Trang chính » Biên Khảo, Nhận Định, Phiếm luận, Phụ Nữ & Giới Tính Email bài này

PHỤ NỮ, SẮC ĐẸP, ETC.

1 bình luận ♦ 24.04.2012

dora maar

Picasso, Chân dung Dora Maar

Sắc đẹp của phụ nữ từ ngàn xưa vẫn là một thứ làm bận lòng nhiều người: những người phụ nữ, có hoặc không có sắc đẹp, những người đàn ông, chiếm được hay không chiếm được sắc đẹp, và những kẻ không liên can, không muốn liên can bị cuốn vào những chuyện đôi khi là lẩm cẩm, đôi khi là chết người gây ra vì mối bận tâm về sắc đẹp ấy.

ashley judd full

Nét mặt đầy đặn “khác thường” của Ashley Judd gần đây (hình phải) làm khán giả nghĩ cô là nạn nhân của phẫu thuật thẩm mỹ. Cô đã viết bài “đính chính” trên The Daily Beast
(Nguồn: Gary Gershoff/WireImage.com (hình trái); George Pimentel/WireImage.com (hình phải)

Gần đây, khuôn mặt đầy đặn khá khác thường của Ashley Judd trong show mới của ABC là một gợn sóng trong đại dương bận lòng vì sắc đẹp phụ nữ. Giới truyền thông, cần bất cứ điều gì lôi kéo sự chú ý của công chúng, trong một lúc đói tin (Charlie Sheen đã hết lảm nhảm, Tom Cruise không còn nhảy trên ghế sofa, và Madonna chưa hôn người phụ nữ nào khác trong vòng mấy năm), thu ống kính cận cảnh vào Ashley Judd, vừa trở lại trong tầm nhìn của công chúng. Có phải khuôn mặt của cô quá đầy đặn vì phẫu thuật thẩm mỹ? Câu hỏi ấy, gợn sóng ấy, lan qua những tờ báo, chương trình tv, website, và hẳn sẽ từ từ tan biến, nhường chỗ cho những gợn sóng khác (hình như có chứng cớ mới về chuyện Mel Gibson kỳ thị Do Thái), nếu Ashley Judd không quyết định “trả lời”, “minh chánh” những lý do tại sao khuôn mặt của cô như thế, cùng lúc mài lại những mũi dùi tư tưởng phụ nữ bình quyền, rằng phụ nữ chúng ta sống trong xã hội phụ hệ, và văn hóa đương thời là thứ văn hóa đầy dẫy những cái nhìn lệch lạc về vẻ bề ngoài của phụ nữ (trích: Ai đã nhảy vọt một cách thần kỳ từ chuyện bị bệnh, hoặc thêm cân trong mùa đông, đến kết luận là phẫu thuật thẩm mỹ? (“When I am sick for more than a month and on medication (multiple rounds of steroids), the accusation is that because my face looks puffy, I have “clearly had work done,”) Chính là văn hóa của chúng ta; trích: (Phụ nữ) bị diễn tả tỉ mỉ, khuôn mặt và thân hình chúng ta bị phân tích và mổ xẻ, giá trị của chúng ta có và được gán cho là dựa vào việc giảm thiểu chúng ta từ một con người đến một thứ biểu hiện sinh lý đơn giản). Sau bài viết của Ashley Judd là những bài khác phản đối sự xoi mói ác ý vào sắc đẹp của cô nói riêng và phụ nữ nói chung, trong đó là nỗi chán chường của phái nữ về đề tài sắc đẹp nữ, những than vãn rằng sắc đẹp chỉ mang đến tai họa cho người phụ nữ vô phúc có sắc đẹp ấy: ganh tỵ của các phụ nữ khác, thèm muốn, ve vãn, xách nhiễu từ các ông vô phúc bị sắc đẹp làm lộ ra bề trong quái thú của mình.

Tôi không biết mình có nằm trong hệ tư tưởng phụ nữ bình quyền hay không, nhưng là phái nữ, đương nhiên tôi muốn quyền lợi của mình bình đẳng với tất cả mọi người khác, già trẻ lớn bé, đàn ông, đàn bà và mọi người ở giữa. Là phái nữ, đương nhiên tôi rất rõ giới hạn của quyền lợi phụ nữ, hay nói đúng hơn những vòng rào, tường, trần, bằng kiếng hay bằng gạch người phụ nữ theo sác xuất có khả năng vượt qua gần chạm đến mức 0. Trong những vòng rào, bức tường ấy, những người phụ nữ muốn vượt qua sẽ phải tiếp tục tranh đấu bằng máu và lệ, trong khi ấy giới phụ nam nhởn nhơ ra vào, thậm chí không cần thứ kỹ thuật tối tân mà Kirk và Spock phải dùng đến trong Star Trek. Lúc nhỏ, tôi luôn ao ước là con trai, vì con gái phải về nhà trước 10 giờ đêm (con gái đi đêm vừa nguy hiểm vừa không đủ lễ giáo), không được đi chơi xa (là con gái, ai lại ngủ ở chỗ lạ như thế), không dám vào quán cafe nơi hình như chỉ dành cho các ông phì phèo khói thuốc). Ngày nay, những vòng rào ấy không còn nữa, và tôi xin mạo muội cho là chúng đã biến mất trên phần lớn quả đất, cũng như những vòng rào đã lay đổ trước khi tôi sinh ra đời. Nhưng những vòng rào khác vẫn còn, cho đến khi “văn hóa” (nền văn hóa đắc tội với Ashley Judd vì đã dám kết luận sai lầm về khuôn mặt đầy đặn của cô) của chúng ta thay đổi, và sự thay đổi ấy cần sự thay đổi của già trẻ lớn bé, đàn ông, đàn bà và mọi người ở giữa. Nghe ghê gớm lắm, nhưng tôi tin rằng sự thay đổi ấy đang xảy ra, có thể chậm hơn con rùa trong truyện ngạn ngữ, nhưng vẫn là “tiến bộ” (hay một từ ủn ỉn nào đó của bầy lợn đàn ông-cho-mình-là-thượng-đẳng). Như thế, cho đến ngày tận thế, hoặc ngày xã hội loài người quay ngược lại chế độ mẫu hệ (và ba bà đi bán lợn xề có khả năng biến thành ba lợn xề phụ-nữ-cho-mình-là-thượng-đẳng), phụ nữ sẽ phải tiếp tục đương đầu với những rào cản vô hình và không tên. Những khi mỏi mệt, phụ nữ nên họp mặt với vài ba người bạn gái và nói xấu đàn ông cho bõ ghét. Nói xấu đàn ông cũng “đã” không kém một ly rượu ngon, một miếng bánh chocolate và kem bơ 500 calorie (chỉ có phụ nữ mới biết con số 500 này khổng lồ đến mức nào) và mua được một món hàng giảm giá kỷ lục.

Sắc đẹp đã và sẽ luôn luôn là một nhân tố trong cuộc sống con người. Đây là một trong những chân lý không bao giờ thay đổi mà bác Hồ chưa nhắc đến. Tại sao? Vì lòng yêu sắc đẹp là một trong những bản năng của con người. Định nghĩa về sắc đẹp có thể không đồng nhất, nhưng hiện diện của sắc đẹp luôn mang lại lợi ích (dù lợi ích có thể biến thành tai họa). Nếu có ai không thể tin vào lập luận đơn giản này, thì đã có nhiều nghiên cứu cho thấy những người có sắc đẹp hơn hẳn số còn lại trong những cơ hội về tình, tiền, sự nghiệp, etc. Sắc đẹp ở đây là nhan sắc chung chung trước khi được phân loại giới tính. Phụ nữ không nên quá tự tin mà cho rằng chỉ có sắc đẹp của phụ nữ mới khiến người khác tốn của và hao tâm. Trong đoạn cuối của bài Ashley Judd, cô thêm vào một câu đại loại rằng phái nam cũng bị phê phán theo những tiêu chuẩn “nam tính”, nhưng cô không nhắc đến sắc đẹp, có thể vì cô cũng tin theo những tiêu chuẩn ấy và cho rằng sắc đẹp của phái nam không quan trọng. Không quan trọng bằng sắc đẹp phái nữ, đã hẳn, vì phái nam thường được đo đếm bằng sức mạng thể chất và tiền bạc. Nhưng điều này không có nghĩa đàn ông không bị phê bình và soi mói dựa trên sắc đẹp. Từ Iliad của Homer, Romeo&Juliet của Shakespears, đến Madame Bouvary của Flaubert và thậm chí Anna Karenina của Tolstoy, nếu không phải vì sắc đẹp của đàn ông, thì nói như các cụ ta, đã chẳng có gì mà phải lắm chuyện. Theo lối bò chậm chạp và quanh co của con rùa “tiến bộ” nhắc đến ở phần trên, đề tài sắc đẹp của đàn ông sẽ càng lúc càng tăng tầm phổ cập. Từ phim “Tiết lộ” (Disclosure), trong ấy anh chàng đẹp trai Michael Douglas bị xếp phụ nữ xách nhiễu tình dục, cho đến show “Phố Beo” (Cougar Town) trên đàn ABC vài năm gần đây, chuyện đàn ông có sắc đẹp (cũng) bị ve vãn và biến thành đồ chơi cho những “thú săn” (predator) đã được trình làng giữa sự im lặng (chấp nhận?) của phái nam (điều đáng chú ý là những phỏng đoán của các nhà phê bình (nữ) cho rằng Phố Beo sẽ không thu hút được khán giả đàn ông đã không trở thành sự thật).

Vì sắc đẹp là một trong những nhân tố của cuộc sống con người, và mang lại lợi ích, cho nên nỗ lực làm đẹp đã và sẽ vẫn là một nhân tố trong cuộc sống con người. Chuyện làm đẹp của phụ nữ thì đã thành “truyền thống” cho phái nữ, nhưng ngày nay, chuyện đàn ông chăm chút sắc đẹp, theo những phương pháp gần như đồng nhất với phụ nữ, có thể vẫn còn chưa phải là chuyện đương nhiên, nhưng cũng như hôn nhân và ly dị của những người đồng tính, sẽ thành chuyện thường ngày không ai buồn bàn tán đến. Một người làm đẹp, trước tiên là cho chính mình, vì lòng yêu cái đẹp, muốn nhân dáng nhìn lại mình trong gương gần với tiêu chuẩn cái đẹp của mình hơn. Nói rằng phụ nữ làm đẹp, và sắc đẹp phụ nữ muốn đạt được, là “bị” nhồi sọ bằng những tiêu chuẩn sắc đẹp của phái nam về phụ nữ chắc chắn không sai, nhưng sự phê phán dè bỉu nằm trong nhận xét ấy không hẳn đúng. Phụ nữ làm đẹp, vì muốn vừa lòng đàn ông thật đấy,nhưng sự hài lòng của đàn ông thường chỉ là một lớp đường tô vẽ bên ngoài mục đích thật sự là lợi ích. Từ xưa, ngoài chuyện buôn bán sỗ sàng trong cái nghề lâu đời nhất của phụ nữ, các cô các bà làm đẹp là để kiếm được một ông chồng có thể lo lắng (tái chánh) cho mình trọn đời. Ngày xưa, đấng phu quân là cứu cánh của phụ nữ: những vòng rào lúc ấy bắt đầu từ cửa nhà của các cô các bà, hạnh phúc quan trọng nhất là tìm được chỗ nương thân. Ngày nay, phụ nữ có nhiều lựa chọn nghề nghiệp hơn, có thể tự độc lập, nhưng lương vẫn thấp hơn phái nam cùng nghề cùng cấp, trong khi phải gánh vác phần lớn việc nhà, trong ấy là chuyện sanh nở và chăm sóc cho con. Như thế, một ông chồng “có khả năng” vẫn là một lựa chọn dễ dãi và khỏe khoắn. Hơn nữa, những giao tiếp thường ngày của phụ nữ bây giờ có rất nhiều khuôn mặt đàn ông. Sắc đẹp có thể mang lại cho những giao tiếp ấy nhiều lợi ích,từ những quan hệ trực tiếp liên quan đến tiền bạc, như với xếp hoặc khách hàng, cho đến những chuyện lặt vặt như lấn hàng trong chợ đông người. Quảng cáo thường là lãnh vực phụ nữ nhờ sắc đẹp để thu lợi, và cách dùng sắc đẹp phụ nữ trong quảng cáo có thể mang vẻ gợi dục (đàn ông) khá rõ rệt, như quảng cáo của Burger King có Paris Hilton mặc áo tắm trườn bò quanh chiếc xe hơi. Sắc đẹp của đàn ông trong quảng cáo thường khêu gợi kín đáo hơn như trong các quảng cáo nước hoa, kem cạo râu, nhưng gần đây, vài năm sau quảng cáo của Paris Hilton, Burger King tung ra quảng cáo có David Beckham, ăn mặc chỉnh tề, gọi một ly sinh tố dâu rất lành mạnh, và tuy Beckham chỉ mỉm cười rất tự nhiên, không ai (nhất là phụ nữ) có thể hiểu sai dụng ý khêu gợi của nó. Như thế, một lúc nào đấy trong tương lai, chúng ta có thể được nghe và đọc đàn ông phê phán nhau vì đã bị nhồi sọ bằng những tiêu chuẩn sắc đẹp của phụ nữ (về phái nam).

Trong câu chuyện dài làm đẹp, từ kem dưỡng da, phấn son, đến phẫu thuật thẩm mỹ là một bước dài trong kỹ thuật cũng như tâm lý. Cứ theo phản ứng mạnh mẽ của Ashley Judd phản đối “văn hóa” dám nhầm lẫn về khuôn mặt đầy đặn của cô, thì xã hội Mỹ vẫn chưa chấp nhận phẫu thuật thẩm mỹ hoàn toàn. Có lẽ hiện nay chỉ có vài nước Nam Mỹ đi ngược trào lưu: phụ nữ không làm phẫu thuật thẩm mỹ sẽ bị phê bình, thay vì ngược lại. Tôi không biết sự chống đối (của phụ nữ) về phẫu thuật thẩm mỹ là từ đâu. Nỗ lực làm đẹp quá đà? Nguy hiểm về sức khỏe? Tôi ngờ rằng sự chống đối ấy ít liên quan đến những hiểm họa sức khỏe hơn là nỗi hằn học rằng phụ nữ phải ra sức đến thế để chiều theo con mắt thẩm mỹ của đàn ông (về phụ nữ). Thêm vào đó, là mối lo âu chính đáng rằng số tiền phụ nữ dùng trong các phẫu thuật chưa chắc đã là một mối đầu tư có lợi hơn những chỗ khác, như thị trường chứng khoán chẳng hạn. Về điểm này, tôi hoàn toàn đồng ý, và hoan hô những người như Suze Orman khuyến khích và thúc dục phụ nữ trở thành tự lập và giàu có hơn bằng cách làm quen với những vấn đề tài chánh, chi tiêu gia đình cũng như đầu tư bên ngoài. Mặt khác, không thể chối cãi tầm quan trọng của sắc đẹp đối với những ngôi sao trong giới giải trí, và nỗ lực hết mức có thể, ăn kiêng, thể dục, thậm chí phẫu thuật không có gì đáng để kinh ngạc. Đặt câu hỏi hay không, suy luận bàn tán hay không, tất cả khán giả đều hiểu rằng có phẫu thuật hay không và những phẫu thuật gì là dữ kiện chỉ có các ngôi sao tự biết. Tuy phẫu thuật thẩm mỹ thành đề tài truyền thông khá gần đây, những ngôi sao của Hollywood đã sửa cằm và mũi từ thập niên 1950 (Marilyn Monroe, Elvis Presley chẳng hạn). Thậm chí còn có chuyện Marilyn Monroe và những cô đào cùng thời phẫu thuật cắt đi xương sườn để eo nhỏ lại.

Đàn ông thường than phiền rằng phụ nữ có thói (xấu) dùng sắc đẹp như con dao hai lưỡi: gặt hái lợi lộc khi có thể và than vãn nếu không được như ý muốn. Cũng từa tựa như một số người da đen gọi nhau là “mọi” (Negro) ơi ới, nhưng người khác màu da dùng đến chữ ấy là la gào kỳ thị, phụ nữ muốn được ve vãn và chiều chuộng nhưng cũng sẵn sàng tố cáo xách nhiễu nếu sự ve vãn ấy không hợp ý họ. Mức lằn mỏng manh giữa tán tỉnh và xách nhiễu, galant và vô duyên, vui thích và ghê tởm dê dịch theo từng người phụ nữ, tùy thuộc vào người đối diện và theo từng hoàn cảnh. Thảo nào đàn ông từ thế hệ này qua thế hệ khác không vượt qua được bốn chữ “phụ nữ khó hiểu”. Người phụ nữ đã nhiều thập kỷ như tôi cũng không hiểu, và tôi chắc đến thượng đế cũng không hiểu nổi (và xin nhấn mạnh tôi hoàn toàn không có kết luận về giới tính của thượng đế). Điểm đáng nói là, sự mập mờ “đi nước đôi” của phụ nữ trong khía cạnh xử dụng sắc đẹp này có thể biến thành tai họa. Sắc đẹp là vũ khí, và như một vũ khí sắc bén, dễ dàng làm tổn thương người xử dụng. Khi một chuyện đáng tiếc xảy ra, một trao đổi tình dục không có sự thỏa thuận của người phụ nữ, người đàn ông, dù hiểu lầm hay cố ý, có thể dùng sự mập mờ ấy bào chữa cho hành động của mình. Đàn ông, vẫn tin là tất cả phụ nữ mang sắc đẹp làm mồi nhử họ, và phụ nữ, biết rõ hành động ấy khá thông thường, đôi khi không thể đi đến kết luận rõ ràng, khiến nhiều nạn nhân chịu thêm những cưỡng bức khác trong những phán xét và suy đoán về hành vi và cá tính của họ. Theo bước con rùa “tiến bộ”, chẳng biết có khi nào phụ nữ cũng trách móc đàn ông dùng sắc đẹp khiêu khích và ngầm cho phép họ đi quá trớn, kiểu lập luận của đàn ông bây giờ: cô ta muốn tôi làm (bậy) nên mới có dáng vẻ khêu gợi như thế. Có thể lối than phiền và tự bào chữa này sẽ là tin sốt dẻo trong tương lai khi người phụ nữ đứng đầu quỹ tiền tệ quốc tế thích nâng cấp sự quyến rũ của mình và nhìn thấy mời mọc tình dục khắp nơi.

Câu chuyện khuôn mặt đầy đặn của Ashley Judd, đến nay đã tốn rất nhiều thì giờ và chữ nghĩa (bao gồm bài viết này). Trong những lập lại nhàm chán về nền “văn hóa” và xã hộ phụ hệ biến phụ nữ thành món hàng, chú mục (một cách sàm sỡ rất ư đàn ông) vào sắc đẹp phụ nữ, etc., tôi thấy có vài điểm mới: nhận thức rằng đàn ông cũng phải trải qua cái nhìn soi mói của nền “văn hóa” ấy; phụ nữ đa số tin vào giá trị của sắc đẹp (nữ); phụ nữ soi mói và chỉ trích nhau không thua và không chừng còn hơn phía đàn ông. Những điểm này, nghe qua có vẻ không phải là những điểm đáng mừng, nhưng với tôi, chúng đáng mừng vì phụ nữ đã dần dà có tầm nhìn rộng hơn và nhận thức rõ ràng hơn về “bọn đàn ông” và chính mình. Rằng chúng ta, phụ nữ, đàn ông, và mọi người ở giữa, tất cả không nhiều thì ít đã bị nhồi sọ trong đề tài sắc đẹp. Bàn cãi về chuyện những tư tưởng nhồi sọ ấy từ đâu ra và là trách nhiệm của ai không phải là vấn đề quan trọng. Cách nào để thay đổi những tư tưởng ấy cũng không phải là vấn đề quan trọng. Điểm quan trọng là nhận thức về chính mình (mức tin tưởng vào tiêu chuẩn sắc đẹp phổ cập đương thời, mức độ làm đẹp và tại sao, etc.), và nhận thức rằng ngay giữa những vòng rào, con người ai cũng có thể có những lựa chọn cho chính mình (có làm đẹp hay không, làm đẹp mức độ nào và phương cách nào, có chỉ trích lựa chọn khác biệt của người khác hay không, phản ứng khi bị chỉ trích, etc.). Nhận thức ấy, và những lựa chọn dựa trên nhận thức ấy, sẽ mang đến những thay đổi trong “văn hóa”, có thể chỉ theo tốc độ của con rùa “tiến bộ”, nhưng đó là hy vọng tương lai của phụ nữ, đàn ông và mọi người ở giữa.

Tiểu Thư (4/16/12)

Tài liệu:

Get Out of My Face! – Ashley Judd, The Daily Beast, 4/9/12)
Is Beauty a Bad Investment? Leslie Bennetts, The Daily Beast, 4/12/12)

bài đã đăng của Tiểu Thư


1 bình luận »

  • đặng thơ thơ viết:

    Một bài viết rất sắc sảo, cho thấy những chiều nghĩ khác trong mối liên hệ giữa sắc đẹp phụ nữ và tương quan nam-nữ. Đọc bài viết của Tiểu Thư, có ba điểm tôi muốn chia xẻ, trong góc độ của người theo thuyết nữ quyền (và nhân quyền):

    1. Tiêu chuẩn cái đẹp:
    “Một người làm đẹp, trước tiên là cho chính mình, vì lòng yêu cái đẹp, muốn nhân dáng nhìn lại mình trong gương gần với tiêu chuẩn cái đẹp của mình hơn. Nói rằng phụ nữ làm đẹp, và sắc đẹp phụ nữ muốn đạt được, là “bị” nhồi sọ bằng những tiêu chuẩn sắc đẹp của phái nam về phụ nữ chắc chắn không sai, nhưng sự phê phán dè bỉu nằm trong nhận xét ấy không hẳn đúng.”
    Chúng ta có thể nghĩ thêm về “tiêu chuẩn cái đẹp của mình”. Tiêu chuẩn ấy ở đâu ra, nó có phải hoàn toàn là tiêu chuẩn của chính mình, độc lập với những áp lực của xã hội phụ hệ và văn hóa đương thời hay không. Chắc chắn là không, vì con người là sản phẩm xã hội, và giới tính và các tiêu chuẩn hình thành giới tính, trong đó có nhan sắc, cũng là sản phẩm văn hóa và xã hội. Trong những giai đoạn của lịch sử loài người, có lúc chúng ta phải nhịn ăn và khổ hình tập thể dục để giữ hình dáng của các siêu người mẫu, có lúc chúng ta đề cao sự dầy dặn nở nang của thân thể nữ, nhất là khi thân thể ấy đi đôi với khả năng sinh sản. Tiêu chuẩn về vẻ đẹp nhiều khi là một phó phẩm đi sau các nhu cầu của xã hội nhằm sở hữu thân thể nữ cho các nhu cầu giai đoạn của nó, và rồi xã hội lại sử dụng phó phẩm này để điều khiển ngược lại phụ nữ. Điểm chính là khả năng của con người để phân biệt giữa làm-đẹp-cho-chính-mình và làm đẹp để tuân theo hay đuổi bắt theo những tiêu chuẩn áp đặp lên mình. Nhận thức ấy, tất cả đều có thể sở hữu, nhưng trong điều kiện tất cả đều được trang bị những hiểu biết và lập luận cần thiết để hình thành nhận thức, bảo vệ nhận thức, và mở rộng nhận thức đến những người khác.

    2. Văn hóa đi trước hay nhận thức đi trước? Chuyện con gà và trái trứng?
    Làm cách nào để có được “nhận thức”, nhận thức về chính mình và những lựa chọn cho mình, câu hỏi trên đặt ra cho chính mình nhằm nghĩ kỹ hơn về đoạn viết dưới đây:
    “Rằng chúng ta, phụ nữ, đàn ông, và mọi người ở giữa, tất cả không nhiều thì ít đã bị nhồi sọ trong đề tài sắc đẹp. Bàn cãi về chuyện những tư tưởng nhồi sọ ấy từ đâu ra và là trách nhiệm của ai không phải là vấn đề quan trọng. Cách nào để thay đổi những tư tưởng ấy cũng không phải là vấn đề quan trọng. Điểm quan trọng là nhận thức về chính mình (mức tin tưởng vào tiêu chuẩn sắc đẹp phổ cập đương thời, mức độ làm đẹp và tại sao, etc.), và nhận thức rằng ngay giữa những vòng rào, con người ai cũng có thể có những lựa chọn cho chính mình (có làm đẹp hay không, làm đẹp mức độ nào và phương cách nào, có chỉ trích lựa chọn khác biệt của người khác hay không, phản ứng khi bị chỉ trích, etc.). Nhận thức ấy, và những lựa chọn dựa trên nhận thức ấy, sẽ mang đến những thay đổi trong “văn hóa”, có thể chỉ theo tốc độ của con rùa “tiến bộ”, nhưng đó là hy vọng tương lai của phụ nữ, đàn ông và mọi người ở giữa.”
    Nhận thức ngay giữa những vòng rào và vô hiệu hóa những vòng rào. Đó là một lằn ranh mờ, bị tranh chấp, bị đôi co, nhiều lúc bị thỏa hiệp, trong vô thức, với nhận thức, hoặc trong nhận thức bị cưỡng chế (nghĩ rằng mình làm trong sự tự do, nhưng dưới ảnh hưởng của các điều kiện có sẵn mà xã hội quy định). Để thêm vào ý kiến của Tiểu Thư, tôi cho rằng rất quan trọng trong việc xây dựng một nỗ lực chung để thay đổi những tư tưởng đương thời. Cần có nhận thức sắc sảo (như Tiểu Thư và Ashley Judd) về nền văn hóa đại chúng và những kỹ nghệ làm giàu trên sắc đẹp phụ nữ- thời trang, mỹ phẩm, giải phẫu, quảng cáo, truyền hình…- nếu không, rất nhiều người sẽ bị hoang mang giữa những lựa chọn. Nhận thức đến từ chuyện giải phẫu nền văn hóa và truy tìm đến nguồn ngọn những tư tưởng nhồi sọ. Văn hóa đi trước hay nhận thức đi trước, nói chung cả hai phải tiến hành đồng bộ. Nếu muốn thay đổi nhận thức chung, cần tác động lên gốc rễ những tư tưởng đã và đang kìm kẹp những nhận thức chung tiến bộ. Nhận thức của từng cá nhân sẽ tác động lên văn hóa, đúng như Tiểu thư viết. Nhưng mọi tiến bộ xã hội cần những nỗ lực tập thể tác động ngược lại những hình thái và thể chế áp bức. Thật sự, cả hai tác động lẫn nhau, thêm vào nhiều yếu tố chính trị, kinh tế, xã hội khác. Nếu không, tốc độ của con rùa tiến bộ, theo như tình hình hiện thời dựa trên các thống kê về phụ nữ toàn cầu, phải 500 năm nữa phụ nữ mới hy vọng sánh vai nam giới trong các lãnh vực chính trị, kinh tế, xã hội. Phải hơn 500 năm nữa phụ nữ mới chiếm tỷ lệ tương đương nam giới trong các chức vụ lãnh đạo, trong danh sách những CEOs của Fortune 500, trong quỹ tiền tệ và ngân hàng thế giới.

    3. Đặt vấn đề nhận thức ở lứa tuổi nào?
    Thống kê cho thấy, những trẻ em cấp tiểu học, cả trai và gái, đều có những mục tiêu như nhau, và cùng tỷ lệ như nhau 50/50, trong việc trở thành tổng thống, nguyên thủ quốc gia, hay những chức vụ lãnh đạo khác trong các thể chế giáo dục, xã hội, quân đội, luật pháp. Nhưng sự khác biệt bắt đầu lộ rõ khi các em đến tuổi “teen”, con số những em gái có ý muốn trở thành người lãnh đạo càng lúc càng ít dần. Cho đến khi các em vào đại học thì tỷ lệ những em gái còn giữ những mục tiêu ban đầu chỉ đếm trên đầu ngón tay. Vì đến tuổi vị thành niên là lúc các em gái đối mặt với vấn đề làm đẹp, dành thời gian cho chuyện làm đẹp, và bị nhồi sọ rằng vẻ đẹp là điều quan trọng nhất mà người phụ nữ cần đạt đến, trên chuyện học vấn, nghề nghiệp, theo đuổi những mục đích khác. Đây là lứa tuổi dễ bị nhồi sọ nhất, và thị trường văn hóa đại chúng biết rõ điều này nhất. Những tạp chí tuổi teen, những show truyền hình, âm nhạc, thời trang, phim ảnh… luôn sẵn sàng tạo ra những “nhận thức” cho các em, trước khi các em có đủ thời gian và kinh nghiệm để tự tạo nhận thức cho mình. Những tác động của nền văn hóa đại chúng mạnh mẽ hơn nỗ lực của giáo dục học đường và gia đình, nhất là nếu chung quanh các em là những người phụ nữ điển hình cho nền văn hóa, và hơn nữa, xã hội mà các em lớn lên và xoay sở để tìm chỗ đứng trong đó là xã hội phụ hệ tư bản nắm quyền trong kỹ nghệ giải trí và thị trường tiêu thụ. Viết đến đây, tôi nhớ tới cuốn phim tư liệu MissRepresentation năm 2011 của Jennifer Siebel Newsom (http://community.feministing.com/2011/02/14/miss-representation-a-film-review/) và phần phỏng vấn những phụ nữ Hoa Kỳ nổi tiếng trong các lãnh vực chính trị, truyền thông, giải trí, văn học như Condoleezza Rice, Nancy Pelosi, Katie Couric, Rachel Maddow, Margaret Cho, Rosario Dawson và Gloria Steinem. Cuốn phim “nội soi” những thông điệp và thái độ kỳ thị giới tính trong cách giới truyền thông khắc họa hình ảnh người phụ nữ, và việc quy giá trị chính của họ trên các yếu tố nhan sắc, tuổi trẻ, và dục tính, hơn là khả năng lãnh đạo và tài năng của họ. Từ đó dẫn đến sự thiếu vắng phụ nữ trong những vai trò lãnh đạo ngoài đời. Sự thiếu vắng này cộng với sự bội thực những thông tin về thời trang với không ít những kiểu mẫu khêu gợi mà thị trường tư bản nhắm tới giới trẻ từ 12 tuổi trở lên đã ảnh hưởng tới định hướng của các em ngay từ lúc đó. Cuốn phim nhấn mạnh khái niệm “You can’t be what you can’t see” (Marion Wright Edelman), giới hạn nhận thức là giới hạn việc phát triển chính mình, chúng ta không thể trở thành điều chúng ta không biết. Việc xây dựng hoặc thay đổi nhận thức có thể thực hiện bằng cách tác động lên kỹ nghệ giải trí và văn hóa đại chúng, như đạo diễn Jennifer Siebel Newsom đã làm. Đã từng là diễn viên điện ảnh và thông hiểu luật đào thải khắt khe của Holywood đối với những nữ diễn viên quá 40, cô quyết định đứng sau ống kính để quay phim, làm đạo diễn thay vì chấp nhận chuyện “quá đát” để đứng trước ống kính trong những vai nữ trẻ, đẹp, và khêu gợi.

Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)