Trang chính » Chuyên Đề, , Nguyễn Mộng Giác Email bài này

Nhớ Nguyễn Mộng Giác. Và tưởng nhớ một thời văn

 

 

 

.1.

Vậy là anh Giác đã rời bạn bè mà ra đi sớm. Nhanh quá! Tôi nhớ mới ngày nào đây chúng tôi còn gặp anh, nói cười hạnh phúc và chia sẻ bao chuyện về đời sống, về văn học, văn chương và nghệ thuật. Anh Giác là một con người hòa nhã nhưng không thiếu sôi nổi. Con người ấy đã có tài và có một từ trường văn học đủ để quy tụ bao nhiêu văn hữu gần xa về quanh một chỗ ngồi. Tạp chí Văn Học (và trước đó là Văn Học Nghệ Thuật), trong nhận xét của nhiều người, là một điểm son đậm nét trong dòng sống và trong tiến trình phát triển của văn học Việt ngoài nước từ những năm 1985, 1986 đến khoảng ba năm trước đây, khi người chủ bút cuối cùng của nó, là nhà văn Cao Xuân Huy, vì bạo bệnh, đã không thể tiếp tục duy trì tờ báo.

Nguyễn Mộng Giác đã có mặt, cách này hay cách khác, cùng với tờ báo, qua suốt quãng thời gian dài ấy của dòng sống văn chương Việt bên ngoài Việt Nam. Văn Học đã là một dấu mốc, một cột cờ đẹp đẽ của dòng văn chương nghệ thuật ấy. Nó đã là tiếng reo ca và là ánh nắng của tự do—với những hạnh phúc, thiết tha, cùng với cả khổ đau và những hệ lụy của nó, của cuộc làm người Việt bên ngoài đất nước. Từ ngôn ngữ, chúng ta tìm được tâm thức và con người Việt trong những khung cảnh lưu đầy. Và trong những con đường sống mới.

Ở đây, nhớ Nguyễn Mộng Giác, tôi muốn ghi lại một ít kỷ niệm mà chúng tôi đã có với nhau, như một cách lần về, lần theo những đường chỉ cũ, vốn, qua chúng, tôi đã đến với văn học ngoài nước nói chung, và với Văn Học, như một diễn đàn văn chương và học thuật, nói riêng.

Nhớ bạn, tôi nhớ đến cả một thời.

 

NHH-PQB-BVP-NMG

Tại Camp Pendleton (4/05/1985), cùng phái đoàn nhà văn, nhà báo.
Kỷ niệm trước ngày trại đóng cửa vĩnh viễn.
Từ trái: Nguyễn Hải Hà, Phạm Quốc Bảo, Bùi Vĩnh Phúc, Nguyễn Mộng Giác

 

.2.

Tôi vượt biển vào cuối năm 1977. Dạt vào bờ biển Mã Lai, tôi được đưa vào trại Pulau Besar và ở đó cùng thời gian với nhà văn Mai Thảo, nhà văn/nhà giáo Quyên Di, và nhạc sĩ Văn Phụng, chưa kể họa sĩ Hà Cẩm Tâm, tài tử Ngọc Phu, ca sĩ Châu Hà, và biết bao người bạn, người quen thân và sơ khác nữa. Có nhiều kỷ niệm đẹp và thật đáng nhớ trong giai đoạn này, nhưng những điều ấy có thể tôi sẽ ghi lại trong một dịp khác.

Tôi ở trên đảo khoảng hơn ba tháng. Khoảng thời gian còn quá ngắn để thật sự cảm nhận được đầy đủ hạnh phúc của giai đọan này, mặc dù, sang đây, nhìn lại, tôi hiểu ra rằng đó chính là một trong những thời gian hạnh phúc nhất mà mình có được. Sau đó, tôi được chuyển lên Kuala Lumpur, sống trong trại chuyển tiếp khoảng một, hai tuần. Rồi, sang Mỹ qua ngả Hồng Kông, ở lại đây khoảng hai ngày để làm các thứ giấy tờ. Cuối cùng, cũng đến Mỹ. Lúc đó là tháng Tư, năm 1978.

Sang Mỹ được ít tháng, thèm đọc đã đành, nhưng còn thèm viết nữa. Đã có một, hai lần, tôi cùng một vài bạn văn đã hì hục chung tay làm nên một, hai tờ báo với sự hăng say và lý tưởng của những người thèm khát tiếng Việt trên nước Mỹ. Bao nhiêu thiết tha và hào hứng được chúng tôi đổ vào đó. Nhưng vì nhiều yếu tố khác nhau, những tờ báo ấy ra được vài số thì lăn quay ra chết. Sau đó, tuy bị chuyện học hành và kiếm sống chi phối, tôi vẫn còn mê đọc sách báo. Thỉnh thoảng tôi cũng làm thơ cũng như viết tùy bút, tạp văn và gửi cho một vài tạp chí văn nghệ thời ấy, trong đó có Văn Học Nghệ Thuật (bộ cũ) của Võ Phiến. Giai đoạn này, tôi chưa mặn mà với lý luận, phê bình.

Theo tôi biết, anh Giác vượt biển năm 1981; sang đến Mỹ vào cuối năm 1982. Anh ở Texas một thời gian rồi sang California lập nghiệp. Tôi biết anh là vào khoảng năm 1984, khi anh đang phụ trách trang nghệ thuật của báo Đồng Nai tại Quận Cam. Trang báo được anh chăm chút một cách cẩn thận. Từ cách thiết kế các tiết mục văn nghệ, các bài vở cho đến chính nội dung của các bài vở ấy. Một lần, anh Giác cho đăng làm hai hay ba kỳ chuyện vừa Ngựa Nản Chân Bon mà anh đã viết trên đảo tỵ nạn Kuku, Galang, trong những ngày chờ được định cư tại một nước thứ ba. Câu chuyện vừa phản ánh được thực tế lịch sử, xã hội còn đầy tươi và roi rói chất sống của hoàn cảnh đất nước và con người Việt Nam, vừa đưa ra được những tư tưởng, những đánh giá và suy nghĩ mang tính triết lý của một trí thức miền Nam trong cuộc. Đặc biệt hơn nữa là cái cách mà Nguyễn Mộng Giác thể hiện câu chuyện, cái bối cảnh mà anh đặt những nhân vật của mình trong đó để làm bật sinh câu chuyện với những câu hỏi muôn đời của nó. Ngôn ngữ và cách dùng những thủ pháp gần gụi của điện ảnh để dẫn nhập câu chuyện cũng như để khai mở, phát triển nó cũng là những nét đặc biệt. Đọc được truyện ngắn (đúng hơn là truyện vừa ấy), tôi thật thích, vì, đối với tôi, nó đáp ứng được những khát khao về mặt thẩm mỹ trong văn học mà đã từ lâu, ít ra từ những ngày cuối tháng Tư, 1975 cho đến lúc ấy, tôi không có dịp được nếm trải, được tiếp cận. Nói một cách thô sơ, nó là một câu truyện có tư tưởng sâu sắc, được diễn đạt với kỹ thuật khéo léo và với một ngôn ngữ xứng tầm. Tôi lấy giấy bút ra và, trong hai ngày, viết xong một tiểu luận phê bình về chuyện ngắn này của Nguyễn Mộng Giác. Tôi gửi cho anh Giác qua địa chỉ của báo Đồng Nai. Ngay trong tuần sau đó, tiểu luận ấy của tôi được đăng trên trang văn nghệ của tờ báo (1). Cùng lúc, tôi nhận được một lá thư của anh Nguyễn Mộng Giác. Trong thư, anh cám ơn về bài tôi viết, và mời tôi ghé lại tòa soạn nói chuyện văn chương.

Tôi ghé lại thăm anh tại tòa soạn báo Đồng Nai khoảng một tuần sau khi nhận được bức thư ấy. Đọc anh trước đó tại Việt Nam tuy không nhiều, nhưng tôi đã, ở một mức độ nào đó, có một cái nhìn về văn chương anh. Dù sao, khi gặp trực diện và trong những chia sẻ, trao đổi, tôi thấy cái làm tôi quý mến Nguyễn Mộng Giác nhất chính là sự thiết tha với văn học của anh. Ngoài ra, anh lại còn là một con người dễ gần. Tôi thấy anh có những hiểu biết khá rộng rãi về văn học Việt Nam và văn học thế giới, nhưng anh chia sẻ về chúng một cách điềm đạm, cho dù trong cái điềm đạm ấy không thiếu những nét sôi nổi. Là một người cũng mê say văn học nghệ thuật, tôi thấy mình như tìm được một người bạn thân thiết, cho dù anh hơn tôi những 13 tuổi.

Trở lại chuyện ngắn Ngựa Nản Chân Bon, tôi nghĩ rằng đó là một trong những chuyện ngắn độc đáo của văn học Việt Nam đương đại. Và, trong bài tiểu luận phê bình của mình về tập truyện ngắn mang cùng tên ấy của anh, tôi đã nghĩ rằng không biết trong tương lai anh còn có thể (hoặc có cơ hội) viết được một truyện ngắn khác ngang tầm với nó không. Sau này, khi đã thân, nói chuyện thêm với nhau, về câu hỏi ấy, anh cho biết là có lẽ không còn một dịp nào để anh viết được một truyện ngắn như thế nữa. Anh cho biết chính là do hoàn cảnh sinh sống tại đảo đưa anh đến một tâm trạng; cái tâm trạng ấy lại kết nối với cái tâm trạng sẵn có nơi anh khi rời bỏ Việt Nam để làm một cuộc phiêu lưu sinh tử đi tìm cõi sống. Từ đó, nó đưa đến cho người viết là anh một cái nhìn sâu xa hơn về cuộc sống và ý nghĩa cuộc tồn sinh của con người. Rồi những cảnh đời trên đảo, những xót xa, khổ đau và hệ lụy, những đám tang chôn vội chôn vàng từ những hoàn cảnh đặc thù và đáng buồn trong nước mắt của những người ở lại. Cộng với sự thức nhận về ý nghĩa và giá trị của một niềm tin tôn giáo, cho dù niềm tin ấy có bất kỳ cội rễ nơi đâu. Tất cả những cái ấy làm nên một “tâm cảnh” (tôi tạm gọi như vậy, còn anh Giác thì cho rằng tất cả những điều ấy làm nên một tâm trạng chung, có tính phức tạp, ảnh hưởng đến sự suy tư của con người); từ đó, nó dẫn dắt câu chuyện trong anh và giúp anh kể ra một cách thành công câu chuyện ấy. Anh bảo anh không nghĩ là anh còn có một cơ hội khác để viết được một câu chuyện, với chữ nghĩa và kỹ thuật và chiều sâu tâm lý trong việc dựng chuyện, ngang mức như vậy. Ít nhất là trong thể loại truyện ngắn.

Hãy đọc thử lại đoạn đầu của Ngựa Nản Chân Bon:

Gió vi vu làm nền cho lời ca thánh: … “Nhờ công ơn lân tuất của Chúa ta, Đấng đã từ cao cho ‘Mặt trời mọc’ đến thăm viếng. Và soi sáng cho những ai còn ngồi trong u tối và trong bóng chết, để dắt chúng ta trên con đường an lạc. Lạy Chúa xin cho các linh hồn được yên nghỉ muôn đời và được hưởng ánh sáng nghìn thu. Ta là sự sống lại và là sự sống. Ai tin ta thì dù có chết sẽ được sống lại, và ai sống mà tin ta thì không phải chết đời đời”.

Vị linh mục đọc kinh Lạy Cha… và rảy nước thánh lên chiếc quan tài đóng vội bằng gỗ ván thuyền. Vợ người quá cố khóc thảm thiết, và lúc bấy giờ lời cầu nguyện lại làm nền cho tiếng khóc. (…)

Quả phụ nín khóc. Dường như một lúc nào đó, tạm quên đau khổ nàng lắng nghe lời ca thánh, và bất chợt nhận thấy lời nguyện chung gần gũi với nỗi lo lắng và niềm mơ ước riêng tư. Hoặc niềm đau xót đã đến chót vót, khiến nàng bàng hoàng ngơ ngác, như người đã lên đến ngọn đỉnh trời, lo âu nhìn vực thẳm quanh mình, không biết làm gì nữa giữa chốn mây khói bàng bạc và gió thổi. Vị linh mục tiến thêm một bước để làm dấu thánh giá trên quan tài… (…)

Đã đến giờ hạ huyệt. Từng nắm cát rơi rào rào trên tấm ván thiên, lâu lâu có lẫn tiếng sỏi rơi khô. Góa phụ lại nức nở khóc. Chẳng mấy chốc bên bãi đáp phi cơ trực thăng lập chon von trên sườn núi có thêm một ngôi mộ. Những người đưa tang lần lượt xuống núi, lòng nặng trĩu đẩy bước chân mau…

Đoạn mở đầu này mang khí vị và khung cảnh gần gũi với đoạn mở đầu của tác phẩm Bác sĩ Zhivago của Boris Pasternak. (Phim chuyển thể từ tác phẩm này do đạo diễn David Lean thực hiện và cho ra mắt vào năm 1965 cũng tạo một ấn tượng rõ nét ở đoạn này.) Từ đó, Ngựa Nản Chân Bon mở ra những tầng sâu tư tưởng và triết lý như ta đã biết. Ý nghĩa của một đời người, hay ý nghĩa của cuộc hiện sinh nói chung của con người, được gợi nhắc qua một cái chết. Chết không phải là hết, nhưng nó chính là khúc dạo mở đầu cho việc đi tìm ý nghĩa của sự sống. Những ý nghĩa ấy bật lên từ sự suy tư của con người về một sự chấm dứt. Nhưng sự chấm dứt, nhìn kỹ lại, chính lại là một sự khởi đầu. Một sự khởi đầu mới.

 

.3.

Tình thân của chúng tôi từ đó tiếp tục phát triển.

Năm 1985, chúng tôi có dịp ngồi chung với nhau cùng với một số bạn văn như Nguyễn Bá Trạc, Hoàng Khởi Phong, Phạm Quốc Bảo, Cao Xuân Huy… để làm nguyệt san Văn Học Nghệ Thuật (bộ mới), rồi sau đó là Văn Học. Những bước khởi đầu của tờ báo này, cùng với những khó khăn và những kỷ niệm mà chúng mang lại, đã luôn là những rung động không hề tắt—tôi nghĩ như thế—của tất cả anh em chúng tôi mỗi khi có cơ hội nhìn lại hay làm sống lại trong tâm hồn mình những ngày tháng đó. Tôi sẽ không kể lại những chuyện ấy ở đây. Nhưng tôi muốn nói là những kỷ niệm ấy đẹp. Đó là những kỷ niệm của một nhóm “đầu xanh tuổi trẻ” (2), lưu vong bên ngoài đất nước (3), yêu văn chương chữ nghĩa Việt, thiết tha với sự mơ mộng và những lý tưởng đáng yêu của mình, và đã dám đánh đổi nhiều thứ để có được tờ báo ấy và những kỷ niệm ấy. Có những người trong chúng tôi, trong đó ít nhất là Nguyễn Bá Trạc, Nguyễn Mộng Giác và Hoàng Khởi Phong, cách này hay cách khác, đã viết về những ấn tượng và rung động mà thời kỳ này còn để lại trong lòng họ. Cho dù mỗi người có một phong cách, một văn cách riêng, với những bảng mầu kỷ niệm riêng, với những âm sắc riêng và những độ rung khác nhau nơi những kỷ niệm chung, tôi nghĩ tất cả chúng tôi đều đã chia sẻ với nhau những nét chung nhất và đẹp tươi của những kỷ niệm ấy, cho dù cũng có những chỗ những nét mực kia đã bị thời gian làm cho phôi pha đi ít nhiều.

 

TV-NMG

Trần Vũ và Nguyễn Mộng Giác
tại nhà của BVP (Tết 2004)

 

Nguyễn Mộng Giác đã là cái điểm son đẹp nối kết chúng tôi và nhiều bạn văn khác ngồi lại chung với nhau trên một tấm chiếu văn học. Một cách văn vẻ, tôi xin phép nói là “chiếu”, nhưng nó không phải là một tấm chiếu mà, ngày xưa, người ta thường trải ra cho những quan viên trong làng ngồi trong những dịp làng vào hội. Tấm chiếu tôi nói đây không mang một nội hàm chật hẹp và có thể mang đôi chút tính tiêu cực như thế. Đây là một tấm chiếu được trải ra trong lòng yêu văn chương chữ nghĩa của người Việt khắp nơi trên toàn thế giới. Bởi thế, mọi người đều có thể ghé chơi và ngồi xuống đó.

Cho dù lúc ấy vẫn còn làm thơ và thỉnh thoảng viết tùy bút, tản văn (tôi vẫn coi thơ và những cái viết này như những niềm yêu thích đầu đời đã dẫn tôi đến văn chương và văn học Việt), tôi đã viết phê bình từ đó. Lúc đầu, như một sự phân công, phần nào theo khả năng (trong sự đánh giá chung của anh em trong nhóm) (4); rồi, từ đó về sau, do sự yêu thích và do sự đầu tư thời giờ của mình trong lĩnh vực này của văn học. Ngoài những bạn văn đã từng quen biết nhau và cùng nhau góp phần xây dựng tờ báo, rất nhiều bạn văn mà tôi yêu mến và có được trong cuộc sống sau này là từ diễn đàn Văn Học. Xin được cám ơn tất cả. Tất cả những khuôn mặt, những cái tên, những con người ấy đã góp phần, cùng với những người cầm bút khác nữa, làm nên những ngọn sóng, những dấu ấn, và làm nên cái diện mạo văn học chung của cả một thời. Rồi từ đó, từ những bạn văn trên Văn Học, hay từ những nối kết cách này hay cách khác dính líu đến Văn Học, tôi lại có được thêm bao người bạn đáng quý khác. Biết bao nhiêu ân tình đẹp đẽ và thiết tha đã được nẩy nở từ một tờ báo. Và một tờ báo sẽ biến thành chục tờ báo, thành trăm tờ báo khác. Tôi nói “nẩy nở” ở đây không phải trong ý nghĩa là “sinh ra”, tờ báo này “sinh ra” tờ báo kia. Mà là trong ý nghĩa tờ báo này tạo điều kiện, tạo hứng khởi, hoặc tạo sự kích thích (vì vấn đề cùng chia sẻ hay không chia sẻ một lập trường, một quan điểm, trong một lĩnh vực nào đấy) cho tờ báo kia (hoặc những tờ báo khác) ra đời. Chẳng phải là chữ nghĩa và văn chương của chúng ta, nói riêng, và của thế giới nói chung, đã không đi theo con đường đó hay sao?

Văn Học, trong sự ra đời tương đối sớm sủa của nó (5) , và với sự quy tụ được một số đông những người viết có uy tín và có phong cách, đã trở nên một diễn đàn văn học được nhiều người và nhiều giới ủng hộ. Chúng tôi nhớ lại, qua những năm cùng ngồi làm Văn Học với nhau, đã có biết bao nhiêu hội ngộ văn chương đẹp đẽ, bao nhiêu tài năng đã xuất hiện và được độc giả yêu mến, quý phục, bao nhiêu tác phẩm đã được hình thành và ở lại trong lòng người đọc. Tất cả những điều đó là cái đẹp mà văn chương đã mang lại, mà chúng ta đã trao tặng cho nhau, giữa những người viết, cũng như giữa người viết và người đọc. Nguyễn Mộng Giác, trong khung cảnh của Văn Học, là người đã ở giữa những điều ấy. Dĩ nhiên, anh ở đó cùng với những người khác nữa. Nhưng nụ cười của anh, sự bình đạm của anh, cái nhìn của anh, cái chất keo kết dính nơi anh, đã là một điểm để cố kết mọi người lại, để giữ cho ngọn lửa cháy đỏ.

 

.4.

Nguyễn Mộng Giác yêu thích văn chương của những nhà văn lớn của thế giới. Nhưng có lẽ người anh yêu quý và nể phục nhất là Fyodor Dostoevsky. Trên kệ tủ sách của anh, trong nhiều năm, dù tủ sách ấy đặt trong căn nhà nào, tôi vẫn thấy một bức chân dung nhỏ, đen trắng, của nhà văn này, được cắt ra từ một tờ báo nào đó và lộng trong một khung kính nhỏ. Anh để hình của nhà văn Nga, một bức hình gọn và nhẹ, trên kệ sách của mình, như người ta có thể để một tấm hình người yêu ở đó. Anh chia sẻ với tôi là anh học được nhiều điều từ nhà văn này, có lẽ còn nhiều hơn từ Lev Toltoys, một nhà văn Nga khác mà anh cũng yêu thích và có chịu khá nhiều ảnh hưởng.

Ngoài một số lần chúng tôi đi chơi chung, hoặc cùng nhau tham dự, ở những thành phố hay tiểu bang xa nào đó, trên Washington, D.C. chẳng hạn, những buổi ra mắt sách hoặc cùng gặp bạn bè, thân hữu văn học, những buổi gặp gỡ của tôi với anh thường là tại nhà anh, cũng là tòa soạn của diễn đàn Văn Học trong nhiều năm trời. Về mặt địa lý, chúng tôi ở gần nhau, cho dù thường không sống chung trong một thành phố; tôi lại thường cùng anh, trong một thời gian khá dài, đọc và chia sẻ những niềm vui từ những sáng tác của các thân hữu và những người viết xa gần—tin tưởng tờ báo và gửi những bài viết, những tác phẩm của mình cho Văn Học—nên tôi thường có dịp ghé qua “tòa soạn” để, phần nào, giúp lo cho tờ báo, phần khác, chia sẻ những tin tức văn nghệ và thăm hỏi về cuộc sống của nhau (6) . Những dịp ấy, anh thường chia sẻ với tôi cái hạnh phúc thời anh còn trẻ: có được ít tiền là bỏ vào việc mua những cuốn sách tiếng Pháp trong dạng “Livre de Poche” để thu thập thêm kinh nghiệm viết lách của những nhà văn trên thế giới. Đây là những cuốn sách, đúng như tên gọi của nó, có thể bỏ gọn trong túi quần hay túi áo, để mang đi chỗ này hay chỗ kia, khi nào rảnh thì mang ra “trò chuyện”. Không được như dạng sách điện tử (e-book reader) thời nay ở khía cạnh lưu giữ dữ kiện—một thiết bị đọc như Kindle, Nook hay iPad bây giờ chẳng hạn có thể chứa được vài chục hay vài trăm quyển sách—những quyển sách trong dạng “Livre de Poche”, mà tôi cũng từng là một độc giả thân thiết và trung thành thuở còn đi học (và giờ đây, phần lớn vì lý do kỷ niệm, tôi vẫn còn thu thập được cho mình tại Mỹ này trên dưới 30 quyển sách theo dạng đó của những tác giả mà tôi yêu mến), đã là những món ăn tinh thần, cùng lúc, là phương tiện thật rẻ của nhiều người Việt chúng ta ngày xưa để học thêm Pháp văn. Đó là những quyển sách gọn, nhẹ, trình bày trang nhã, rất tiện để mang đi đây đó. Anh Giác, trong những lần nói chuyện riêng như thế, thường hay trở lại với những cuốn sách mà anh yêu thích. La Guere et La Paix của Tolstoy, La Porte Étroite của Gide, La Peste của Camus, Les Frères Karamazov của Dostoevsky, v.v. Tôi nhận thấy, hình như anh nói về những cuốn sách thì ít, mà anh nói về tuổi trẻ của mình nhiều hơn (7). Một tuổi trẻ hạnh phúc với những cuốn sách và với những mơ mộng văn chương của mình. Chính vì thế, tôi không ngạc nhiên khi thấy anh dám “xả thân” vào chuyện làm báo nơi xứ người, trong khi chuyện “cơm áo” của anh, ít nhất trong giai đoạn đầu của cuộc sống anh trên nước Mỹ này, chưa có thể nói là vững chãi.

 

NMG-TCDT-PN-TC

Từ trái: Nguyễn Mộng Giác, Tạ Chí Đại Trường, Phùng Nguyễn, Trúc Chi (2004)

 

Anh Giác đã sống qua mấy căn nhà từ ngày anh đặt chân đến California, chưa kể một thời gian ngắn anh sống tại Texas. Trừ căn nhà cuối (khi anh đã có công ăn việc làm vững chãi, vợ anh đã sang đoàn tụ với anh, các con anh đã trưởng thành và thành đạt) là tương đối khang trang và có phòng khách tạm đủ rộng để anh đón khách văn từ nhiều nơi đổ về, những căn nhà trước đó—cũng là những địa chỉ của một bàn viết lữ thứ và tâm điểm của một quy tụ văn học—chỉ là những chốn “tạm cư” khá ọp ẹp của một người cầm bút. Nhưng một ngọn lửa văn chương, từ những nơi chốn đó, vẫn luôn được nuôi dưỡng và thiết tha ngun ngún cháy.

Nguyễn Mộng Giác yêu thích văn chương và những thể hiện của nó nơi những trang thơ, trang văn của các nhà văn Việt cũng như của các cây bút lớn trên thế giới. Nhưng có lẽ sự thể hiện cụ thể đó của văn học là điều anh yêu thích nhất. Anh không cảm thấy bị cuốn hút hay thích thú lắm với những gì trừu tượng mang tính lý thuyết. Anh có theo dõi, phần nào, những trào lưu và lý thuyết văn chương nở rộ trong khoảng 30 năm cuối của thế kỷ XX, và, đặc biệt, trong những năm cuối của thế kỷ trước bước sang những năm đầu của thế kỷ mới này, nhưng anh không mặn mà với chúng lắm. Ngoài ra, vì lý do sức khỏe, và có lẽ cũng vì cái “tạng” của mình, anh không theo dõi kỹ bước đi của những lý thuyết văn học sau này.

Biết tôi chịu khó đọc và có ý thích các lý thuyết văn học, anh hay hỏi tôi, trong nhiều lần gặp mặt giữa chúng tôi khoảng 15 năm cuối đời của anh, những câu hỏi liên quan đến các lý thuyết mới và tác dụng của nó trong sáng tác và trên đời sống văn học của người cầm bút nói chung. Anh chăm chú lắng nghe những điều tôi chia sẻ, có tinh thần cầu thị thực sự, và có vẻ vui vì thu lượm được một số điều từ sự thảo luận ấy. Dù sao, trong đôi mắt của anh, tôi thấy có lúc vẫn ánh lên cái nét “tinh quái” đáng yêu của một người cầm bút đã từng xông pha, lăn lộn quá lâu trong miền “thực địa” của chuyện viết lách! Hình như anh muốn nói với tôi là, “Tôi đã hiểu những gì anh chia sẻ với tôi về những lý thuyết văn học ấy. Tôi cám ơn anh vì điều đó, và tôi biết là các lý thuyết ấy có sự sâu xa của chúng. Nhưng cái làm nên văn học và cái neo giữ người ta với văn học, tôi vẫn tin là nó phát xuất từ ánh lửa tình cảm bên trong tâm hồn con người. Ánh lửa ấy cần phải rung động, chập chờn một tí, qua đó, nó vẽ nên những hình ảnh “hư hư thực thực” của cuộc đời; những hình ảnh “gần như thực” (8) ấy là cái kéo người ta về với những tác phẩm văn học, làm người ta hiểu rõ về đời sống hơn, học hỏi được nhiều điều từ cuộc sống hơn. Còn lý thuyết, những suy nghĩ có khi quá trừu tượng, có khi lại được phân tích quá rõ, như được chiếu sáng bởi mặt trời ấy, chưa hẳn đã làm cuộc sống con người thi vị, sâu lắng và cuốn hút chúng ta.” Dù đã gần nhau và đã chia sẻ với nhau nhiều điều về văn chương học thuật trong một thời gian quá dài, qua thái độ và ý kiến của anh về mặt này mặt nọ trong đời sống văn chương, tôi có cảm nhận là anh như muốn nói những điều như thế với tôi. Lúc ấy, tôi có thể đã nói với anh là, “Dù sao, chính cái ánh lửa lung linh chập chờn mà anh nói đó cũng mang trong nó hơi thở của lý thuyết.” Tuy nhiên, tôi đã giữ lại suy nghĩ này. Chúng tôi đã quá hiểu nhau để có những lúc không cần phải nói ra những suy nghĩ của mình. Và thật ra thì anh có nói rõ những điều ấy với tôi đâu! Nhưng nếu đúng là ánh mắt của anh đã nói những điều mà tôi cảm nhận, thì đó có thể là cái nhìn của anh về văn học. Và cái nhìn đó vẫn giúp anh tham dự tích cực vào đời sống văn học theo cách riêng của mình. Anh đã để lại cho cuộc sống những cống hiến thiết tha, tầm vóc và đáng quý qua cả một đời văn. Anh được yêu thương và quý mến với những đóng góp ấy.

Và đó chính là cái xứng đáng mà một nhà văn để lại cho người đọc: tác phẩm của anh ta. Dù cho nó được thể hiện trong bất cứ một thể loại nào, một đề tài nào. Hoặc trong bất cứ một hoàn cảnh sống nào.

 

.5.

Nhớ Nguyễn Mộng Giác là nhớ cả một thời. Là nhớ những buổi họp mặt ở những “quán văn”, những “lều văn” khác nhau trong suốt gần 25 năm văn chương viết lách. Là nhớ những câu chuyện văn chương, văn học được mang ra chia sẻ, những “kế hoạch” văn chương được xây dựng, được “lên khung”, và rồi được hay bị xóa đi làm lại (hay bị vất bỏ luôn vào những garage ký ức). Là nhớ bao hăng say trong những “việc văn” được giao phó, những mổ xẻ, thậm chí những tranh luận gay gắt, vì lý do này hay lý do khác. Là nhớ những trăn trở về đường hướng làm việc giữa một cộng đồng mỗi ngày mỗi phát triển lớn mạnh cùng với những phức tạp của nó, giữa những dòng chảy văn học, những trào lưu văn chương của thế giới mà cuộc sống ở ngoài nước, tuy nhiều khó khăn vất vả, nhưng cũng tạo cơ hội cho người viết nói chung, và cho chúng tôi nói riêng, được tiếp cận, học hỏi, suy nghĩ và thẩm thấu.

Nhớ bạn là nhớ cả một thời. Một thời có nhau. Một thời “bay nhảy”. Một thời lý tưởng và hăng say. Một thời thiết tha và học hỏi. Và một thời trên môi ta, dù tuổi tác thế nào, vẫn luôn có sẵn tuổi trẻ và một nụ cười.

Tuổi trẻ để lăn lộn. Và nụ cười để xóa bỏ đi tất cả những dị biệt, những hiểu lầm, những khó khăn trên con đường hay trên cái đích mà mình nhắm tới. Tuổi trẻ để ta không ngại, không sợ. Và nụ cười để ta thả đi tất cả như mây bay.

Nguyễn Mộng Giác đã chẳng còn ở với chúng ta nữa. Anh đã để tuổi trẻ anh ở lại. Nhưng, trong tôi, anh vẫn giữ mãi một nụ cười.

Và tất cả những điều khác thì đã thành mây trôi đi.

  
Tustin Ranch
Ngày 12 tháng Tám, 2012

________________________________________________

Chú Thích:

(1) Tiểu luận này, sau đó được viết lại cũng vào năm 1984, với những

phần lược bỏ và khai triển, để đưa ra nhận định chung về cả tập truyện ngắn của Nguyễn Mộng Giác mang tên là “Ngựa Nản Chân Bon” (trong đó có truyện ngắn cùng tên như đã đề cập). Tiểu luận viết lại này, “Nỗi Băn Khoăn của Nguyễn Mộng Giác / Đọc tập truyện Ngựa Nản Chân Bon”, sau đó được đưa vào sách “Lý Luận và Phê Bình / Hai mươi năm văn học Việt ngoài nước — 1975-1995” của Bùi Vĩnh Phúc (California: Văn Nghệ, 1996).

(2) “Đầu xanh tuổi trẻ”. Có lẽ, may ra, chỉ có tôi là còn… tương đối “trẻ”. Những người bạn kia đều hơn tôi khoảng từ 10 đến 13 hay 14 tuổi. Nhưng, thật sự, lúc bấy giờ, tất cả chúng tôi đều còn trẻ. Rất trẻ. “Trẻ”, trong cái nghĩa là “dám làm”, và nhìn tất cả mọi sự trong một mắt nhìn còn nhiều lý tưởng. Con mắt ấy chưa bị trái tim, với những đắn đo của nó, gửi đến những sợi khói của thực tế làm cho cay xé.

(3) Trong một số khía cạnh nào đó, cả trong địa-văn hóa lẫn địa-chính trị, tôi không nghĩ là không có những con người phải sống lưu vong ngay trên đất nước của mình.

(4) Tôi nhớ, trong tinh thần khát khao tự do và hoài vọng quê nhà, bài đầu tiên tôi viết cho sân chơi văn học chung này, vào khoảng tháng Năm 1985, là bài “Kinh Cầu Nguyện của Một Nhà Văn Lưu Vong / Đọc tác phẩm The Questionnaire” của Jirí Grusa. Tác phẩm này, có nguyên tên là “The Questionnaire, or Prayer for a Town and a Friend”, được phát hành rộng rãi tại các nước Tây phương sau khi tác giả của nó định cư tại Tây Đức. Đây là một nhà văn Tiệp Khắc đã từng viết trong truyền thống samizdat của những Milan Kundera, Czelaw Milosz, Slavomir Mrozek, v.v., và các tác phẩm của ông, trước đó, đã từng được yêu thương và truyền tụng lén lút ngay trên chính quê hương mình.

(5) Gọi là sớm sủa, nhưng thật ra, khi Văn Học ra đời, khoảng mười năm đã qua đi kể từ tháng Tư 1975. Trước đó, không phải là đã không có những nỗ lực văn học và văn chương của người Việt ngoài nước, muốn vực dậy một giọng nói, một tiếng nói, như một hơi thở cần thiết để con người tiếp tục sống còn; nhưng, vì những yếu tố khác nhau của hoàn cảnh, những nỗ lực này, qua những tạp chí văn học hay những tờ báo mang tính văn chương, đã không có cơ may được tồn tại lâu dài, và ghi những dấu ấn sắc nét hơn trong lòng người đọc. Nhưng tất cả những nỗ lực đó đều là những nỗ lực đẹp đẽ và đáng trân trọng, không những đáng được, mà còn cần được, ghi nhận. Cái duyên và cái may cho Văn Học, có lẽ, là do cái thời đã tạo nên nó. Mười năm (1975-1985) có lẽ đã khá đủ cho một sự chiêm nghiệm bình tĩnh và sâu lắng. Và sự có mặt, ở ngoài nước, chỉ mới từ một vài năm trước đó của thêm nhiều nhà văn, trong đó có Nguyễn Mộng Giác, vốn là những người, trước đó, còn ở trong nước. Sự quy tụ của những nhà văn mới đến và những nhà văn có mặt trước đó, đặc biệt từ ngay sau thời điểm 1975, đã tạo tiền đề tốt cho một sự bùng nở (hay bừng nở) của văn học Việt ngoài nước. Tôi nghĩ, cái duyên đó hẳn nằm trong cái thời.

(6) Tôi nhớ, trong cùng một giai đoạn, có lẽ khoảng cuối những năm 1990, chúng tôi, đặc biệt tôi và anh Nguyễn Mộng Giác (vốn thường chia sẻ ý kiến về các bài vở nhận được trong giai đoạn này), đã rất vui và thích thú khi nhận được hai loạt bài viết đặc sắc, cùng về thơ, của hai tác giả khác hẳn nhau trong phong cách, một người đã có tiếng trước 1975, và một người, cho đến lúc đó chúng tôi chưa được đọc nhiều, là Đỗ Quý Toàn và Nguyễn Hưng Quốc. Loạt bài của hai vị này, sau đó, được in lại thành hai quyển Tìm Thơ Trong Tiếng Nói (Đỗ Quý Toàn) và Nghĩ Về Thơ (Nguyễn Hưng Quốc).

(7) Sách, truyện , âm nhạc, phim ảnh, v.v. , khi được đọc, xem, thưởng thức lại, rất nhiều khi, có tác dụng như là một ngọn lửa, là một chất men tạo nên ánh sáng và hơi ấm, soi tỏ và làm dậy lên, làm sống lại những hình ảnh tha thiết cũ trong trái tim người. Không phải nghệ thuật đã sống mãi, và ta đã yêu nghệ thuật, phần lớn, vì nó đã đem lại cái hiệu ứng đó hay sao?

(8) “Gần như thực”, tiếng Pháp là “vraisemblable”. Đây có thể coi là một thuật ngữ văn học, để nói đến cái tính chất không thực sự giống, hoặc, có khi, không trùng khít với hiện thực ngoài đời của truyện. Văn bản của truyện luôn mang tính mờ đục, bất thấu quang, để đẩy người xem vào thế phải lý giải. Và chính lý giải cũng là một phần của sự sống, có lẽ là phần chính yếu nhất. Đây từng là một đề tài lý thú của văn học và của vấn đề thẩm thức văn chương.

bài đã đăng của Bùi Vĩnh Phúc


1 bình luận »

  • Thứ năm (16/08/2012) | Bồ câu đen viết:

    […] trối. Hàng mấy chục năm bị chính quyền  liệt vào diện “phản động”. Nhớ nguyễn mộng giác. và tưởng nhớ một thời văn (Da Màu). Kẻ phản phúc khôn ranh (Việt Thức) Một nhóm nữ tu từ Việt Nam […]

Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)
porn ficken russian porn japanese porn watch porn watch sex izle sex izle anal porn tube amateur porn watch