Trang chính » Dịch Thuật, , Nhận Định, Sang Việt ngữ Email bài này

Tại Sao Tôi Vẫn Làm Thơ?


♦ Chuyển ngữ:
1 bình luận ♦ 24.05.2012

 

 

chessfever

Một cảnh trong phim Nga Chess Fever (Sốt Cờ Vua) (Шахматная горячка) (1925)

[Nguyên bản Anh ngữ “Why I Still Write Poetry”  (NYR Blog, May 15, 2012)]

Khi mẹ tôi đã già yếu và ở trong nhà dưỡng lão, bà đã làm tôi ngạc nhiên vào một ngày gần cuối đời bà khi bà hỏi tôi nếu tôi vẫn làm thơ. Khi tôi buột miệng nhận là vâng, con vẫn làm thơ, bà nhìn chằm chằm tôi như không hiểu. Tôi phải lập lại câu trả lời, cho đến khi bà thở dài và lắc đầu, có lẽ tự nhủ thằng con trai của tôi vĩnh viễn là một thằng khùng. Bây giờ ở tuổi bảy mươi, thỉnh thoảng những người không quen thân tôi cũng hỏi tôi câu đó. Tôi nghi nhiều người trong số họ chỉ mong được nghe tôi nói rằng tôi đã thức tỉnh và đã đoạn tuyệt nỗi đam mê điên rồ của thời trẻ nên họ rất kinh ngạc khi nghe tôi đáp rằng chưa, tôi chưa chừa tật làm thơ. Dường như họ nghĩ rằng có cái gì đó hết sức ám muội và quá quắt về điều này, cũng giả như tôi, một thằng già, dám có bồ nhí là nữ sinh trung học rồi còn rủ rê cô bé đi trượt pa-tanh về đêm.

Một câu hỏi nữa mà mọi nhà thơ già hay trẻ thường được hỏi trong những bài phỏng vấn là khi nào và tại sao họ đã quyết định trở thành nhà thơ. Vẫn có khái niệm cho rằng có một thời điểm khi các nhà thơ chợt thấy không còn sứ mệnh nào khác cho họ ngoài sứ mệnh làm thơ, tiếp theo là lời tuyên ngôn trịnh trọng trước gia đình để các bà mẹ của họ phải kêu than: "Ôi Chúa ơi, chúng tôi đã làm gì sai trái để phải hứng chịu thảm cảnh này?” trong khi các ông bố của họ rút phắt dây lưng và đuổi đánh họ chung quanh phòng. Tôi ước gì được nói với người phỏng vấn, với khuôn mặt phớt tỉnh, rằng tôi đã chọn sứ mệnh làm thơ để có cơ hội đặt tay mình lên món tiền thưởng ngồn ngộn đang nằm phây phây chờ đợi, vì tôi biết chắc họ sẽ thất vọng nếu tôi thú thật rằng tôi chẳng hề có ý định nào như vậy. Họ muốn nghe một điều gì đó thật oai hùng và thơ mộng, nhưng tôi nói với họ rằng tôi chỉ là một thằng học trò trung học làm thơ để tán gái, và không có tham vọng nào cao xa hơn. Do tôi không phải là một người nói tiếng Anh bản xứ, họ cũng hỏi tôi tại sao tôi đã không viết những bài thơ của tôi trong tiếng Serbia và trong trường hợp nào tôi đã bỏ rơi tiếng mẹ đẻ của tôi. Một lần nữa, câu trả lời của tôi có vẻ hời hợt đối với họ, khi tôi giải thích rằng nếu muốn sử dụng thơ như một công cụ quyến rũ, yếu tố đầu tiên là nó phải được hiểu. Không có một cô gái Mỹ nào lại đi mê một gã chỉ đọc những bài thơ tình cho nàng bằng tiếng Serbia trong lúc hai người nhâm nhi cô-ca cô-la.

Điều khó hiểu là tôi vẫn tiếp tục làm thơ mãi sau thời tán gái. Những bài thơ đầu đời của tôi dở không thể tả, và những bài tôi sáng tác ngay sau đó cũng không khá hơn mấy. Trong đời tôi, tôi đã được biết một số nhà thơ trẻ với tài năng to tát nhưng đã từ bỏ thi ca cho dù được mọi người công nhận họ là thiên tài. Chả ai bao giờ lại bé cái lầm với tôi như vậy, nhưng tôi vẫn tiếp tục làm thơ. Bây giờ tôi hối tiếc chuyện tôi đã tiêu hủy những bài thơ đầu của mình, vì tôi không còn nhớ là chúng đã bắt chước thơ ai. Vào quãng thời gian tôi sáng tác những bài thơ đó, tôi đọc phần lớn văn xuôi và có rất ít kiến ​​thức về thơ đương đại hoặc các nhà thơ hiện đại. Trải nghiệm sâu xa nhất về thơ là năm tôi theo học trường ở Paris trước khi đến Hoa Kỳ. Thầy giáo người Pháp không chỉ cho chúng tôi đọc thơ của Lamartine, Hugo, Baudelaire, Rimbaud và Verlaine, mà còn bắt chúng tôi học thuộc lòng một vài bài thơ kinh điển của các nhà thơ này rồi đứng đọc trước lớp. Đây quả là một cơn ác mộng cho tôi vì trình độ tiếng Pháp của tôi rất sơ đẳng — đồng thời bảo đảm một trận cười cho các bạn cùng lớp của tôi, bọn chúng cười nắc nẻ khi nghe tôi phát âm be bét những lời thơ đẹp nhất và nổi tiếng nhất trong thi ca Pháp ngữ — làm tôi bị ám ảnh đến nỗi nhiều năm sau tôi không thể nhớ là mình đã học được những gì trong cái lớp quái ác ấy. Nhưng ngày hôm nay, tôi đã hiểu rằng tình yêu thi ca của tôi đã phát xuất từ kinh nghiệm đọc và học thuộc lòng những bài thơ xa xưa đó, và kinh nghiệm này đã để lại một ảnh hưởng sâu đậm hơn điều tôi tưởng khi còn trẻ.

Một điều nữa trong quá khứ mà tôi chỉ gần đây mới phát giác đã giúp tôi kiên trì làm thơ, đó là nỗi đam mê cờ vua. Vào thời chiến ở Belgrade, năm tôi lên sáu, một giáo sư thiên văn học về hưu đã dạy tôi cách chơi cờ vua và trong nhiều năm sau đó tôi đã đủ giỏi để đánh bại không chỉ đám lỏi tì cùng lứa với tôi, mà ngay cả nhóm người lớn trong khu phố. Những đêm mất ngủ đầu tiên trong đời, tôi nhớ, là do các ván cờ tôi đã thua và chơi lại trong đầu. Cờ vua làm tôi bị ám ảnh, thành ngoan cường. Ngay lúc còn bé, tôi không thể quên mỗi nước đi sai, mỗi thất bại nhục nhã. Tôi say mê những ván cờ lúc hai bên chỉ còn lác đác mấy quân cờ và mỗi nước đi là cả một quyết định trọng đại. Thậm chí ngày nay, khi đối thủ của tôi là một chương trình máy tính (tôi gọi nó là "Thượng Đế") đánh bại tôi chín trong mười bận, tôi không chỉ bái phục trí thông minh vượt trội của nó, mà cũng thấy rằng những ván thua của tôi thú vị gấp trăm nghìn lần những ván thắng hiếm hoi. Các loại thơ tôi sáng tác – phần nhiều là thơ ngắn và thường đòi hỏi những duyệt sửa bất tận – gợi cho tôi những ván cờ vua. Sự thành công của những bài thơ phải dựa trên vị trí ngôn từ và hình ảnh được đặt theo đúng thứ tự; kết thúc của chúng cũng phải có sự chắc nịch nhưng bất ngờ không khác một cú chiếu bí tuyệt xảo.

Tất nhiên, rất dễ để phân tích mọi chuyện trong lúc này. Năm tôi mười tám tuổi, tôi có nhiều cái lo khác. Cha mẹ tôi đã ly dị và tôi thì phải tự lập, kiếm sống qua việc làm văn phòng ở Chicago và theo học lớp tối ở đại học. Sau đó, vào năm 1958, khi tôi dọn nhà lên Nữu Ước, tôi vẫn theo nếp sống này. Tôi sáng tác thơ và xuất bản một vài bài trên các tạp chí văn học, nhưng tôi không nghĩ chuyện này sẽ mang đến nhiều kết quả. Bạn bè quen biết ở chỗ làm việc không ai biết tôi là một nhà thơ. Tôi cũng vẽ chút đỉnh và thấy mình thoải mái hơn khi tiết lộ điều này với một người lạ. Điều duy nhất mà tôi biết chắc chắn về thơ của mình là nó chưa hay đủ, và, để được an tâm, tôi quyết chí sáng tác một cái gì mà tôi sẽ không xấu hổ khi đưa cho các bạn văn của tôi xem. Trong thời đó, cũng có nhiều thứ khác cấp bách hơn làm tôi chia trí, như chuyện lấy vợ, trả tiền thuê nhà, đàn đúm trong các quán bar và câu lạc bộ nhạc jazz, và mỗi đêm trước khi đi ngủ phải dùng bơ đậu phộng làm bẫy chuột trong căn phòng thuê của tôi trên đường 13 Đông.

Charles Simic
15 tháng 5 năm 2012, 3:15 chiều

bài đã đăng của Charles Simic


1 bình luận »

  • black raccoon viết:

    Tui thích cái ý tưởng về thi ca của Charles Simic.
    - Bài thơ mới toanh hôm nay, biết đâu lại khởi nguồn từ một trời thơ cũ sì hôm nào.
    - Thơ tưởng đâu hoang mạc, té ra cũng không khác mấy với một ván cờ khúc uẩn, móng vuốt, trêu ngươi, bắt bí.
    - Thơ ngỡ là ngọn đuốc tuệ châu, ai hay thơ cũng lẩn khuất thân quen như chiếc bẫy chuột nhắt đặt góc nhà.

    Cám ơn cô Bích Thúy, nhờ cô giới thiệu, tui có dịp đọc lại Charles Simic.

Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)