ văn chương Phạm Thị Hoài. Thứ hai, tôi nghĩ với khả năng hiện nay, anh TTQD có thể trở thành một dịch giả “tầm cỡ” như Huỳnh Sanh Thông — với điều kiện học hỏi thêm và từ bỏ tư duy “duy ngã độc tôn” — để tiếp tục cống hiến văn chương Việt Nam cho thế giới bên ngoài. Nói thì có người sẽ bảo “đãi bối”, nhưng thật tình, tôi nghĩ “yêu phải cho vọt, ghét thì cho ăn (nước đường)”, và tôi mong rằng thế hệ trẻ sẽ còn nhiều dịch giả có nhiệt tâm như vậy. Có thế mới mong rằng một ngày nào đó, giải Nobel văn chương sẽ về tay một nhà văn Việt Nam. Có bạn nói “phê” thì bao giờ cũng dễ. Tôi không nghĩ vậy. Phê bình cũng khó như viết văn và dịch, đôi khi còn khó hơn. Vì vậy tôi ngưỡng mộ những nhà phê bình, lý luận văn học như Nguyễn Hưng Quôc, Hoàng Ngọc Tuấn, Thụy Khuê, Lại Nguyên Ân, Phạm Xuân Nguyên, cũng như trong văn chương tôi ngưỡng mộ những văn tài thế hệ mới như Trần Vũ, Đỗ Kh., Đỗ Hoàng Diệu, Đặng Thơ Thơ, Đinh Linh, Nguyễn Ngọc Tư, Nguyễn Viện, v.v. kể sao cho hết. Điều tôi ngưỡng mộ ở họ là cái tư duy cách tân mới lạ, khai phá…

Đầu năm 2006, GS Nguyễn Ngọc Bích cho xuất bản cuốn Complaints of An Odalisque mà ông dịch từ Cung Oán Ngâm Khúc của Nguyễn Gia Thiều và có tặng tôi một cuốn. Tôi thấy bản dịch này không được ưng ý lắm vì nhiều chỗ diễn dịch chưa hoàn chỉnh. Một ví dụ: “Chìm đáy nước cá lờ đờ lặn/Lửng da trời nhạn ngẩn ngơ sa” mà ông dịch là: Plunk…to the very bottom the fish sank/And in mid-air the swallows dropped like rocks! Xin nhường bạn đọc phán xét. Còn nhiều đoạn khá ác liệt nữa không tiện nói ở đây. Và ông còn so sánh tiết tấu của kiệt tác cổ điển này với bản Giao-hưởng số 5 của Beethoven! Trí tưởng tượng của ông thật phong phú; tuy nhiên cuốn sách là một ấn bản bắt mắt với những bức tranh minh họa tuyệt đẹp.

Sau hết, nói cho cùng, văn chương và dịch thuật chỉ là để trang trí cho đời lên hương. Văn chương không có sứ mạng giáo dục hay tuyên truyền hay cảnh báo. Văn chương chỉ là “một trò chơi vô tăm tích” như Phạm Thị Hoài đã nói. Và tôi xin thêm nó cũng là “một trò chơi vô tích sự”. Ditto for translation. Tuy nhiên, nếu không có nó thì đời sống tinh thần của chúng ta sẽ nghèo nàn biết bao.

12.12.2008

bài đã đăng của Chu Việt


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)
porn ficken russian porn japanese porn watch porn watch sex izle sex izle anal porn tube amateur porn watch