Trang chính » Sáng Tác, Trích đoạn tiểu thuyết Email bài này

đời thủy thủ (chương 12)

0 bình luận ♦ 26.04.2012

 

Chương 12

 

 

Từ trên con đường tráng nhựa dẫn xuống cầu bắc, chiếc thiết vận xa đầu tiên quay phải một phần tư vòng, hùng hổ lăn xích ngang qua một thửa ruộng vừa gặt xong, rồi quay trái chín mươi độ tiến về chiếc hải vận hạm đang ủi bãi. Nó chúc mũi xuống bờ sông, xông xáo chui vào đám lau sậy dày đặc để rồi nằm lỳ trong đó. Nó nhìn cái cửa đổ bộ đang mở rộng chỉ còn cách mươi thước mà tức mình vùng vẫy nhưng càng cố gắng càng bị lún sâu.

Hạm trưởng châm điếu thuốc, rít liền mấy hơi rồi khoanh tay nhìn dọc theo bờ sông, những nơi mà suốt một tiếng qua ông đã lần lượt cho chiến hạm ủi vào để thám sát. Cả một đoạn sông khoảng khoát tưởng chắc ăn nhưng nền đất lại quá mềm không chịu nổi sức nặng của chiến xa. Cái nơi trông lý tưởng nhất giờ đây cũng không dùng được. Ông cũng đã ngắm nghía các bãi xa hơn nhưng bên trên lại là vườn xoài vườn mận hoặc đầy những luống rau màu mỡ xanh tươi.

Hạm trưởng nhìn sang chiếc ponton của cầu bắc gần đó, rồi dõi mắt theo dòng nước, rồi ngắm lá cờ đang bay phần phật. Rõ ràng là ông đang ngại ngần. Ngay từ trưa, khi gặp nhau, vị chi đoàn trưởng đã đề nghị ông ủi vào ponton đầu cầu bắc. Ông bảo bắt dân chúng đợi chờ lâu lắt là thất nhân tâm. Hai nữa, không phải dễ gì mà ủi vào đó. Tôi từng được ông hạm trưởng tiền nhiệm nhiều lần huấn luyện cặp cầu với dòng nước ngược và từng được tập dượt ủi bãi với nhiều hướng gió nhưng chưa từng được hướng dẫn ủi vào một ponton nằm lơi khơi ngoài lòng sông. Tuy vậy, khi nhìn những chiếc bắc dềnh dàng đều đều vào ra thong thả, tôi cho rằng với một chiến hạm có cỡ nhỏ hơn ắt hẳn… dễ ăn hơn.

Đột nhiên, hạm trưởng quay lại nói mấy chữ ngắn ngủi nhưng đủ gây cho tôi một ngạc nhiên lớn:

- Đành liều vậy!

“Đành liều vậy”, tôi thầm nhắc lại mà không hiểu sự tình. Tôi cũng không hiểu liệu ông hạm tiền nhiệm có thốt ra câu đó không! Tôi nhìn hạm phó Được. Anh nhún vai, như là một cách đồng ý với hạm trưởng. Tôi thấy nóng mặt nhưng tự khuyên bình tâm, rồi ra sự việc tự nó sẽ phô bày. Tôi thì thấy dễ nhưng hai xếp đều cho là liều. Tôi đang học để chuẩn bị làm hạm phó mà cũng để một ngày trở thành hạm trưởng. Tôi phải kiên nhẫn học hỏi từ cả hai vị này dù không ưa thích cả hai và dù  không mấy đặt lòng tin.

Đương kim hạm trưởng về thay ông thi sĩ hạm trưởng đúng hai tuần sau ngày vị Quốc trưởng đăng quang 24 tháng 10 năm 1964. Tân Quốc trưởng là một trong những chính khách được chính chiến hạm này rước về từ Côn Sơn ngay sau đảo chánh thành công. Đảo chánh biến quan nhanh chóng thành tướng và biến người tù thành người lãnh đạo.

Tôi thích ông hạm trưởng thi sĩ qua cách ông cư xử tế nhị, thân tình và qua cách ông tận tâm vui vẻ hướng dẫn hải nghiệp. Còn ông hạm mới về thì khá lè phè kể cả lè nhè. Khác với ông tiền nhiệm thích giữ nề nếp mẫu mực, ông hạm tân đáo cho phép nhân viên mặc áo thung, mang dép bất kỳ lúc nào sau khi tàu rời bến. Mọi người đều thích sự thay đổi dễ chịu này nhưng cái giọng lè nhè ê a của ông đã xóa đi phần nào niềm kính nể dành cho ngôi vị của ông.

Theo dư luận thì ông được xếp vào hàng hạm trưởng giỏi. Ông tốt nghiệp khóa 5, trước tôi sáu khóa. Lên lon thì trung bình nhưng chức vụ thì tiến nhanh. Ông hẳn phải thực sự tài ba mới được Bộ tư lệnh tin tưởng giao quyền chỉ huy liên tiếp hai chiến hạm. Làm hạm trưởng chiếc này có cấp số thiếu tá, thì chẳng mấy hồi cầu vai áo ông rực vàng ba gạch.

Tôi cũng chẳng ưa gì hạm phó Được dù làm việc chung với anh từ khi mới đổi xuống tàu. Anh ít nói, tính tình khắc khe mà tác phong thì lúc nào cũng nghiêm túc. Dùng theo đặc ngữ hải quân thì gọi là hắc ám. Như việc tính tiền ăn và nợ cuối tháng. Tất cả chi tiêu và nợ nần đều được ghi chi tiết trong sổ sách. Với hạm trưởng hay các sĩ quan khác, tôi chỉ trình tổng số chi tiêu và tổng số nợ mượn. Nhưng với hạm phó hắc ám thì phải chép lại đầy đủ vào mảnh giấy có ghi rõ ăn cơm ngày nào, mượn nợ ngày nào…

Trên tàu có hai vị chỉ huy thì tôi không ưa cả hai. Thêm một việc đáng buồn khác là các sĩ quan đàn anh mà tôi quý mến đều đã ra đi: Ông hạm phó Hào, ông cơ khí trưởng Hải, ông bạn thân Tâm. Còn tiếc nuối gì mà ở lại? Tôi cũng đã phục vụ hơn 18 tháng trên chiến hạm này rồi, mọi thứ coi như thành thạo. Đi nơi khác để còn học thêm nữa chứ.

- Thiếu úy Bằng nghĩ sao?

Tôi giật mình khi nghe cái giọng lè nhè bất ngờ nhắm vào tôi. Tôi lúng túng hỏi lại:

- Nghĩ về việc gì, thưa hạm trưởng?

- Thì việc… ủi vào đầu cầu bắc.

Tôi nói lên sự thật chính mắt tôi quan sát nhiều lần:

- Thưa hạm trưởng, tôi thấy chiếc bắc ủi vào chiếc poton lần nào cũng đẹp!

Giọng ông có phần gắt gỏng:

- Dĩ nhiên là phải đẹp. Sở trường của họ mà! Anh chịu khó có chút nghĩ suy! Chiến hạm không phải là chiếc bắc và cái cầu đó không làm ra cho chiến hạm ủi vào.

Thấy tôi còn ngơ ngẩn, ông chép nửa miệng:

- Tôi sẽ tuần tự giải thích…

Ông ra lệnh đóng cửa đổ bộ, cho lệnh kéo neo và lùi tàu. Đến giữa sông, ông cho tàu ngưng máy và chậm rãi hỏi tôi:

- Anh thấy nước thế nào?

- Thưa nước ròng.

- Nước ròng thì ai cũng thấy được. Tôi muốn hỏi về cường độ.

Tôi nhìn một đám lục bình trôi lướt qua một thân cây trên bờ:

- Thưa nước ròng mạnh.

- Đúng! Nước đang ròng mạnh. Còn gió thì thế nào?

- Thưa gió rất mạnh.

- Gió rất mạnh, đúng lắm! Và ai cũng thấy được. Nhưng đó không phải là điều tôi muốn hỏi. Hải quân, khi nói tới gió là phải kèm theo hướng. Cái tôi muốn hỏi là gió hướng nào nếu ta ủi vào đầu cầu?

Tôi ngước nhìn chiều bay của lá cờ lúc chiến hạm đang xuôi dòng. Tôi đáp:

- Khi ủi vào ponton, gió sẽ thổi ngang tả hạm.

Ông gật đầu:

- Nước đẩy mạn tả, gió cũng đẩy mạn tả, tàu sẽ “bay” như chiếc lá.

Ông còn lèm bèm câu gì đó khi nhìn chiếc cầu Bắc và ra lệnh cho máy tiến xuôi dòng. Lúc gần ngang cầu, ông nhìn tôi, ra vẻ thú vị:

- Nào, bây giờ hãy nhìn vào chiếc ponton, anh thấy sao?

Tôi kinh ngạc về sự biến dạng của chiếc ponton. Ở cách xa khoảng ba trăm thước, nó trở nên nhỏ bé đến nỗi nếu không có nhịp cầu sơn đen có thể tôi đã tìm ở một hướng khác. Tôi nghe câu hỏi lặp lại một cách nóng nảy của hạm trưởng:

- Anh thấy sao?

- Thưa với mục tiêu nằm lơi khơi nhỏ bé như vậy, với gió ngang hông thổi mạnh, hợp với sức đẩy của dòng nước, quả thật khó mà điều khiển chiến hạm tiến đúng vào ponton.

- Cứ cho là chiến hạm vào đúng ngay ponton, thì còn gì khác phải quan tâm?

Tôi cố moi óc, cuối cùng lắc đầu:

- Thưa sau đó thì… nhận thiết vận xa!

Hạm trưởng lắc đầu, cười mỉa:

- Được thế thì còn gì bằng!

Hạm trưởng quay sang hạm phó Được:

- Nè ông hạm trưởng tương lai, nếu ông đang là hạm trưởng, ông sợ điều gì nhất?

Được nảy giờ vẫn giữ im lặng, lên tiếng:

- Thưa, chiến hạm có thể ủi sập cầu!

Hạm trưởng reo lên:

- Đúng như vậy! Chỉ một sơ sảy là sập cầu. Nên nhớ chiếc bắc rộng hơn chiến hạm gấp mấy lần nhưng ngắn hơn, ít bị tác động của sức gió và dòng nước. Thuyền trưởng thì hành nghề ủi ponton mỗi ngày cả chục lượt và máy của nó rất đơn giản dễ điều khiển và chỉ cần đủ sức chạy qua lại hai bờ. Trái lại máy tàu rắc rối, phức tạp nhằm đáp ứng cho đường trường và bão tố. Tấm sắt đổ bộ của nó rộng hơn, dài hơn, bám vào cầu chắc hơn. Thử tưởng tượng, với gió và nước mạnh thế này, con tàu đang hùng hục phóng vào mà lệnh cho máy ngưng hoặc lùi không được thi hành kịp thời hoặc sai lầm. Hoặc neo không ăn, cửa đổ bộ không bám, con tàu trôi tấp vào các chiếc bắc khác…

Thì ra đây là lý do khiến ông thốt lên “Đành liều vậy!”. Bây giờ tôi thấy sự việc rõ hơn và đồng ý là có… liều! Tuy nhiên mọi sự diễn ra không bi quan như ông tưởng dù ông phải ủi đi ủi lại đến bốn lần. Lần đầu ông ước lượng sai tác dụng của dòng nước và sức gió. Lần thứ hai, cửa đổ bộ hạ xuống chậm trễ không giữ được mũi tàu bị trượt khỏi ponton. Lần thứ ba, neo sau không cắn đất nên không giữ được lái tàu bị đẩy trôi. Phải mất bốn lần và hai tiếng đồng hồ để vào đúng vị trí nhưng vẫn đủ để hạm trưởng hài lòng. Tôi cũng gặt hái được nhiều kinh nghiệm vận chuyển thật quý báu. Chỉ tội cho dân phải đợi chờ qua bắc suốt hai tiếng.

Sau bữa ăn vội vàng, chúng tôi rời Cao Lãnh lúc nhá nhem tối. Trong năm qua, chiến hạm có dịp trở lại Năm Căn đến ba lần, có hôm đi ngày, có bữa đi đêm. Tôi đã khá quen với các địa thế thủy đạo của từng đoạn sông Cửa Lớn, Bồ Đề và tin rằng mình có thể tự lái ra vào mà không cần sự hiện diện của hạm trưởng. Nhưng lần này, cả một giang trình hoàn toàn mới lạ và rất dài. Nó đi qua bốn con sông nuôi sống miền Tây: Cửa Tiểu, Tiền Giang, Vàm Nao và Hậu Giang.

Không như sông Cửa Lớn, Bồ Đề, thủy trình từ Cao Lãnh đi Long Xuyên gần như hoàn toàn an ninh. Đây là vùng ảnh hưởng Phật giáo Hòa Hảo và cộng sản ít dám héo lánh đến trà trộn hoạt động. Ai mà đội chung trời với kẻ đã hạ sát giáo chủ của mình. Dù biết vậy, hạm trưởng vẫn ra lệnh giang hành kín và sẵn sàng hỏa lực… Ông cho máy tiến ba, một bậc thấp hơn so với tốc độ đường trường. Nếu ước tính với dòng nước ngược, chỉ độ 14 cây số một giờ. Thiếu úy Tiến lãnh phiên đầu từ 8 giờ tối đến nửa đêm. Tôi từ nửa đêm đến 4 giờ sáng và thiếu úy Danh tiếp sau.

Nếu là ở biển, khi chiến hạm vào hải trình an toàn vạch sẵn, hạm trưởng hạm phó có thể rời đài chỉ huy và… phè cánh nhạn. Nhưng ở trong sông, hai vị là những người vất vả nhất. Riêng với ông hạm trưởng mới nhậm chức này thì càng vất vả hơn. Làm sao ông có thể an tâm khi chưa nắm được khả năng hải hành của các các sĩ quan dưới quyền mình. Vì vậy, dù hạm phó đang ở đài chỉ huy, ông hạm trưởng vẫn chiếm vị trí tốt nhất để sẵn sàng điều chỉnh mệnh lệnh do hạm phó ban ra. Hạm phó, cũng như tôi, nhân đó mà nghiền ngẫm, học hỏi.

Trời đã tối hẳn. Dòng sông trước mặt chỉ là khoảng không gian đen ngòm. Con tàu tiến tới như người mù. Chiếc radar bị hỏng bóng phát hình còn chờ hàng thay thế. Tất cả rủi may giang hành chỉ dựa vào mắt thường. Thiếu úy Tiến có lẽ là người lo lắng nhất. Dù hạm trưởng là sĩ quan thâm niên hiện diện anh vẫn trách nhiệm phát giác mọi vật cản trên đường di chuyển. Mắt anh không lúc nào rời khỏi chiếc ống dòm. Trợ giúp anh là hai quan sát viên, một trung sĩ, một hạ sĩ. Tôi không trách nhiệm gì, nhưng không muốn bỏ lỡ cơ hội để học hỏi. Những bóng đen lù lù của hai hàng cây bên bờ lùi nhanh về phía lái tàu. Lẫn vào đó là những điểm sáng vàng úa của các ngọn đèn dầu. Đếm những điểm sáng là suy ra mật độ dân cư.

Chợt tiếng la to của thiếu úy Tiến:

- Báo cáo có đèn phía trước mũi.

Hạm trưởng hạm phó cùng lúc vội nâng ống dòm. Hạm phó ra vẻ sành sỏi:

- Làm gì có hàng đáy ở đoạn này, sáng tác mới chăng?

Tiếng lèn èn của hạm trưởng:

- Hai máy tiến hai.

Chiến hạm sựng lại rồi giảm dần tốc độ. Giọng thách đố của hạm trưởng vang lên:

- Nào! Ông chuẩn hạm trưởng sẽ tránh thế nào đây?

Tôi nâng chiếc ống dòm mượn của quan sát viên. Trong vùng lờ mờ phản ánh từ các vì sao, một hàng đáy chắn ngang mũi tàu. Thật khó mà quyết định cho chiến hạm lách qua phải hay trái. Càng mù tịt bên nào cạn bên nào sâu. Bên nào cũng đủ khoảng trống cho chiến hạm băng qua nhưng mũi thì đang hướng vào nửa phần bên trái.

Hạm phó ra lệnh cho tàu hướng qua phải. Chiếc ghe cột ở trụ thứ ba vừa lên đèn, cho thấy đang lắc lư dữ dội. Hạm phó cho lệnh ép sát cột cuối cùng. Những chòm cây có hình thù quái dị như vươn tay bám lấy con tàu. Sóng vỗ sạt sào khi ập lên bờ. Tôi run giọng:

- Hạm phó lái ghê quá!

Giọng Được kiêu căng:

- Vậy mới lên hạm trưởng được chứ!

Giọng càm ràm của hạm trưởng:

- Sao không đợi tàu đụng chìm rồi hãy thắp đèn! Mấy ông làm nghề hạ bạc ông nào cũng như ông nào, thích giỡn với tử thần!

Tôi dọ hỏi:

- Theo lời dặn của hạm trưởng Hảo trước đây, nếu thấy không thể tránh kịp hàng đáy cá thì cho tắt máy để tàu lướt qua. Sao ta không thể làm như vậy lúc này?

Trời quá tối, tôi không nhìn thấy nét mặt lúc ông giải thích:

- Đó không phải là giải pháp hay nếu ta xét còn đủ thì giờ để tránh cho dù tàu có phải ủi vào bờ. Đâm vào đáy cá, không chỉ dân thiệt hại mà chân vịt tàu cũng dễ quấn lưới. Để chân vịt quấn lưới là biểu hiệu của một hạm trưởng bất tài. Mắc cạn, tàu rút ra được nhưng làm mất lòng dân là khó lấy lại. Tôi thích các sĩ quan đặt câu hỏi. Thiếu úy Tiến có thắc mắc gì không?

- Thưa, tôi đã hiểu rõ, cám ơn hạm trưởng.

- Anh chưa rõ đâu. Ông hạm phó, hãy giải thích cho các sĩ quan hiểu vì sao anh chọn lách qua phải trong khi bên trái gần hơn?

Giọng nghiêm túc của Được vang lên:

- Tôi nhìn kỹ thì thấy bờ bên phải được chừa khoảng rộng hơn. Chừa như vậy hẳn là dành cho thương thuyền.

Hạm trưởng reo vui:

- Tôi cũng chọn bên phải, dù bên trái không có gì chứng tỏ mình không qua được. Nếu cạn, ghe câu đã cột bên trái để la hét hoặc quơ đèn báo động.

Tôi mỉm cười ngắm vầng sáng ở chân trời báo hiệu trăng sắp lên. Hạm trưởng nói vậy thì nghe vậy chớ chưa chắc mấy ông hạ bạc có hưỡn mà la hét báo động. Thậm chí đến việc đốt đèn trên ghe để bảo vệ sinh mạng chính họ mà họ còn không làm. Vài ngôi sao nhấp nháy xa thẳm bên trên nền đen của rặng cây. Tôi nghe hạm phó cho lệnh tăng máy. Anh vẫn giữ ống dòm dán chặt vào mắt. Khi đương phiên, tôi cũng phải làm như vậy. Không có gì khổ hơn là nhìn chằm chằm qua ống dòm trong bóng đêm mù mịt để tìm cái gì không biết được. Nhìn qua ống dòm, nhất là qua mưa đêm là cả một cực hình. Chỉ trong một thời gian ngắn mắt sẽ mỏi đừ, đầu nhức như búa bổ. Tuy nhiên không ai dám rời ống dòm. Để chiến hạm lâm nạn đồng nghĩa với để hải nghiệp lâm… đại nạn! Nhưng tôi chưa lên phiên thì tội gì phải hành xác. Trăng sắp trãi ánh vàng lên chiếc tàu thong dong như chiếc du thuyền. Không đi Hải quân thì làm sao tôi được hưởng những phút êm ả mộng mơ đến thế này.

Hạm phó cho giảm máy, ép sát chiến hạm vào bờ, nhường hải trình an toàn cho đoàn tàu kéo nhiều xà lan dài thường thược. Tiền Giang là thủy trình chính đưa lúa gạo tiếp tế thủ đô Sài Gòn và cũng là con sông huyết mạch đưa từng đoàn thương thuyền lên tận thủ đô Nam Vang. Đây còn là con sông bận rộn đêm ngày với những chiếc ghe chài chở khẳm đến gần chìm…

Mặt trăng tròn vạnh đã nhô lên khỏi chân trời, đang loang loáng chạy giữa các vòm cây. Đó là một hình ảnh lạ mắt so với khi trăng nhô lên khỏi mặt biển. Nhìn bao quát, quang cảnh đêm trăng ở đất liền đẹp hơn. Ở biển, ánh trăng chỉ tạo một đường sáng lung linh mờ ảo chạy dài tới chiến hạm, còn chung quanh chỉ là không gian mông lung đen tối. Trăng ở biển xa xăm và cô đơn. Trăng ở đất liền gần gụi và chia sẻ. Nó thắp sáng dòng sông. Nó xóa tan những hình thù quái dị. Nó che mờ các vì sao cho mây trắng hơn. Nó đưa vẻ man mác lên vùng trời bao la cho thêm nét êm ả, thanh bình.

“Thanh bình”, tôi thầm nhắc lại hai tiếng đó mà lòng chua xót. Mấy năm thanh bình của miền Nam đang dần tàn lụi trước quyết tâm nhuộm đỏ bằng máu đổ thịt rơi từ miền Bắc. Chỉ vì một một thế giới đại đồng không tưởng mà họ đan tâm gây cuộc huynh đệ tương tàn. Chỗ này, chỗ nọ đang thành mật khu, nơi dấu súng đạn. Họ công đồn đả viện, họ chơi chiến thuật biển người. Họ pháo kích trường học. Họ giật mìn xe đò. Họ đặt chất nổ lung tung. Đến bao giờ họ mới thấy lầm đường? Chừng đó biết tôi còn sống sót để lại được hưởng thanh bình?

Đột nhiên người tôi bị hất mạnh về phía trước, ngực va vào một góc cạnh nào đó đau điếng. Tôi ôm lấy chỗ đau, nhìn quanh quẩn. Tiếng hạm trưởng hét to:

- Hai máy ngưng.

Giọng đầy lo lắng của hạm phó:

- Bỏ mẹ, mắc cạn rồi!

Hạm trưởng cho lệnh máy lùi hết tốc lực. Chiến hạm khua động, run rẩy như con vậy khổng lồ bị mắc bẩy. Tiếng nước do hai chân vịt quay cuồng phát ra ào ào như thác đổ. Có hơn năm phút trôi qua mà đáy tàu vẫn bám đất không một chút lùi.

Hạm trưởng cho chuyển đổi máy tiến máy lùi, sai biệt vòng quay. Cách nào con tàu vẫn bướng bỉnh. Ông cho tắt máy, trách nhẹ hạm phó:

- Anh quẹo hơi sớm. Lẽ ra anh phải chạy thêm một đoạn nữa rồi mới cho quẹo. Ngoài ra, nếu anh để ý, anh sẽ nghe triệu chứng sắp mắc cạn mà bớt máy kịp thời.

Hạm phó ngượng nghịu bào chữa:

-  Thưa hạm trưởng, quả là tôi không nghe một triệu chứng bất thường nào. Vả lại, mấy năm trước, tôi từng qua chỗ này, cũng cho quẹo như thế.

- Chúng ta ở mùa nước đổ, ngã ba này là chỗ đất bồi, mỗi năm một bồi thêm. Lại đi ban đêm cũng khó mà ước tính giữa dòng hay lệch dòng. Hơn nữa anh quên mất tàu đang chở đầy thiết vận xa. Đây là bài học cho các anh nhớ. Khi chở nặng và gặp nước ròng, chỗ nào nghi ngờ thì phải giảm tốc độ.

Ông nghiêng người nhìn xuống dòng sông và chợt reo lên:

- Không phải nước ròng. Tính ra, chúng ta đang trong mùa nước nổi, hay nói cách khác là mùa nước đổ. Nước đổ, lại gặp trăng rằm thì không lâu, nhiều lắm nửa tiếng là ta có thể lại lên đường.

Tôi không biết ông dựa vào đâu mà nói chắc như đinh đóng cột. Mùa nước nổi thì đang ở cuối mùa. Trăng rằm thì cũng chỉ là một yếu tố của thủy triều. Đúng ra ông phải lật sách Almanac. Hay là ông thừa kinh nghiệm về thủy triều vùng đồng bằng Cửu Long? Hạm phó yên lặng nhìn ánh trăng đã lên chênh chếch. Tôi đoán là anh đang bất mãn với lời khiển trách. Anh đâu phải là sĩ quan đương phiên. Xét theo hải quy về quyền thâm niên hiện diện, hạm trưởng là người lãnh đủ. Ông đang hiện diện trên đài chỉ huy cùng hạm phó, cùng không ghi nhận triệu chứng sắp mắc cạn, vậy mà lại quy lỗi cho hạm phó. Một người thì cầu toàn, trọng nguyên tắc. Một người thì lèn èn, đổ vấy đổ vá, thì e tương lai khó thuận buồm!

Lại giọng lè nhè của hạm trưởng:

- Thôi đừng buồn ông hạm phó ơi! Tôi báo cho anh tin vui. Không có sĩ quan hải quân nào trước khi thành hạm trưởng mà không “cho” tàu mắc cạn vài lần. Chấp nhận giang hành là chấp nhận mắc cạn. Chính tôi cũng một lần mắc cạn ngay ngã ba quái quỷ này. Ai lái ca 12 đến 4?

Tôi lên tiếng:

- Tôi, thưa hạm trưởng.

Giọng ông trở nên thân mật mà tôi nghĩ là quá muộn:

- Anh và hạm phó nên xuống nghỉ ngơi. Tôi sẽ lái qua khỏi sông Vàm Nao rồi giao cho hạm phó lái đến Trà Nóc. Sông Vàm Nao khó chơi lắm. Một là nước chảy xiết và xoáy, rất khó lái. Hai là đáy cá chăng chằng chịt, dễ bá vào.

Tôi bật đèn tìm vị trí chiến hạm trên giang đồ. Cục gôm tượng trưng cho con tàu đang nằm trên bãi bồi ở ngã ba sông Vàm Nao. Tôi tắt đèn, nhìn về hướng làng Hòa Hảo. Đất thánh địa đang im lìm bên dưới vùng ánh sáng tỏa rộng. Thời còn tiểu học, tôi được được ba tôi đưa đến viếng một lần. Tôi chỉ còn nhớ lối đi nhỏ trồng đủ loại cây kiểng dẫn đến Tổ Đình là một ngôi nhà gỗ khá rộng khang trang. Phía đối diện bên kia Vàm Nao là quận lỵ Chợ Mới cũng đang im lìm bên dưới vòm trời ửng vàng.

Tôi nhìn đồng hồ. Hai cây kim chỉ số 22:54. Gần mười một giờ khuya. Còn một tiếng nửa mới nhận ca. Có lẽ cũng nên xuống kiếm cái gì dằn bụng và làm một ly cà phê cho tỉnh ngủ. Hạm trưởng đã ngửa người trên chiếc ghế tựa êm ái của ông. Sĩ quan đương phiên và các nhân viên vẫn đặt ống dòm quan sát. Tôi và hạm phó lặng lẽ rời đài chỉ huy. Qua phòng ăn sĩ quan, tôi bước vào và anh đi thẳng về phòng riêng.

Tôi mở tủ tìm gói mì trước khi bắt ấm nước và pha bình cà phê mới. Tôi ngồi bụm mặt định thần cho đến khi còi ấm nước báo sôi. Tôi vừa ăn mì vừa liếc qua xấp công điện. Không có tin tức gì đặc biệt cho chiến hạm, nhất là cho tôi. Vẫn mịt mờ tin thuyên chuyển. Tôi hút chưa hết điếu thuốc, nhâm nhi vừa được nửa tách cà phê thì nghe tiếng máy khởi động. Tôi thấy hạm phó lướt qua cửa chắc là đang lên đài chỉ huy. Đúng ra anh không cần phải làm thế. Hạm trưởng đã cho phép anh nghỉ ngơi. Nhưng tôi cũng sẽ làm như anh. Có ai “để” tàu mắc cạn rồi tỉnh bơ ngủ khi tàu đang cố gắng ra khỏi chỗ cạn. Vả lại, trong mọi trường hợp, hạm phó phải luôn luôn sát cánh với hạm trưởng để học hỏi và để thay ông khi cần. Một lý do khác, quan trọng hơn là có đến 80% cơ hội được lên hạm trưởng là do lời phê tốt của đương kim hạm trưởng! Tương tự, tôi có lên hạm phó hay không cũng tùy lời đề nghị của… hạm phó. Tôi uống ngụm cà phê chót, rít vài hơi thuốc cuối cùng. Vừa chạy trên các bậc thang, tôi vừa thầm phục kinh nghiệm của hạm trưởng. Ông tính toán đúng. Nước chảy xuôi ra biển nhưng nước vẫn dâng cao nhờ trăng rằm.

Tôi lên đến đài chỉ huy vào lúc con tàu bắt đầu quay mũi để xuôi dòng Vàm Nao. Mùa nước nổi, nước sông Tiền đổ dồn vào Vàm Nao tuôn ra sông Hậu. Chiến hạm đi xuôi dòng, tay lái mất đi nhiều hiệu tác, càng khó lái. Hạm trưởng đứng cánh mặt, hạm phó cánh trái của đài chỉ huy. Tôi đứng giữa, cạnh thiếu úy Tiến. Hai mươi phút nữa tôi thay Tiến.

Con tàu đã nằm xuôi theo dòng. Hạm trưởng giữ máy tiến hai. Chẳng bao lâu nó như lạc vào một rừng đèn, rừng cọc chừng như không có lối ra. Các hàng đáy được chăng ngang theo thế … cài răng lượt. Vì vậy chiến hạm phải tốn thêm thì giờ chạy theo đường zigzag.

Sông Vàm Nao ngắn, chưa đầy tám cây số nhưng rộng và sâu. Rộng có đến gần cây số và sâu trung bình 17 thước. Tám cây số thì mất chừng nửa tiếng nhưng với cái trận đồ rắc rối này, không chừng phải cần cả giờ. Tiếng hạm trưởng vang lên trong không gian căng thẳng, lặng lờ:

- Hạm trưởng giao quyền chỉ huy cho hạm phó.

Tiếng Được khô khan:

- Đáp nhận.

Hạm trưởng trở về ghế ngồi nhưng thỉnh thoảng đặt ống dòm và nhắc nhở. Tôi hồi hộp theo dõi lệnh hạm phó đưa ra và phản ứng của con tàu.

- Quê thiếu úy Bằng ở đâu?

Câu hỏi bất ngờ của hạm trưởng làm tôi giật mình:

- Dạ, Châu Đốc.

- À, vậy là láng giềng gần! Có câu ca dao này rất … tình: ”Ngó lên Châu Đốc. Ngó xuống Vàm Nao. Sóng bổ lao xao. Anh thương em ruột thắt, gan bào. Biết em có thương lại chút nào hay không?”. Và câu này còn tình hơn nữa: “Ở trên Châu Đốc, ngó xuống Vàm Nao. Thấy con cá đao nó nhảy nhào vô lưới. Anh ngồi chắc lưỡi. Không biết chừng nào mới cưới đặng em.” Thiếu úy Bằng có thương ai ở Vàm Nao chăng?

- Dạ không!

Tôi muốn thêm “ thương toàn là dân miền Trung” nhưng thấy không thích hợp. Hạm trưởng lại tiếp:

- Với tôi, câu ca dao phải đổi Châu Đốc thành Chợ Mới. “Ngó qua Chợ Mới. Ngó lại Vàm Nao…” Bà xã tôi là dân Vàm Nao. Cũng nhờ vậy tôi biết một ít chuyện Vàm Nao. Tôi kể, nhưng không được phân tâm lái tàu.

Chúng tôi nhìn về phía trước, tai lắng nghe nhưng ông chưa kể. Dường như ông đang sắp xếp chuyện trước chuyện sau. Một lúc, lối nói ề à vang lên:

- Đầu tiên, tôi cần báo động rằng, những gì tôi sắp nói, tôi nghe từ thời còn học trò, thời còn qua lại Vàm Nao chơi cò cò với… bà xã! Tam sao thất bổn, kể lại không có gì bảo đảm như đã nghe. Các anh nghe qua rồi… coi lại sách vở!

Ông lại ngưng, chậm rãi châm điếu thuốc, rít vài hơi. Cái lối rề rà của ông làm tôi nổi cơn… thèm thuốc lá. Tôi cũng châm một điếu,vừa lúc tiếng còi đổi phiên vang lên. Tôi nhận phiên nhưng thiếu úy Tiến vẫn đứng chỗ cũ. Có lẽ anh cũng muốn nghe ông hạm kể chuyện Vàm Nao.

- Rất xa xưa, con sông này chỉ là con lạch nhưng do nhiều đàn voi di chuyển dẫm lên làm con lạch lớn dần. Rồi nước sông Tiền mùa lũ đổ tuôn qua sông Hậu làm bờ sạt lở rộng thêm. Ở đầu Vàm, phía sông Tiền, tức là gần nơi mình mắc cạn, nước xoáy mạnh nên nhiều cá lớn dữ dằn tập trung về đấy. Nhưng vì là thủy trình ngắn nhất nối sông Tiền sông Hậu nên ghe thuyền tấp nập đi qua. Nhiều ghe không may bị nước cuốn chìm và khi ghe chìm thì ít ai được sống sót. Khi nghe kể lại, không ai không nao lòng. Thuận tình, người ta đặt luôn là Vàm Nao.

Ông lại ngưng khi hạm phó ban lệnh vận chuyển tránh một đợt nhiều ghe chài đi ngược chiều. Trên mui ghe, đèn hải hành tỏ rõ, một bên là ngọn đỏ, một bên là ngọn xanh trông như một đoàn tàu. Không như trên sông Bồ Đề – Cửa Lớn, đa phần là ghe đánh cá, sông Vàm Nao dày đặc đủ loại ghe tàu. Đôi khi có thêm những chiếc thương thuyền bề thế.

- Về nước xoáy, từng có ca dao cảnh giác: “Thuyền xuôi Châu Đốc, thả xuống Vàm Nao. Thẳng tới Ba Sao, coi chừng con nước đẩy”. Đến ông Bùi Hữu Nghĩa cũng phải ghi thành thơ: “Núi Sập sấm rền vang tiếng muỗi. Vàm Nao nước chảy đứt đuôi xà”. Còn về cá, cũng đã có câu: “Chiều chiều quạ nói với diều. Cù lao Ông Chưởng có nhiều cá tôm”. Đầu cù lao Ông Chưởng chính là Sông Vàm Nao. Huyền thoại về cá thì có nhiều. Như ngày xưa người ta nói Vàm Nao có lắm cá mập, cá sấu mà bây giờ không còn thấy. Lại còn có cá Nược biết nghe tiếng người, thường nổi lên lội đua với lũ trẻ tắm sông, khi đám trẻ ngổ ngáo lên tiếng thách đố. Ngày nay vẫn còn một số cá khổng lồ. Như cá Vồ, cá Tra dầu, có con nặng tới ba trăm ký. Một loại khác nhỏ hơn, có con nặng hai trăm ký, được mệnh danh là vua của những loại cá và được dân nhà nghề và gan dạ ưa thích lùng bắt. Chỉ cần bắt được một con trên trăm ký là vài tháng sống phây phả. Nó được đặt tên cá Hô có lẽ do cái miệng hô quá cỡ. Thịt nó rất ngon, chuyên trị lẩu “tả pín lù” và món cá xào với khóm. Đặc biệt nhất là cái bong bóng của nó, dân nhậu khó bỏ qua. Nổi danh không thua cá Hô là loại cá không có đối thủ dành cho món canh chua, ngon đến đổi người ta đua nhau đánh bắt đến gần tuyệt chủng. Loại cá này lớn nhất chừng mười lăm ký, có đặc điểm là khi còn sống chẳng những không tanh mà lại tỏa mùi thơm. Vảy có màu trắng bạc long lanh giống màu cỏ bông lau nên được đặt tên là cá Bông Lau. Một điểm khác khá lạ lùng là người ta chưa bao giờ đánh bắt được một con cá bông lau nào có chửa, hoặc tìm thấy trứng của chúng…

Ít nhiều cảm tình bắt đầu hình thành trong tôi. Cái vẻ bề ngoài lè phè xem ra chẳng đại diện chút nào cho cái bộ óc tưởng chừng chứa cả một kho tàng kiến thức miệt vườn. Tôi cũng sinh trưởng gần Vàm Nao như ông mà giỏi nhất cũng chỉ biết tên con sông và vài loại cá. Thậm chí còn không biết các giống cá này là sản phẩm của Vàm Nao. Lại càng không biết xuất xứ tên của chúng. Nói chi chuyện ca dao với huyền thoại… Tôi thấy mừng là rồi đây sẽ được ông cho biết thêm những chuyện dân gian của vùng sông nước Cửu Long.

Hạm trưởng ngưng kể, nhìn chăm chăm về phía trước. Vành trăng vằng vặt giữa vài đám mây đen chiếu xuống mặt sông tạo thành một đoạn rực vàng như xuyên qua lớp nước phù sa, như khuếch tán đủ soi hai bức tường đen chạy dọc hai bên bờ. Các hàng đáy đã thưa thớt. Hạm phó cho lệnh tăng máy. Anh bảo tôi:

- Đoạn nguy hiểm nhất đã qua, từ đây Thiếu úy Bằng lái được rồi.

- Đáp nhận.

Tôi lên tiếng mà lòng cảm thấy bất an. Các hàng đáy có thưa bớt nhưng nhất định là không có nghĩa nguy hiểm đã qua. Tôi ít có kinh nghiệm giang hành trên những dòng sông chộn rộn. Các hàng đáy thưa bớt cũng có nghĩa ghe tàu tăng tốc nhanh hơn và khó tránh hơn. Tôi nhìn hạm trưởng hạm phó mỗi người một cánh đài chỉ huy và mỉm cười trấn an. Hai bên tôi đang được cả hai xếp tả phù hữu bậc, thì lo chi cho mệt!

Mũi tàu đang hướng vào phần cuối của hàng đáy chạy dài sát bờ bên mặt nhô quá nửa sông. Tôi cho lệnh hướng qua trái, dùng độ nghiêng bánh lái nhiều hơn bù trừ xuôi dòng. Con tàu từ từ vượt sát cột ngoài cùng, bỏ trọn hàng đáy về bên tay mặt. Giữ thẳng con tàu giữa dòng được một lúc thì một hàng đáy khác hiện ra, đa phần nằm hướng bờ bên trái. Tôi lại ra lệnh cho tay lái nhiều về bên mặt để vượt qua. Trong cái lấp lánh bàng bạc của mặt nước, cây cột ngoài cùng của hàng đáy vươn lên khá rõ khiến tôi dần dần tự tin hơn và bắt đầu thấy thích thú. Giang hành ban đêm có khổ cực nhưng đó lại là một trắc nghiệm sinh động về khả năng hải nghiệp.

- Mình đang ở đâu, thiếu úy Bằng?

Tôi giật mình trước câu hỏi bất ngờ. Trong sông và ban đêm, làm sao biết chắc mình đang ở đâu! Chỗ nào cũng hình thù quái dị, chỗ nào cũng lem nhem như chỗ nào! Không có núi đồi, không có hải đăng thì lấy gì đo hướng. Vậy thì chỉ còn cách phỏng định. Căn cứ theo thời gian từ lúc ra chỗ cạn đến giờ là gần một tiếng, thì chắc cũng sắp đến cuối sông. Tôi nhìn phía mũi. Mặt sông còn mênh mang, tít mờ. Tôi chợt để ý vùng trời ửng sáng ở phía xa chếch sau tả hạm. Chắc chắn là đèn của quận lỵ Chợ Mới. Tôi bước vội đến chiếc la bàn, quay do hướng vùng sáng rồi kẻ lên giang đồ. Tôi nói:

- Thưa hạm trưởng, một hải lý nửa sẽ gặp sông Hậu giang.

- Cám ơn anh.

Thật hú vía, suýt nữa là bị chê trách. Hơn thế nữa, trường hợp này, câu “cám ơn anh” còn ngầm ý là lời khen. Thì cứ cho là thế, cho sướng!

Tôi cho lệnh quẹo trái để vào sông Hậu. Chiều rộng của khúc sông này cũng cỡ Vàm Nao, cũng nhiều hàng đáy cá nhưng không “loạn”. Tất cả gần như nằm một bên, y như trên sông Bồ Đề và Cửa Lớn. Một thủy trình được dành sẵn khá thênh thang. Những sợi thần kinh căng thẳng chợt chùng hẳn đi. Tôi bật đèn, lấy compa đo khoảng cách, phỏng định tốc độ. Con tàu sẽ đúng hẹn, không tệ! Máy cũng chỉ mới tiến ba, nếu cần thì tiến bốn. Nhưng chắc khó tiến bốn. Sông đổi khúc thì tiết trời cũng đổi thay. Mây đen bắt đâu kéo về nhiều hơn, rủ nhau từng lúc che mờ ánh trăng. Giọng rề rà của hạm trưởng:

- Đừng có mưa nghe ông. Ông mà mưa là hại nhau đấy!

Tôi ráng hiểu ngụ ý của câu nói. Radar không có mà gặp mưa to thì chỉ còn nước neo nghỉ! Neo nghỉ thì sẽ trễ nải. Tôi dọ dẫm:

- Thưa hạm trưởng, gặp mưa, chắc là đến không kịp giờ.

Ông gật đầu, hờ hững đáp:

- Thì chắc cũng phải “lết” đến đâu hay đến đó. Neo tàu tránh mưa, mấy tay thiết giáp cười cho thúi đầu… Mà tàu mình đang đến đâu rồi thiếu úy Bằng?

- Thưa vừa vào sông Hậu.

- Tốt, mình sẽ đúng hẹn và phải đúng hẹn! À này, như ở đoạn sông này, anh làm sao định vị trí chiến hạm?

Tôi nhìn hai bên bờ. Trăng đã biến vào đám mây tạo mỗi bên bờ một dãy tường đen kịch. Tôi lại dọ ý:

- Thưa hạm trưởng, căn cứ vào thời điểm tàu vào sông Hậu rồi phỏng định theo tốc độ xuôi dòng…

- Đó là cách… ẩu nhất! Trên giang đồ có ghi các điểm mốc đặc biệt để định vị trí. Chuyến về tôi sẽ chỉ cho, nếu anh muốn học.

Cái lối nói nghe thật sóc hông nhưng tôi cũng đành lả dả:

- Muốn quá. Cám ơn hạm trưởng.

Cảm giác hân hoan sắp học được điều mới lạ gây tôi thèm nhớ mùi thuốc lá. Tôi mò túi tìm kiếm.

- Anh cho tôi một điếu. Tôi hết thuốc mà làm biếng xuống phòng.

Tôi kéo nhô ra một điếu, đưa gói thuốc qua mời. Ông rút một điếu đưa lên môi. Tôi quẹt que diêm. Que diêm chưa cháy thì nghe tiếng ông la:

- Thuốc hiệu gì mà hôi dữ! Trả lại anh.

- Dạ, Bastos xanh quân tiếp vụ, thưa hạm trưởng.

- Hèn gì. Xem ra anh ghiền nặng.

- Thưa không. Chẳng qua muốn tiết kiệm.

- Anh còn trẻ mà biết tiết kiệm là tốt. Anh tính chừng nào lập gia đình?

Tôi ngần ngừ. Nếu câu hỏi là của ông hạm tiền nhiệm, tôi sẽ tâm sự ngay về kế hoạch năm năm nhưng tôi không muốn nói với ông này. Từ ngày đầu không mấy thiện cảm khó gây trong tôi sự hứng thú kể lể. Tôi đáp qua loa:

- Thưa chưa có ý gì về việc đó.

- Tại anh chưa gặp người vừa ý. Nếu gặp, nhất định là muốn cưới ngay, như tôi. Nhưng cưới vợ sớm nhiều khi cũng… kẹt. Ở đời mà, sau khi mình gặp một người vừa ý, thì mình thường thấy có người khác… vừa ý hơn! Năm ngoái, tàu công tác Châu Đốc, tôi gặp một cô thật vừa ý. Cô cũng dành cho nhiều cảm tình. Thế rồi, sau khi rời Châu Đốc, tôi không dám trở lại. Biết chắc rằng, nếu trở lại là sẽ… bỏ vợ. “Thương em Bảy Núi cũng trèo. Ghét em núi Két vượt đèo cũng không!”

Ông cười sảng khoái. Tiếng cười giòn tan, đôn hậu. Tôi mím môi chúm chím cảm thông. Ông chỉ mới gặp hai “vừa ý”, còn tôi, có đến ba và xem ra cô nào tôi cũng… vừa ý hơn hai cô còn lại. Và cũng không muốn bỏ cô nào!

Suốt gần một năm qua, mỗi tuần, tôi vẫn viết đều đều cho Hồng một lá thư cho dù hơn nửa năm qua Hồng không trả lời lá thư nào. Trong lá thư cuối cùng Hồng có gợi ý rằng chắc không duyên nợ nên Hồng xin ngưng mọi liên lạc. Ban đầu tôi cứ ngỡ Hồng nói đùa, chắc Hồng muốn trừng phạt tôi về cái tội ngày xưa sáu tháng không viết thư. Nhưng sau ba tháng không thư, tôi bắt đầu sốt ruột. Tôi mong tàu có dịp ghé Nha Trang nhưng tàu còn mãi mê đi các vùng khác.

Trong cùng thời gian đó, qua những giây phút yếu lòng, tôi đã hai lần viện cớ đến chơi với Dũng để đỡ nhớ Hiền! Hiền đã dành cho tôi ánh mắt nồng nàn và cả hai lần tôi đều thấy vắng bóng Thanh. Thế là tôi vô cùng hạnh phúc và cố đè nén khát khao muốn trở lại…

Tôi cũng đã hai lần đi tìm Tuyết, ở Hollywood Snackbar và cả ở nhà nàng nhưng cả hai nơi đều không gặp. Nhưng tôi chưa tin là Tuyết muốn vĩnh biệt thật. Tôi vẫn tin là sẽ gặp lại nàng. Cái khổ nhất của tôi là mối lần cầm đọc quyển “Ý thức mới…”, tôi vẫn không sao tránh khỏi nhớ đến cái đêm cuối cùng gặp Tuyết. Dĩ nhiên cũng khó mà tránh không mường tượng cái vóc dáng tuyệt mỹ trần truồng và những động tác hiến dâng cuồng dại…

- Báo cáo có một ghe ngay trước mũi tàu.

Tôi giật nẩy người nghe tiếng hét của quan sát viên. Hạm trưởng phóng khỏi ghế. Hạm phó chồm người quan sát rồi la to:

- Tay lái hết bên phải. Hai máy tiến hai… Hai máy tiến một…

Chiến hạm quay nhanh mũi vừa kịp bỏ chiếc ghe bên tả hạm. Chiếc ghe chồng chành dữ dội, lùi dọc theo hông tàu. Tiếng hạm trưởng hối hả:

- Bên trái hết! Hai máy ngưng!

Tôi đặt ống dòm, tim đập thình thịch. Chiếc ghe quá nhỏ, ánh trăng quá mờ. Dường như có hai hoặc ba người trên ghe. Họ thoát chết hai lần trong đường tơ kẻ tóc. Tàu tránh kịp thời nên không cắt ngang chiếc ghe. Chân vịt ngừng đúng lúc nên chiếc ghe thoát khỏi sóng quậy chìm. Hạm trưởng đích thân nắm cần đèn pha, chớp chớp kêu ghe cặp vào tàu. Ông bảo tôi thủ khẩu đại liên. Khi chiếc ghe kè sát bên dưới đài chỉ huy, hạm trưởng nói như quát:

- Bộ không muốn sống sao mà sấn ngay mũi tàu?

Ánh đèn pha cho thấy trước mũi là một cụ già gầy gò, sau lái là một gã trung niên. Một người đắp mền nằm giữa ghe. Cụ già đứng khoanh tay trong dáng diệu khúm núm, ngước nhìn lên, miệng lắp bắp:

- Quan lớn thương tình, quan lớn thương tình, chúng tôi không thấy…

Hạm trưởng bực bội hỏi tới:

- Giờ này mà ghe đi đâu? Làm giao liên hả?

Cụ già còng lưng, chấp tay xá:

- Quan lớn thương tình, con gái tôi nó đạp trúng lựu đạn, tôi mãi lo chạy hết ga đi nhà thương nên không nghe tiếng tàu…

Ông cụ nói xong bảo gã trung niên giở phần mền ở chân người đang nằm. Chiếc quần dài đen rách lỗ chỗ dính đầy máu. Ông hạm trưởng bảo một nhân viên chạy xuống kêu sĩ quan cơ khí cho mở cửa đổ bộ và bảo quan sát viên còn lại kêu y tá sẵn sàng băng bó thuốc men. Ông bảo gã trung niên chờ, khi có lệnh cho ghe chạy đến mũi tàu. Ông nhờ hạm phó xuống trông coi việc cứu giúp và báo cáo tình trạng thương tích. Hạm phó rời đài chỉ huy. Hạm trưởng quay qua tôi:

- Cố gắng giữ tàu tại chỗ…

Ông dõi mắt xuống cửa đổ bộ. Tôi nhìn quanh, xác định vị trí. Con tàu đang xuôi giữa dòng và sớm muộn sẽ trôi vào hàng đáy xa xa trước mũi. Tôi nhẩm một đặc tính của con tàu: “Khi lùi, lái tàu lên hướng gió”. Gió hiện tại thật nhẹ đến không đủ mát. Tôi nhìn lên lá cờ đang cuốn tròn Vậy cho hai máy lùi, tay lái số không là coi như lùi thẳng, tàu vẫn giữa dòng. Đợi một lúc, thấy hàng đáy đã khá gần, tôi ban lệnh. Có tiếng máy khởi động. Thân tàu hơi run rẩy. Chiến hạm vừa bắt đầu lùi, tôi cho ngưng máy. Vậy mà cái trớn cũng đủ qua khỏi chiếc ghe một đoạn ngắn. Hạm trưởng khen:

- Được lắm, được lắm! Cứ tiếp tục như vậy.

- Nhận rõ!

Cửa đổ bộ vừa hạ, hạm trưởng chớp đèn vào ghe và vào mũi chiến hạm. Chiếc ghe nhanh chóng, êm xuôi cặp vào. Anh y tá tiếp tay gã trung niên nâng người đàn bà bị thương vào phòng cấp cứu. Các binh sĩ thiết vận xa tò mò nhốn nháo, cố nhìn vào. Một lúc sau, hạm phó trở lại trình hạm trưởng sự việc. Một bàn chân bị nát, hai ống chân bị nhiều vết thương. Y tá đã tạm băng bó không còn ra máu. Người bị thương còn tỉnh. Y tá cũng chích mũi thuốc giảm đau.

Hạm trưởng trầm ngâm rồi ra lệnh đưa gã trung niên lên đài chỉ huy. Gã là chồng của nạn nhân. Ông đề nghị chiến hạm giúp đưa đi nhà thương nhanh hơn. Người chồng cùng đi theo tàu. Khi đến Long Xuyên một giang đỉnh và xe hậu cứ sẽ chờ đưa nạn nhân lên bệnh viện. Người chồng vui mừng chấp tay xá. Hạm trưởng khoát tay, bảo gã đi xuống báo sự việc cho cụ già.

Vài phút sau ông cho lệnh đóng cửa đổ bộ và cho tiến máy. Trước khi rời xa chiếc ghe, hạm trưởng nói vói một lời, nửa cà rỡn nửa nghiêm túc với cụ già đang ngẩn nhìn theo tàu:

- Cụ ơi! Cụ ở lại mạnh khỏe và làm ơn từ nay bỏ giùm cái kiểu “bẩm cụ lớn, bẩm quan lớn”. Xưa quá rồi! Tây nó về nước hết rồi!

Dứt lời ông vẩy tay từ giả, cất tiếng cười giòn. Tôi không chắc cụ già có nghe có thấy được gì không! Nhưng riêng tôi, tôi nghe nhiều cảm kích dâng tràn dù rằng tôi chẳng nhận gì từ tấm lòng nhân ái của ông…

bài đã đăng của Vũ Thất


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)