Trang chính » Biên Khảo, Học Thuật, Lịch Sử, Nghiên Cứu Email bài này

Bài Sử Khác Cho Việt Nam–Chương XIX

 

 

CHƯƠNG XIX:

CUỘC CHIẾN GIÀNH ĐỘC LẬP: CƠN MỘNG DU 30 NĂM (II)

 

Người và tình thế mới: The Young Turks, lực lượng thanh niên Miền Nam

Cuộc chiến tiếp nối sau Genève, nhìn từ phía VN DCCH tuy có những xê dịch tiến đến độ cường ngạnh, quá khích gây ra những xáo trộn nội bộ nhưng vẫn được trình bày với mục đích cứu nước khích động, xây dựng chủ nghĩa xã hội trong ước mơ. Để biện minh cho lí tưởng sau cùng và thực tế quy tụ quần chúng trong tay, người ta đẻ ra cụm từ “Tổ quốc xã hội chủ nghĩa” kết nối từ khẩu hiệu “Yêu nước là yêu chủ nghĩa xã hội”. Do một chừng mực đồng nhất đó, cùng với sự co cụm vốn là bản chất của một phe tuy là đã xuất hiện trên diện địa rộng lớn toàn cầu, tình hình cuộc chiến lần thứ hai này trên bình diện thế giới lại gần như là xoay quanh từ những biến động của Sài Gòn, Miền Nam với những thông tin đi theo với các phương tiện truyền thông mới nhất, tạo thành một cuộc chiến dành cho các nhà báo, gây tác động không nhỏ đến cả đường hướng chiến tranh nói chung. Sự biến 1-11-1963 ở Sài Gòn mang danh xưng “Cách mạng” tại chỗ, tuy không có ý nghĩa đạo đức chính trị như người ta muốn có khi gán cho nó, nhưng lại là dấu hiệu rõ ràng về một quá khứ “thuộc địa và phong kiến” không trở lại nữa – sự đoạn tuyệt đó, lạ lùng, lại giúp cho người Cộng sản bớt được cản trở trong việc tiến chiếm và củng cố quyền hành trên đất nước.

Về mặt chế độ, có thể nói Đệ nhất Cộng hoà mang tính chất hậu thuộc địa, thừa hưởng nền dân chủ thu nhận từ Pháp với các nhân viên quân sự, dân sự được đào tạo thời thuộc địa hay trong chiến tranh dưới quyền người Pháp, do đó cả sinh hoạt xã hội, cung cách ứng xử của con người, rõ ràng cũng đầy tính chất liên hệ với cuộc sống trước 1945. Tuy nhiên, cầm quyền lại là người Việt nên yếu tố “truyền thống” lại nổi lên, rõ rệt nhất là ông Tổng thống vốn là một cựu Thượng thư, để cho những người chống đối dễ dàng tìm được lời buộc tội: “phong kiến”, “độc tài”, “tham nhũng” mang thêm chữ mới “gia đình trị” không xa. Cũng bởi mang dấu vết truyền thống mà chính quyền mới đã sử dụng thành công một cung cách đàn áp, căn bản không khác gì phía đối nghịch, để tạo ra một thời bình an ngắn ngủi không dễ thấy lại trong suốt cuộc chiến. Có lẽ cả trên Miền Bắc cùng thời, vốn không dấu vết chiến tranh, cũng không thể có được sự thoải mái trong sinh hoạt ở phần đất mà họ chê là dưới “sự kềm kẹp của đế quốc và tay sai” này. Chút khoảng trời quang mây tạnh trong chiến tranh tàn khốc, nhắc lại có thể làm người ta ngạc nhiên, như khi đọc vài dòng ngắn ngủi của sử quan xưa khen thời Mạc Đăng Doanh “không trộm cướp, cổng ngoài không đóng, người đi đường không nhặt của rơi…” Dấu hiệu rõ nét sau thời loạn là cuộc chen lấn chết người trên chiếc cầu nhỏ trong sở Thú bắc qua Thị Nghè, trong dịp mừng Quốc khánh 1956. Tranh tài thể thao – trong một chừng mực, có nghĩa là vui chơi, được nổi lên trong khu vực với các trận thắng bóng bàn ở Asian Games 1958, SEA Games 1959, đá bóng thắng để người Nhật tặng đôi giày nhỏ với những lời khiêm tốn… Sự bình an thấy rõ, ít ra là trên những vùng khá rộng lớn khiến cho đường xe lửa tái lập đi thẳng đều đăn từ Sài Gòn ra đến Huế. Cho nên có thể nói sự sụp đổ của Đệ nhất Cộng hoà là sự đổ vỡ của một quá khứ, Tổng thống bị giết là hình ảnh một lãnh tụ (không cần phải “anh minh”) quy kết lòng người, muốn tìm mà không thể tìm lại được nữa. Không còn một “triều đình” họ Ngô với ông cựu Thượng thư làm Tổng thống, ông cựu Đốc phủ sứ làm Phó, vài ông Bộ trưởng, Tỉnh trưởng vốn là tri huyện, tuy không phải như thời Nam triều, nhưng cũng học được các cách làm chính trị người cộng sản vừa dạy cho. Và thất bại. Người Mĩ trong ảo tưởng về sức mạnh của chính mình, của thế giới Tây Phương mà mình là đỉnh cao, đã cố gắng tìm một công thức xây dựng mới nhưng rõ ra là đã hoài công. Không còn sự kết nối nào trên vùng đất này nữa cho đến ngày 30-4-1975, với một khuôn khổ khác, theo sự mơ tưởng của chính không ít người Việt Nam.

Và lại không chỉ có sự đổi thay thế hệ đến mức gãy đổ riêng ở Miền Nam. Ở Miền Bắc, khuất lấp sau tiếng hoan hô tở mở Điện Biên, đẩy viễn vọng hoà bình củng cố tin tưởng vào chế độ mới, vẫn có những đổi thay thế hệ, khó thấy chỉ vì vùng đất này đã tự rút mình vào vùng khuất của thế giới thông tin, lại gói trọn sự tranh chấp vào một hệ thống tổ chức quây kín với bên ngoài. Vẫn còn đó, một ông Chủ tịch nước năm 1945 nhớ mình là con một ông Phó bảng, chấp chứa một quá khứ văn thân đủ để tha chết cho ông cựu Thượng thư dòng dõi Phụ chính Đại thần từng có người không chịu “phế vua”, với kết quả không tính trước là người cựu tù nhân đó lên làm Tổng thống, cho phép thuộc hạ săn sóc mồ mả ông cựu tri huyện lưu lạc trên đất Cao Lãnh gà đá muỗi mòng, cái mả nhỏ nằm nhờ đất chùa đó trở thành Lăng sau 1975! Nhưng ông Chủ tịch không thể vượt lên quá khứ của chính mình, nên khi cầm đầu đất nước đã thú nhận mình không có tư tưởng gì khác lạ, đành phải mượn (1951) “tư tưởng Mao Trạch Đông” làm nền tảng cho đảng Lao Động của mình lấy đó mà sinh hoạt. Công cuộc Thổ cải / Cải cách ruộng đất áp dụng tư tưởng Mao vào Việt Nam đã gây bước đoạn tuyệt với ảnh hưởng thuộc địa còn sót đâu đó, để ông Tổng bí thư Trường Chinh thấy mình lựa chọn bí danh rất hợp thời thế, rồi sẽ quên những luận điểm văn hoá bắt chước của R. Garaudy hồi đầu kháng chiến mà chịu nghe theo lời khuyên Trì cửu chiến áp dụng cho cuộc chiến trước mắt, diễn giảng thành “trường kì kháng chiến nhất định thắng lợi”.

Thế là theo với chiến thắng, lớp người 1945 phải lùi vào bóng tối, bị loại bỏ hay nhẫn nhục sống cuốn theo thời mới. Như anh hùng thảo dã Huỳnh Văn Nghệ vào Hội Nhà văn. Như Dương Bạch Mai, Nguyễn Văn Tạo với cái thế cựu đảng viên cộng sản Pháp từng tỏ oai phong với đám đảng viên thuộc địa, nay co lại trong các tổ chức hành chính, đảng bộ trên đất lạ, không quần chúng. “Le héro de Chợ Đệm”, Hung thần Nguyễn Văn Trấn lẩn khuất đi theo các đội đấu tố cải cách, sẽ lạc loài với thời chiến thắng 75 đến mức phải chịu nghe các bà đương quyền bực mình mắng mỏ, xếp vào hàng “những thằng hưu trí”. Trần Văn Giàu từng không chịu là “con gà rót” đối với trung ương, nay cũng nhờ tăm tiếng “đi Tây”, vào Đại học Đông Phương của Liên Xô, nép mình làm ông thầy giáo, chờ dịp trở về nổi bật trên đất xưa mà không có chút thay đổi với mớ kiến thức quay quắt thời cũ, viết hồi kí kể chuyện chỉ vài năm trong cuộc đời 6, 70 năm làm cách mạng của mình! Đó là những công thần được ca tụng buổi đầu như Trần Đại Nghĩa, các trí thức mang bằng cấp thuộc địa như Tạ Quang Bửu, như các bộ trưởng Vũ Đình Hoè, Nguyễn Văn Huyên nay vẫn còn giữ chức nhưng bị các bí thư chi bộ, nhân viên có “thành phần giai cấp” tốt mỉa mai, coi thường ngay trong cơ quan mình cầm đầu… Họ, hay chính con cháu các công thần như họ, khi vượt thoát ra ngoài tha hồ chê những kẻ hãnh tiến, để kể lể, ví dụ Lê Đức Thọ (Phan Đình Khải) chỉ là kẻ khuất lấp thời tiền cách mạng nay lại là “Sáu Búa” của những lời xầm xì, không dám ngang nhiên như khi anh hoạ sĩ Ớt nằm vùng (Huỳnh Bá Thành) gọi “Tổng Thẹo” ở Sài Gòn. “Ông Sáu” oai quyền trùm trời đó, dám gạt ngang không cho “Bác” phát biểu trong cuộc họp… Trong thâm tâm chính ông Chủ tịch cũng biết mình vướng víu nhiều đến quá khứ, lúc này đã xa, quá xa nên chỉ dồn nén tâm lực vào trong ước mơ. Muốn làm người mở đầu triều đại, đánh dấu niên hiệu mới mà quyền bính vuột khỏi tay nên phải đành đưa tâm nguyện “tha thuế” cho dân chúng vào trong di chúc mà thôi! Những người trung thành với ông không thấy rằng với thời thế khác, “Bác” đã không được như xưa, đã hiển hiện đúng với con người thật chứ không như trong trí tưởng của họ.

Thời bình dẫn theo sự hưởng thụ có ngay trước mắt mà ước vọng lí tưởng còn quá xa vời nên phải có những toan tính lắt léo, tuy không đủ lấy thúng úp voi nhưng cũng ghìm giữ được sự thật một thời gian, hay có thể ghìm giữ lâu dài khi cố không buông bỏ quyền lực. Phải tìm ra, tạo ra thần tượng mới mang tính dân tộc, theo sự hình dung của tầng lớp lãnh tụ nhuốm đầy truyền thống khu vực, thế là vì “Các Chú ở Bộ Chính trị nói Bác không có vợ thì có lợi hơn” nên mới xảy ra chuyện thâm cung bí sử của thời mới (1957) từ sự lựa chọn lén lút mang tính dân tộc lớn, với người tình dân thiểu số, mới dẫn đến cái xác chết của bà hoàng hậu trong bóng tối tên Xuân kia. Cũng có thể nhìn sự việc một cách khoan dung hơn đối với ông ta, như theo cách nhìn sự kiện “hàng Pháp” của Phan Hiển Đạo: đó là một thực chứng hiện sinh giữa dòng điên đảo của đổi thay, cách mạng và chiến tranh, thực chứng có ngay trong đời của chàng thanh niên Nguyễn Tất Thành, ngơ ngác trên đất Marseille, làm đơn xin học trường Thuộc Địa (15-9-1911). Tuy nhiên sự kiện sex nọ biết đâu lại cũng đã biến ông Chủ tịch Đảng, Chủ tịch Nước thành bù nhìn trong tay lớp thuộc hạ của mình? Bài thơ viếng Trần Hưng Đạo là một tâm ý đúng với con người thật của ông mà không đúng với dụng ý của các nhân vật lãnh đạo kế tục. Với thời gian, vẫn còn đó là thân xác ông Chủ tịch 1945, để được tiếp tục nhào nặn trái ý sau 2-9-1969, làm biểu tượng xuyên suốt cuộc chiến, mượn làm bậc sáng nghiệp thời đại Hồ Chí Minh cho đến bây giờ. Ngay ở đây, đã thấy có dấu hiệu thao túng của một tập đoàn nhận ra rằng quyền lực có thể mở ra đến vô hạn, để họ có bỏ công tranh đoạt cũng không phải là uổng phí. Ngô Đình Diệm, cũng dòng dõi khoa bảng, cũng độc thân cầm đầu một đất nước, lại không được hết quả như ông chủ tịch chỉ vì thiếu một tổ chức hội kín kết tập sít sao, mềm mỏng mà có sức đe dọa kinh hồn, xoay chuyển được quần chúng như họ.

Sáng ngày 2-11-1963, khi chiếc xe tăng chở xác đầy máu me của hai nhân vật cầm đầu Đệ nhất Cộng hoà về trại Tổng Tham mưu thì có thể thấy ngay sự hiển hiện quyền uy ở Miền Nam, về một thế lực mới được tạo dựng trong chiến tranh, đang đòi hỏi được hiện diện trên chính trường. Cách thế giết người: đã bắn mà còn có đâm, chứng tỏ vừa có sự thô bạo đạt thành qua thách thức, vừa có sự khiếm khuyết bởi thiếu tự tín. Tiếp tục như thế họ sẽ trồi sụt thoả mãn được điều đòi hỏi của tầng lớp mình trong phần thứ hai của cuộc chiến, theo với khả năng của họ và tình thế vây quanh. Nhưng trong khi họ loay hoay tìm cách tạo dựng quyền hành thì những thành phần khác tham gia vào việc đánh đổ “nhà Ngô”, mất sự kềm kẹp nay được bung ra, đồng thời cũng đòi hỏi quyền lực.

Hội đồng Quân Nhân Cách Mạng do Trung tướng Dương Văn Minh cầm đầu, sau khi lật đổ Ngô Đình Diệm, chỉ tồn tại trong ba tháng thì bị tướng Nguyễn Khánh làm việc “chỉnh lí" lật đổ, lại là như một dấu hiệu gạt phăng ý định mong manh của người Pháp muốn trở lại tác động ảnh hưởng, ngả theo phe Cộng sản. Danh xưng Hội đồng Quân Đội Cách Mạng (21-3-1964) rồi Quân Lực Cách Mạng cho thấy sự biến đổi vụng về của lớp người chưa tìm ra thực lực của mình. Với bản chất của một tập họp có kỉ luật nên dù là vừa mới lật đổ một chế độ “độc tài”, họ thấy là cần phải tóm thâu quyền lực lại nên lập Hiến chương Vũng Tàu, xác định quyền hành về tay quân đội. Nơi hội họp lập hiến chương (Vũng Tàu) không phải là nơi của quyền lực thực sự (Sài Gòn) nên chỉ với những cuộc biểu tình rầm rộ là hiến chương bị huỷ (26-8-1964), chỉ tồn tại có mươi ngày! Lãnh đạo tôn giáo dùng khối áp lực của quần chúng mình để chen vào tình hình chung: Thượng toạ Thích Tâm Châu ra Thông bạch (1-9-1964) yêu cầu trừng trị người của chế độ cũ (Công Giáo!) thì Linh mục Hoàng Quỳnh yêu cầu chính phủ (8-9) chống nhóm Phật Giáo đồ Miền Trung. Uy thế của lớp lãnh đạo sút giảm như thế nên có đảo chính hụt (13-9) của các tướng tá Dương Văn Đức và Lâm Văn Phát để chứng tỏ thêm rằng quân đội không thể đóng được vai trò quản lí đất nước. Thế là thêm với sức ép của người Mĩ, lại có việc hồi phục chính quyền dân sự (20-10-1964) đưa Phan Khắc Sửu làm Quốc trưởng và Trần Văn Hương làm Thủ tướng.

Lần đầu tiên chính quyền Miền Nam có những người cầm đầu là dân tại chỗ quanh thủ đô nên vấn đề Nam, Bắc ngấm ngầm lâu nay được dịp nổ bùng trong khi vấn đề Công Giáo Phật Giáo vẫn còn là điểm nóng, không phải chỉ gây xáo trộn đường phố mà còn dẫn đến tình trạng li khai địa phương. Phan Huy Quát của đảng phái di cư thay thế Trần Văn Hương (16-2-1965) làm Thủ tướng mà còn ông Quốc trưởng Nam Kì. Cho nên vẫn lại có chống đối bên trong, biểu tình bên ngoài để lớp tướng lãnh mới, từ cấp tá trẻ hơn, những người được báo chí ngoại quốc đương thời tặng danh hiệu The Young Turks, nhanh chóng thu thập cấp bực, tăng thêm tự tín qua vài năm biến động, nổi lên tranh giành nhau. Phạm Ngọc Thảo cứ tưởng có nhiều “gốc gác” (Nam Kì, Công Giáo, Mĩ?), làm đảo chính 19-2-65 với Lâm Văn Phát mà không thể thoát khỏi quá khứ Việt Cộng nên luỵ thân, để nhóm sĩ quan trẻ còn lại đẩy được tướng Khánh lưu vong (2-1965). Chính họ đứng phía sau sắc luật 24-5-1965 cho hồi hưu chín tướng lãnh, trong đó có Dương Văn Minh.

Nổi bật trong hàng ngũ họ, và ồn ào nhất, là Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ, Tư lệnh Không quân, một dân chơi play boy, vừa bởi cá tính vừa bởi nằm trong quân chủng được đương thời coi là quý phái, “bay bổng” nên có những quyết định bốc đồng gây thu hút, chấn động cấp thời tuy không tạo được nền tảng lâu dài. Gốc Bắc Kì của ông không phải không chịu chút thất thế trước sự đòi hỏi thăng tiến của các nhân vật địa phương đã bị lật đổ, đối chiếu đồng dạng rõ rệt với gốc gác các lãnh tụ Mặt Trận (Nguyễn Hữu Thọ, Huỳnh Tấn Phát) được phô trương trên hình ảnh quốc tế. Chút níu kéo mơn trớn nhóm Liên Trường xuất thân từ các trung học cũ của Nam Kì không làm cho ông có uy thế hơn. Trong lúc đó, Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu thâm trầm, mưu mô và có một ưu thế mà cấp thời người ta né tránh: dân Công Giáo, dù là “đạo theo”. Chừng mực thủ đắc mỗi thứ một ít trong vốn liếng tự thân, được khai thác thuận lợi cho con đường chính trị: làm tướng không cần phải giả tiếng, chút dấu vết đạo giáo để được trong ngoài chấp nhận mà không gây xào xáo, gốc gác Ninh Thuận được nối kết bằng quê vợ Mĩ Tho, cũng mang dấu vết “truyền thống” với lời đồn tin bói toán, mộ phong thuỷ… Trong Nội các Chiến tranh (19-6-1965) Nguyễn Văn Thiệu được bầu làm Chủ tịch Uỷ ban Lãnh đạo Quốc gia, cao chức mà né tránh trách nhiệm bên trong trong lúc Nguyễn Cao Kì, người mấy mươi năm sau xưng là “con của Phật”, làm Chủ tịch Uỷ ban Hành pháp (Thủ tướng) múa may, quay cuồng.

Một chính quyền vá víu tôn giáo, địa phương như thế tất nhiên không thể làm thoả mãn thế lực Phật Giáo đang lên, thấy mình từng là nòng cốt chống đối, lật đổ một chính quyền “độc tài” mà vẫn còn ở thế bên lề, nên tiếp tục sắp xếp tổ chức nhắm vào tham vọng lớn hơn: “Chính phủ dân sự chống giới quân sự, giới dân sự chống Mĩ, giới sư sãi chống cả ba!” (Đại sứ M.D. Taylor). Nhưng ở thủ đô họ phải chùn bước trước khối quần chúng Công Giáo di cư nên biến động to lớn vẫn là ở cố đô Huế, mệnh danh là Phong trào Phật Giáo Miền Trung kể từ tháng 2-1966, lan đến Đà Nẵng để cũng lại gặp khối Công Giáo di cư nơi này. Báo chí của sinh viên, trí thức Huế sục sôi những lời lẽ, ý hướng quá khích mà không cho thấy lối thoát. Những lần tự thiêu không còn “mới” nữa, những cuộc biểu tình kiểu mang bàn thờ Phật xuống đường (6-6-1966) theo lệnh Thích Trí Quang (Phạm Văn Bồng), cho thấy tính chất “nội hoá” của hệ thống chống đối nên dễ dàng cho Việt Cộng chen vào khích động, và các Phật tử khi thất bại cũng dễ dàng thấy ra con đường “nhảy núi” để cứu lấy thân. Một phong trào quần chúng mang tính li khai cô lập như thế tất không thể tồn tại được, dù là có những kết quả mang tính biểu diễn như như chận tướng từ trung ương phái ra, cướp chính quyền biểu diễn vài nơi, lập “Trung đoàn (?!) quyết tử” Trần Đại Thức mang tên một anh hùng ngẫu nhiên như trong các biến chuyển bất ngờ tương tự nào khác.

Tám năm thời Đệ nhất Cộng hoà tuy không phải là thời thanh bình mơ ước nhưng một thời gian lắng dịu cũng là dịp để nảy nở một lớp người mới, một nề nếp sinh hoạt không dễ dàng chịu đựng ước thúc. Người thanh niên ở Sài Gòn đậu Trung học Đệ nhất cấp, lúc này về quê không cần tránh né vì làng không còn các du kích đe doạ trừng phạt họ tội đi theo thực dân. Trường học mở nhiều từ thành phố lớn lan ra thị trấn nhỏ, từ cấp thấp vươn lên cấp cao, bậc cuối cùng của trung học, làm mất sự dị ứng của người cộng sản đồng quê. Hệ thống giáo dục khá phóng khoáng nên sự thành lập các trường tư cũng đưa đến việc tăng nhanh sĩ số. Lẽ tất nhiên hệ luỵ về mặt kiến thức vì mở trường tràn lan chưa được bộc lộ trước các biến động tràn lấp. Ý thức địa phương, thế lực tôn giáo chen vào khiến cho Đại học không dồn ở Sài Gòn nữa mà mở ở Huế, Đà Lạt, nhấp nhỏm chuẩn bị ra đời ở những nơi khác. Lẫn lộn phức tạp nên Viện trưởng Huế là một Linh mục mà sinh viên là nòng cốt nổi loạn chống chính quyền Công Giáo.

Người ta ý thức được vai trò của tuổi trẻ nên các tổ chức thanh niên mới cũ, ra đời, phát triển: Thanh niên Công Giáo, Gia đình Phật tử, Hướng đạo sinh. Cô bé Quách Thị Trang, không ai cần biết học trường nào, ở đâu, nhưng được dựng tượng ngay giữa trung tâm Sài Gòn, dầu dãi mưa nắng đến nay, là tử nạn theo phong trào nổi dậy của Phật Giáo (25-8-1963). Một lớp thanh niên lớn lên đi tìm đường lối, vô tình hay có ý thức cũng bị lôi kéo bởi quá khứ, bởi những tập thể muốn tranh giành quyền lực. Người học sinh Nha Trang thấy bạn học gốc Bình Định (Liên khu V cũ) đưa xem tài liệu mácxít. Anh bạn Nam Kì giữa đám học sinh di cư lau nhau, đứng lên xin phép làm lễ kỉ niệm “trò Ơn” ngay trong giờ học. Anh ta khuất lấp hơn anh sinh viên Đoàn Văn Toại ồn ào hồi sau rất lâu, nhớ thời Chín năm mà tranh đấu phản chiến trong lúc từng là nhân viên ăn lương Mĩ. Cạu học sinh Phạm Xuân Ẩn đi Mĩ vào “Đại học trường làng” (Community College), chưa chắc đã có định ý làm gián điệp nhưng cũng là một trường hợp chực chờ làm con bài cho một hệ thống chính trị đầy âm mưu quấy đảo. Chưa bị lôi kéo vào những hành động cụ thể mà được trang bị kĩ thuật vui chơi mới, trong lúc thừa sức sống, đầy tham vọng ước mơ của tuổi trẻ “nếu là chim tôi sẽ làm loài bồ câu trắng”, nên họ mượn sân trường Đại học tách biệt “hát cho đồng bào tôi nghe”, làm người du ca của “quê hương ngạo nghễ” để mơ màng quá khứ thanh bình “mặc áo the, đi guốc mộc” (Trần Quang Long), hướng về tương lai rộng mở (Nguyễn Ngọc Thạch), thấy “bên kia sông là ánh mặt trời!” Lí tưởng yêu nước, vì mọi người, chung chung từ phong trào Hướng đạo, gợi mới với tổ chức Peace Corp của R.F. Kennedy, mở đường cho họ cùng đi đào giếng giúp người Thượng, xây nhà, phát thuốc cho dân nghèo… Đó là thời đại của những tổ chức Học đường Phục vụ Xã hội 1965, Du Ca 1966, của Chương trình Phát triển Sinh hoạt Học đường 1966…

Họ có thần tượng khích động từ bên ngoài, nhưng xuất thân từ trong nước nên dễ bị lôi kéo bởi ý thức dân tộc bảo thủ tại chỗ, dễ bị thu hút theo lực lượng chống chính quyền mang tính bảo thủ không che giấu chút nào, như Việt Cọng. Cuộc nổi loạn 1958 của sinh viên Pháp đưa ảnh hưởng vào trong nước, theo nguồn lí thuyết hiện sinh, dấn thân của lớp thầy giáo tốt nghiệp Đại học Pháp, mang ảo tưởng trí thức lãnh đạo tinh thần đất nước như ở các xứ xa xôi kia. Quan điểm Tự trị Đại học khiến ông thầy nhắc nhở công khai về Hồ Chí Minh trong giảng khoá, linh mục viết về mácxít in ra sách phổ biến mà không ai thắc mắc. Cũng từ sách vở Tây Phương, chủ nghĩa Mác giải thích trong thế kỉ XX vào Đại học Việt, mang một khuôn mặt “hợp lí” chứa chấp chữ nghĩa cao cấp hơn, để nảy sinh một lớp sinh viên thiên tả, hợp thời đại, ra đời có chút danh vọng ở Sài Gòn chật chội, hay vào bưng làm chức chưởng khuất lấp, nhưng cũng đủ đánh bóng dáng vẻ trí thức cho Mặt trận theo với đà chiến thắng dâng cao. Nhưng những cuộc tranh đấu phản chiến của sinh viên các trường Đại học Tây Phương, nhất là ở Mĩ, chỉ thực sự tác động đến thanh niên Miền Nam, là khi những người này bị lôi vào cuộc chiến mở rộng, đe doạ đến thân xác họ. Tấm băng-rôn “Chống lịnh tổng động viên” kéo đi trên đường phố Sài Gòn là chứng cớ cụ thể. Tâm tình trốn lính mệt mỏi của Trịnh Công Sơn – Bob Dylan Việt Nam – kéo dài theo với cuộc chiến, được sự hưởng ứng đồng thuận của xã hội đương thời làm nên một nhạc sĩ tăm tiếng lâu dài nhất, át hẳn các khuôn mặt đàn anh Văn Cao, Phạm Duy – và do đó cũng lôi cả Phạm Duy nhập cuộc một chút qua loa.

Với tình trạng mở rộng ước thúc chính trị sau 1-11-1963, học sinh, sinh viên (thanh niên nói chung) bước từ vai trò quần chúng của các hội đoàn chính trị, tôn giáo trở nên có ý thức tự chủ hơn, muốn thành lực lượng xoay đảo tình thế. “Xuống đường! Xuống đường!” biểu tình là khẩu hiệu đầy khích động đương thời. Họ không phải chỉ là những kẻ bất mãn vì bị xua đuổi sống bên lề xã hội mà có thể lại chính là con cháu những người đương quyền, xuất thân từ các gia đình vừa hưởng chút sung túc hồi phục sau chiến tranh. Biểu tình tuy có thể gặp đòn vọt, lựu đạn cay nhưng trong lẫn lộn xô đẩy không phải không có những thích thú, thấy ra quyền uy đạt được là to lớn, như đã làm tắt Hiến chương Vũng Tàu, ít nhiều gì cũng là yếu tố đẩy được Quốc trưởng Nguyễn Khánh lưu vong. Thích thú cả ở những chuyện nho nhỏ thường xuyên như xông vào các lớp học đập bàn, xua người xuống đường, hò reo đốt xe Mĩ ngoài phố, rồi cười rúc rích trong hẻm tối khi bị rượt đuổi… Vượt lên khuôn viên trường học của ý thức tuân phục thầy giáo có sẵn, họ đã quấy động, thuyết phục các giáo sư còn rụt rè, co rút chuyển dần sang thế chống đối chính quyền công khai, tích cực hơn. Sức trẻ của thời sung túc ngắn ngủi được sự chỉ đạo khít khao từ phía các tổ chức vận động quần chúng của Việt Cọng, gây nên những cuộc tranh cướp quyền lãnh đạo (Đại học Văn Khoa 1967, Tổng hội Sinh viên Sài Gòn), dẫn đến đổ máu trong sân trường (Ngô Vương Toại 1967, Lê Khắc Sinh Nhật 1971) để Trịnh Công Sơn, Vũ Thành An có nhạc phẩm thời sự. Bạo động lan đến tầng lớp lãnh đạo đại học, xâm hại tính mạng giáo sư (Thạc sĩ Y khoa Trần Anh), cướp quyền lãnh đạo từ bên dưới để có tình trạng lãnh tụ sinh viên làm tuyên cáo cho “các thầy” kí! Rồi bạo dạn nồng nhiệt theo lệnh Đảng, tung ra ám sát các nhân vật có uy thế của chính quyền, phe địch (Viện trưởng Nguyễn Văn Bông, nhà báo Từ Chung, nhà văn chủ báo Chu Tử…) làm chiến tích lâu dài về sau. Trò chơi súng đạn trở thành phương cách thực hiện lí tưởng có dìu dắt, có biện minh, có cả thúc giục ép uổng nên họ sử dụng không ngần ngại giữa đám đông, không phân biệt (mìn định hướng ở bến Bạch Đằng ăn chơi, ném lựu đạn làm chết học sinh, nhà giáo ở sân vận động Quy Nhơn…) Trường hợp cô biệt động không tuân lệnh ở Đà Nẵng là hiếm hoi, đem may mắn đến cả với cô.

Với người Mĩ trực tiếp lãnh đạo chiến tranh thì sự thất bại của nhóm Young Turks dẫn về lại một chính quyền dân sự cho hợp với lời hô hào bảo vệ Thế giới Tự do, xây nền dân chủ. Một bản hiến pháp mới được soạn thảo, chuẩn bị bầu cử Quốc hội và Tổng thống… là những điểm then chốt cho hai tướng Thiệu Kì họp ở đảo Guam (3-1967) với Tổng thống Lyndon B. Johnson và các nhân vật quân dân sự quan trọng, bàn biện pháp đẩy mạnh chiến tranh. Hội đồng Quân lực còn không chịu buông bỏ danh vọng cuối cùng nên thu xếp sự tranh giành của hai ông chủ tịch, lập liên danh Thiệu Kì để đối phó với các liên danh dân sự. Cuối cùng Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu trở thành Tổng thống Đệ nhị Cộng hoà từ 3-10-1967, tìm cách tước quyền, đẩy ông phó lùi vào bóng tối. Tuy nhiên, tướng lãnh hay tổng thống gì cũng không kềm được tình hình suy sụp quyền bính của Miền Nam, cùng lúc với sự thúc đẩy của Việt Cộng Nam Bắc gây quấy đảo cả về phương diện quân sự lẫn chính trị, mang vũ khí mới khai thác tâm tình xưa cũ, tăng tiến với sự can thiệp của người Mĩ vào Việt Nam, vào toàn cõi Đông Dương cũ.

Cuộc chiến một phía: Mĩ Việt và hệ luỵ của Thế giới Tự do

Sự sụp đổ của Đệ nhất Cộng hoà và những rối loạn tiếp theo là dịp để người Mĩ tham chiến trực tiếp trên chiến trường Việt Nam, trút bỏ những ngần ngại can dự chính thức của các đời Tổng thống trước. Từ 1964, Thượng nghị sĩ M. Mansfield đã đề nghị để Miền Nam trung lập vì thấy Mĩ không đủ nhân lực để can thiệp vào mớ biển người Á Châu, nhưng Tổng thống Johnson thay thế Kennedy bị ám sát (22-11-1963) đã tuyên bố :”Tôi không thể là vị Tổng thống để mất Đông Nam Á”. Người Mĩ không thể nào với sự hiện diện của mình mà không khỏi lún sâu vào cuộc chiến trực tiếp. Chiến hạm Mĩ tuần tiễu sâu vào bờ biển Miền Bắc (đầu tháng 8-1964) gây phản ứng, khởi đầu việc oanh tạc, được Quốc hội chấp thuận với tên là Nghị quyết Vịnh Bắc Việt gây nhiều tranh cãi về sau. Tiếp theo lại có những phản ứng cho các vụ tấn công phi trường Biên Hoà (1-11-64), phá huỷ khách sạn Brink (Giáng sinh 64), pháo kích ở Pleiku (7-2), đột nhập Quy Nhơn (10-2), gây nổ toà đại sứ (30-3-65). Ngày 7-5-65, Johnson đề nghị thương thuyết điều đình nhưng trước sự tan rã thấy rõ của chính quyền Miền Nam, phản đề nghị của Thủ tướng Phạm Văn Đồng được coi là “gần như kêu gọi Mĩ đầu hàng”. Thế là chính phủ Phan Huy Quát gần như phải đặt trước sự đã rồi của hai Tiểu đoàn Thuỷ quân Lục chiến đầu tiên đổ bộ lên bãi biển Đà Nẵng (8-3-1965), có các nữ sinh Việt Nam áo dài mang hoa chào đón thân thiện. Ngày 3-5-65, quân nhảy dù đến Vũng Tàu, một tuần sau lại Thuỷ quân Lục chiến đổ bộ trên bãi cát ở Quảng Nam giáp ranh Quảng Ngãi, rồi sẽ mang tên Chu Lai với các chuyện tranh cãi nguồn gốc bên lề cuộc chiến. Cuối tháng 6-1965 Mĩ có 59 000 quân tại Việt Nam, nhưng cuối năm đó là 184 300 người.

Thế là bắt đầu của những chiến dịch đụng độ trực tiếp với quân chính quy Miền Bắc trên thung lũng Ia Drang 11-1965, giải tỏa Pleime tiến sát đến Hạ Lào. Hết phía bắc đến phía nam, quân Mĩ mở các cuộc chiến đánh vào vùng Tây Ninh, chỗ trú của Trung ương Cục Miền Nam, dựa vào thế ẩn nấp núi rừng và an toàn khu giáp biên giới Cao Miên. Đó là cuộc hành quân vào chiến khu Dương Minh Châu tháng 11-66, hành quân Cedar Fall 1-67 tấn công vào Tam giác Sắt (Trảng Bàng, Bến Súc, Củ Chi), hành quân Johnson City trải trên một trận tuyến dài 35 km rộng 25 km.

Để cho cuộc chiến thêm tính chất chính nghĩa, Mĩ mời gọi nhiều đồng minh cùng tham gia. Đồng minh sớm nhất (1962) là Australia vì mang danh nghĩa thành phần Hiệp hội Đông Nam Á (SEATO), với 7 600 quân, New Zeeland 550 quân, Thái Lan 11 500, Philippin 2 000. Đắc lực nhất là Đại Hàn với 50 000 quân của các sư đoàn Mãnh Hổ, Bạch Mã, một lữ của Sư đoàn Thanh Long. Họ thiệt 4 400 người nhưng giữ gìn an ninh kiến hiệu trên một vùng rộng lớn vì tính chất chiến đấu Đông phương đồng dạng, không nề hà vượt qua những nguyên tắc luật pháp rắc rối mà người Mĩ phải lo vướng vào. Họ đến Việt Nam để lấy tiền Mĩ nhưng cũng là để có chiến trường tập luyện dự bị cho cuộc chiến trên đất nước họ. Các tư lệnh của họ cũng nhờ đó được tiếng tăm quốc tế để rồi sẽ lên cầm đầu nước như Chun Do Hoan, Roh Tae Woo. Đài Loan không được gởi quân vì e ngại khuấy động mối thù truyền kiếp nhưng sự giúp đỡ của họ tuy kín đáo mà ích lợi sâu xa, như các chiến dịch xây dựng nông thôn, mời đến cả các xã trưởng đi thăm Đảo quốc. Toán 31 quân nhân của Đài Loan đã góp phần chuyển đổi một Nha Tâm lí chiến nhỏ bé, mờ nhạt thành một Tổng cục Chiến tranh Chính trị, tuy không kiến hiệu nhiều nhưng có bề ngoài đe doạ người Cộng sản vì các phương cách tiến hành giống như của họ. Và có phần chắc là câu nói của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu: “Đừng nghe những gì Cộng sản nói…” đã xuất phát từ Đài Loan – câu nói ngược đời, lại chuyển từ một phê phán của Mao Trạch Đông, cũng do các bậc Thánh hiền Trung Quốc phán ra!

Tuy bị lúng túng nhưng Mĩ cũng không hổ thẹn là cường quốc đương thời. Sư đoàn không kị I đến An Khê vào tháng 9-1965, quân số có lúc đến 20 346 người, được Bộ Tư lệnh Vận tải Đường biển dùng 13 vạn tải hạm và 4 hàng không mẫu hạm chuyên chở tất cả binh lính, quân dụng và 480 trực thăng của sư đoàn. Mỗi ngày họ cần 1 600 tấn tiếp liệu, sử dụng 4 600 tấn đạn, tiêu thụ 4 triệu gallon xăng mỗi tháng. Trước sức mạnh biểu dương đó, đứng ngoài, dù là cường quốc cũng thấy e ngại, cho nên Liên Xô từng đề nghị cho Bắc và Nam Việt Nam vào Liên Hiệp Quốc hòng tránh chiến tranh, còn Trung Quốc thì đề nghị các đồng chí Việt Nam chỉ nên đánh với cấp trung đội – phá hoại, du kích, mà thôi. Nhưng con voi cũng có cái nặng nề của nó. Tướng không quân Mĩ từng chê việc dùng B52 thả bom đường mòn của người gùi súng mang lương thực, việc đánh phá lều lá ở mật khu địch, là dùng búa tạ đập ruồi. Họ phải loay hoay với rất nhiều ràng buộc pháp lí, tổn phí tiền bạc để biện minh cho việc can thiệp vào Việt Nam.

Dưới con mắt của cả thế giới nhìn vào, họ gần như trần truồng trước sự xoi mói, không phải của chỉ kẻ địch mà còn cả đám phóng viên như bầy diều hâu đi tìm danh vọng, tiền bạc trong chiến tranh. Những bức ảnh của phóng viên chiến trường, trung thực hay chế biến, với tác động tâm lí to rộng tức thời, được giải thưởng Pulitzer đã gây nên những phản ứng tiêu cực cho cuộc chiến, gây hệ luỵ lâu dài cho kẻ phải chịu đựng một thành kiến mà ta gọi là sự lệch chuẩn văn hoá. Đại tá Nguyễn Ngọc Loan bắn người đặc công bị bắt trên mặt trận (E. Adam chụp hình, Võ Sửu quay phim) bị coi như có một hành động ghê tởm, không văn minh nhưng thật ra ông ta cũng xử sự bình thường như hành động của phía người đối kháng qua những tin tức thờ ơ, ngắn gọn trên báo chí Sài Gòn, ở những sự biến chỉ làm đau lòng người vợ, bầy trẻ con nạn nhân mà anh phóng viên ngồi uống bia trên thềm khách sạn Caravelle, Continental không cần biết đến. Hình cô bé bị napalm đem lại danh vọng cho anh phóng viên ảnh tập sự nội địa, được thu xếp đưa lên mạng tin, thấy như có cả lửa bom xăng nóng rát, thật ra chỉ là ghi nhận ở trên đường chuyển thương (nhận xét Trần Hoài Thư).

Người xa tưởng tượng kẻ địch nằm trong đồn luỹ kiên cố, công sự kềnh càng nên đau lòng bất mãn thấy cảnh nhà tranh bị đốt mà không chịu nhận ra đó là nơi ẩn trú của chiến binh địch, cũng có nghĩa là một chiến lũy, không thể gọi bằng tên gì khác. Thấy xác trẻ con nên đón chào người chiến binh hết nhiệm vụ bằng lời mắng chửi “baby killer” mà không biết trong thân xác kẻ vị thành niên kia là một khẩu AK, một trái lựu đạn, một ước mơ làm “dũng sĩ diệt Mĩ”. Sự ràng buộc không phải chỉ ở cấp điều khiển trên cao mà lụy cả những nhân viên cấp thấp, ở cả những cậu bé quân dịch vào chiến trường mà chưa kịp bỏ thói nghịch tinh ở nhà trường. Địa đạo Củ Chi làm nên danh vọng khác thường cho quân kháng chiến, với hầm bí mật ngoằn ngoèo gây tác hại cho sinh mạng quân lính nếu tấn công theo lối thường, thế mà dùng đến lựu đạn cay phải xin phép vì đây là vũ khí hoá học! Du kích Củ Chi thú nhận sợ chạm mặt nghĩa quân, địa phương quân hơn bởi vì người lính Mĩ không thể phân biệt ai là “Việt Nam”, ai là “Việt Cộng”. Sự nhập nhằng gây tranh cãi mang tính lí thuyết từ xa đã được người chiến binh giải quyết cấp thời tại chỗ theo hướng bảo vệ thân xác mình, dẫn đến quan niệm thù địch đầy tính cách tiêu cực cho cuộc chiến, ẩn giấu một ý thức tội lỗi: “Việt Cộng là một người Việt đã chết”. Cứ dồn ép như thế để rốt lại gây nên những scandal lớn, kiểu vụ “tàn sát Mĩ Lai” (Sơn Mĩ 16-3-1968) theo đà thiên lệch của tình thế đã trở nên quan trọng hơn vụ Mậu Thân Huế, có số lượng nạn nhân mươi lần hơn.

Sự ràng buộc dẫn đến hiệu quả yếu kém nằm ngay trong tổ chức cồng kềnh của một quân lực mang tính đối phó toàn cầu. Lục quân can thiệp ở Việt Nam là 368 300 người nhưng quân tác chiến thực sự không đầy 100 000 vì phần còn lại nằm ở vị trí yểm trợ. Trừ phần tình nguyện nhà nghề, quân lính là của hệ thống quân dịch với nhiệm kì một năm khiến người ta có thể nói đến 4 triệu người luân phiên phục vụ cho cả chiến tranh. Các cậu bé 18 tuổi ngơ ngáo xa đất nước cả vạn dặm, loay hoay khoảng 8 tháng là lo tính ngày về, chưa kịp quen với chiến trường gian khổ, xứ sở thiếu tiện nghi nhưng cũng đủ thấy sự cùng khốn tác động ngược vào bản thân nên bị lôi cuốn theo tình trạng nghiện ngập ma tuý, chống đối đến mức treo thưởng giết chỉ huy mặt trận (Fragging < fragmentation). Rồi kéo theo về xứ là sự hoảng hốt hành xử bệnh hoạn, để dân nhà y xứ Mĩ nói đến hiện tượng post-traumatic stress / disorder syndrome kèm tên Việt Nam. Thế là chiến tranh động đến cả nước Mĩ, một nước Mĩ cũng đang bệnh hoạn với vấn đề kì thị chủng tộc, chống văn minh, được đà rối loạn phát triển thành các phong trào hippy, beatnik sử dụng ma tuý như một tôn giáo… Tình hình chống đối chính quyền cũng nằm trong thời đại thiên tả trên lãnh vực toàn cầu mà có lẽ sự thất bại của chủ nghĩa Mc Carthy đã gây mạnh dạn thêm trên đất Mĩ với cơ sở hiến pháp yểm trợ cho nó. Bên ngoài xã hội là những cuộc biểu tình phản chiến như vẫn thấy ngày nay nhưng lan rộng trong giới sinh viên, dẫn đến hành động xé thẻ quân dịch, trốn sang Canada kề cận biên giới… Bộ trưởng Quốc phòng Dean Rusk khi thôi chính quyền đã không thể tìm được một chân giáo sư Đại học, vì tính chất chống Cộng thời làm-quan của ông.

Với danh nghĩa Chống trả sự bành trướng của Cộng sản, cụ thể là chống quân Bắc Việt xâm lấn Miền Nam – và có thể cũng từ sự tự tin ở sức mạnh của mình, người Mĩ thực hiện một cuộc chiến to lớn một cách thụ động mà không tự biết. L.B. Johnson đưa lính trực tiếp vào Việt Nam mà chủ trương “đánh vừa đủ và đừng quá nhiều” – vừa đủ để Việt Cộng chịu hoà, và không nhiều để Liên Xô và Trung Cộng không nhảy vào! Các chiến dịch oanh tạc Miền Bắc, ban đầu là với tính cách đánh trả những cuộc đột kích vào người Mĩ trong Nam nhưng sự thực hiện cũng chỉ tiến hành theo cách tăng dần cường độ, với mục tiêu giới hạn, phản ứng theo từng nấc, sự kiện rốt lại chỉ làm tăng sự cương quyết của người chống đối và chừa thì giờ cho họ nhận viện trợ, tập luyện chống trả. Thành phố bị đánh phá nhưng có lệnh chừa 10 km cách bến cảng Hải Phòng, không đánh tàu có treo cờ cập bến, chừa 15 km quanh thủ đô Hà Nội, 30 km cách biên giới, dành nguyên cả một loạt thành phố nguyên vẹn, để cho quân Trung Quốc năm 1979 có dịp đập không còn mảnh ngói, theo lối đánh trận phương Đông, cụ thể chia xẻ tâm thức nhà quê sít sao của toán quân Tây Sơn ỉa vào cá mắm của Võ Văn Lượng ở Gia Định cuối thế kỉ XVIII. Rốt lại, vì không rõ bản thân vùng đất vốn đã “như ở thời kì đồ đá” (S. Karnow 1983), chỉ còn mấy cây cầu đánh đi đánh lại (P. Doumer / Long Biên, Hàm Rồng Thanh Hoá) để huênh hoang đòi cho kẻ địch “trở về thời đồ đá” mà không thấy khuyết điểm mở lối mòn cho kẻ địch đón đầu chận đánh, lặp lại nhược điểm đã gây ra thế công đồn đả viện từng thành công của phe địch, cả vào thời điểm cuối của trận đánh phá Giáng sinh 1974, phát sinh “chiến thắng Điện Biên Phủ trên không” của Hà Nội.

Chủ trương ngăn chận đó cũng ảnh hưởng vào việc xây dựng quân lực VNCH, là đồng minh thiết yếu của Mĩ, nếu không phải là chủ thể của cuộc chiến theo mong ước của một số chính trị gia. Lời hô hào Bắc tiến, mang tính huênh hoang hơn là theo thực chất của Nguyễn Khánh (19-7-1964) đã làm mất lòng chính phủ Mĩ, và ông tướng cao bồi Nguyễn Cao Kỳ thấy rõ trong việc chỉ được trang bị các phi cơ có tầm bay gần để ông phi công vận tải mang chiến đấu cơ phóng vài loạt bom xa đến tận Quảng Bình, rồi về (1965). Trang bị quân đội Miền Nam cũ kĩ đến mức trong khi đạn AK nổ dòn tan dịp Tết Mậu Thân thì quân tổng trừ bị như Thuỷ quân Lục chiến còn bắn carbin M1 từng viên, hay carbin M2 bán tự động! Họ cũng sẽ được trang bị theo như quân Mĩ sau đó, trong chương trình Việt Nam hoá từ 1969 nhưng rốt lại cũng không bì kịp với đối phương như lại chứng tỏ trong cuộc tiến công mùa hè 1972 của quân Bắc. Sự né tránh tăm tiếng xâm nhập Miền Bắc khiến cho Mĩ phải lập đài Gươm thiêng Ái quốc (4-1966), giả hình có một tổ chức chống Cộng ở Miền Bắc mà thật ra là cốt đề phòng để ăn nói với thế giới một khi các toán tình báo VNCH và Mĩ đi thu thập tin tức, phá hoại mà bị phác giác.

Dù sao thì việc quân Mĩ tung vào chiến trường cũng giải toả được cái thế bao vây của quân Việt Cộng, chiếm lại các lãnh địa bị mất qua những năm rối loạn sau 11-1963. Quân đội lên nắm quyền dù trong tình thế chao đảo của tình hình cũng hẳn nhiên lấn dần các hình thức dân sự. Đơn vị lãnh thổ quân sự Vùng Chiến thuật (1964) đổi tên thành (bốn) Quân khu (1970) có các Tiểu khu tương đương với các tỉnh hành chính mà với tình hình chiến tranh, nhân viên quân sự sẽ dần dần thay tỉnh trưởng dân sự, rồi lấn đến cả cấp quận bên dưới. Các đơn vị tổng trừ bị tăng quân số, chuyển đổi từ cấp lữ đoàn lên sư đoàn: Thuỷ quân Lục chiến tháng 7-1964 qua 10-1968, Nhảy Dù trong năm 1965. Tổ chức Biệt Động Đội đầu năm 1964 có đơn vị tiểu đoàn cùng với sự phát triển của các Lực lượng Đặc biệt của tình thế chiến tranh. Quân đội Cộng hoà tuy phải bận tâm lôi kéo vào những tranh chấp của các phe phái nhưng cũng vẫn tham dự vào những cuộc hành quân lấn chiếm lại đất đai trên phần đất Miền Trung (Thuỷ quân Lục chiến trên vùng bắc Bình Định) và Cao nguyên (Nhảy Dù trong trận Pleime), đương đầu với các đơn vị chính quy Miền Bắc xâm nhập. Và ngay cả ở những trận được Miền Bắc tuyên dương là đã chiến thắng (Đồng Xoài 6-1965), sự hiện diện của phía bại cũng là một dấu vết ngăn chặn. Ở hạ tầng cơ sở, các ấp Chiến lược bị phá vì sự sụp đổ của Đệ nhất Cộng hoà để Nguyễn Khánh kí nghị định giải tán (9-3-64), thay thế bằng các tên ấp Tân sinh / ấp Đời mới mang tính chính trị nhiều hơn. Và như đã thấy, ở Sài Gòn, dưới sự thúc đẩy của người Mĩ, các phe phía cũng nhận ra phải tìm cách thoả hợp giữa hai khuynh hướng quân sự và dân sự để có một nền Cộng hoà khác đang thành hình. Có cả một bộ Xây dựng Nông thôn (1965-71) với Trung tâm Huấn luyện cán bộ ở Vũng Tàu. Tổ chức Bảo An Đoàn, Dân Vệ Đoàn (1956) được thay thế bằng Địa Phương Quân, Nghĩa Quân (1964).

Điều đó có nghĩa là cuộc chiến có đà lấy lại mức thăng bằng nếu quân Mĩ đẩy được quân Miền Bắc ra xa ngoài biên giới với các cứ điểm Khe Sanh, Cồn Tiên… (cả phía biên giới Miên) để bên trong chính phủ Sài Gòn làm việc bình định. Tất nhiên đà lấn lướt của phe Mĩ Việt không phải không có sơ hở. Các cuộc tiến quân với quy mô lớn đã để trống những lõm nhỏ của các tổ chức du kích địa phương – không phải chỉ là những đơn vị nhỏ, cùng với cả hệ thống tổ chức chính trị đảng chặt chẽ quen thuộc của người Cộng sản. Sự việc rối loạn ở thành phố, dữ dội với tự thiêu, chiếm chính quyền như ở Huế tuy không được các lãnh tụ đánh giá kịp thời để lợi dụng nhưng đó cũng là nơi nhem nhúm, kết tập sự chuyển hướng của đám thanh niên đi theo lời kêu gọi giải phóng, chống Mĩ xâm lăng. Ước mơ làm bồ câu trắng chung chung đã có đường mở tiếp theo “… là người tôi sẽ chết cho quê hương” tuy họ đã trở thành công nhân viên chức Sài Gòn, được hệ thống pháp lí bảo vệ cơm áo, như nhà giáo biểu tình, chống đối (Trần Quang Long, Lữ Phương…) mà vẫn không mất việc, mất lương mọt khi chưa bị kết án, hay nhảy núi, ra bưng. Thành phố có lúc chỉ có cái dáng an toàn bề ngoài. Chính quyền Miền Nam chứa điều kiện ruỗng nát từ trong hậu phương của mình như thế, nên không lấy làm lạ là có trận chiến Tết Mậu Thân (1968) được trù bị cả năm trời của một đối phương, chỉ có mỗi một công việc là đi xin viện trợ về đánh trận theo lời lãnh tụ, đánh đến “năm năm, mười năm, hai mươi năm hoặc lâu hơn nữa”, cho đến toàn thắng mới thôi.

Cuộc chiến một phía: Hội kín VN DCCH trên vị trí tuyến đầu chống tư bản đế quốc

Cuộc chiến kết thúc rồi một người Sài Gòn mới thấy ra: “Cứ cầm ngang lá cờ Mặt trận Giải Phóng, kéo màu đỏ xuống lấp màu xanh thì ra cờ Miền Bắc chứ khó gì mà phải nghĩ!” Ấy thế mà cả một Măt trận vẽ vời đầy ban bệ từ trên xuống dưới như thế vẫn hưởng được uy tín trong ngoài nước, mặc kệ những ấm ức của người trong vòng và ở cả một vài tỏ lộ của Hà Nội, không phải vì sơ suất mà vì muốn chừa chỗ giành trước con bài chủ động, không thể nhường bước cho đàn em dù là của mình tạo dựng. Tất cả đã được chuẩn bị đủ cho lời giải thích hồi sau: “Cờ xanh đỏ vàng là cờ Mặt trận, cờ đỏ vàng là cờ Tổ quốc”. Không thấy cách giải thích lúc cờ xanh-đỏ-vàng cũng là của “nước” Cộng hoà Miền Nam Việt Nam! Sách sử đầu thế kỉ XXI xác nhận, trước khi tập kết “Nam Bộ đã có 6 vạn đảng viên rút vào bí mật, hơn một vạn súng và nhiều điện đài được chôn giấu… tại Liên khu V hai vạn rưỡi đảng viên rút vào bí mật… Trị Thiên – Huế chôn giấu một số lớn vũ khí”, đặc biệt đã “bố trí nhiều cán bộ quân sự tại địa phương” nơi vùng đất nối cầu với Miền Bắc này. Thế cho nên có thể nói VN DCCH đã có thế trên chân ngay từ khởi đầu của cuộc chiến lần thứ hai mà sự tròng tréo quanh quất mặt trận này nọ, kéo dài đến 20 năm chỉ vì có sự hiện diện của người Mĩ, do đó lôi vào cuộc cả thế giới cộng sản và thế giới tả phái của chính hệ thống tư bản.

Đã có những người quần kết, đã thấy những người hồi kết với Đoàn 559 vận chuyển vũ khí, vạch lối vào Nam trên con đường Hồ Chí Minh sơ khởi nhưng cũng vì thực tế từ hiệp định Genève nên phải có một bộ mặt chính trị đối kháng trên vùng đất phía nam vĩ tuyến 17: Măt trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam, cái tên dài dòng đó là một sự giả dối chính trị cần thiết, tiếp tục cho sự chính danh chống ngoại xâm, giành độc lập, dân chủ, hoà bình của một ý định kiên trì xây dựng một chế độ cộng sản cho đất nước, như sẽ được công khai tuyên bố danh nghĩa sau 1975, khi không còn lực lượng đối kháng nào khác. Và vì còn có mặt khuất lấp như thế nên trong phần hai cuộc chiến này, dù sử dụng vũ khí tối tân, phương tiện tuyên truyền mang tầm mức quốc tế, tính chất hội kín lúc khởi đầu vẫn còn được giữ lại xuyên suốt trong tổ chức, buộc người bên ngoài chỉ được thấy những gì muốn cho thấy, thấy trong hé mở những khuôn mặt lấp lửng mang tính huyền thoại, vừa đủ cho giai đoạn.

Học giả Mĩ tò mò có thể đi sâu vào các văn kiện, tài liệu tịch thu của tù binh từ các cơ quan chính trị quân sự để tìm ra những tên người khá xa lạ, hay tưởng đã bị quên lãng trong cuộc chiến trước. Nhưng với dân chúng thông thường thì những cái tên nổi bật như Nguyễn Hữu Thọ luật sư, Huỳnh Tấn Phát kiến trúc sư (chỉ là một trong ba Phó chủ tịch cùng với Võ Chí Công, Trần Nam Trung), Trần Bửu Kiếm dược sĩ, Dương Quỳnh Hoa bác sĩ… không những không có gì là sắt máu phải xa lánh mà thật lại quen thuộc, nối kết được Sài Gòn hào nhoáng với núi rừng Cục Rờ thâm u, chưa kể một Hà Nội Thăng Long vời vợi có khuôn mặt Bác, Cha Già thân thương. Ông Tôn Thất Dương Kị hoàng phái, bác sĩ thú y Phạm Văn Huyến và Cao Minh Chiếm, kí giả kì cựu Nam Kì bị tống xuất ra Bắc (16-3-1965) là hình ảnh can trường của ông Nguyễn Hữu Thọ năm 1950, 60 tuy sau 1975 ông này lộ ra chỉ là đảng viên thường của đảng Cộng Sản. Ông Huỳnh Tấn Phát của đảng Dân Chủ chi nhánh của đảng Cộng Sản, nằm chịu đựng nguy hiểm tận cùng phía nam nên không phải bị ghép vào thành phần “xét lại chống Đảng” như Tổng thư kí Hoàng Minh Chính. Tuy nhiên, nắm vai một Phó Chủ tịch – rồi sẽ là Thủ tướng, không biết ông có phải chịu o ép, khinh miệt như Huỳnh Văn Tiểng hay không nhưng với trí thức thành phố thì ông vẫn là kiến trúc sư xây biệt điện Bảo Đại ở Đà Lạt, là người chủ trương báo Thanh Niên của Sài Gòn, dung chứa nhóm Hoàng Mai Lưu về nam, với ông Lưu Hữu Phước khá khuất lấp nhưng là người làm “quốc ca” cho hai thực thể chính trị đối kháng: Việt Nam Cộng hoà và Cộng hoà Miền Nam Việt Nam! Rồi không phải chỉ là quá khứ, dù là quá khứ gần mà ngay trong chính quyền mới tại Sài Gòn, cũng có người được ghép tên vào thành phần thành lập Mặt trận, như Trương Như Tảng với kỉ niệm cháu trai Nam Bộ được Bác vỗ về năm 1946, vào Khu bịt mặt dự lễ rồi về Thành làm Giám đốc Công ti Đường của Mĩ Diệm. Vẫn còn những người ở lại để tung hoành như bà Ngô Bá Thành / Phạm Thị Thanh Vân của Phong trào Bảo vệ Hoà bình, dù ông cha bị tống xuất ra Bắc. Những khuôn mặt không thể giấu, không cần giấu thì cứ cho ra công khai, còn những kẻ cần che giấu như một số của cuộc chiến trước thì vẫn phải cải dạng như Lưu Hữu Phước với tên Huỳnh Minh Siêng, Trương Gia Triều thành Trần Bạch Đằng (và nhiều tên hiệu khác). Cứ như là có cả một đoàn người ma quái làm việc nhân gian qua những nhân vật phô trương ở mặt tiền.

Những người đó không bao giờ được đi ra ngoài cho thiên hạ sờ ngắm mà chỉ là ẩn hiện để thiên hạ tò mò đồn đoán hay chiêm ngưỡng, đúng với nhận định của sử gia S. Karnow về ông chủ tịch có vai trò “vô tích sự” / inocuous! Làm nhân vật nổi bật của một thời đại, họ được nhắc nhở nhiều, chắc có khi cũng thấy “lấn cấn” như Trương Như Tảng lúc bị buộc học chủ nghĩa Mác nhưng vướng vòng danh vọng, chia xẻ chút hư danh thời tiếp nối, họ cũng bị đưa đẩy như các trí thức, nhân vật tăm tiếng của Sài Gòn trong các phong trào phản kháng ở đô thị thời chuyển tiếp và Đệ nhị Cộng hoà. Chút hư danh của thời loạn tuy đầy trắc trở nhưng vẫn có cái gì hấp dẫn. Mặt trận Bảo vệ Văn hoá Dân tộc (1967) rầm rộ họp chỉ trong một ngày mà đưa ra được một danh sách bầu bán dài dằng dặc, gồm đủ thứ lớp Cố vấn đoàn, Thư kí đoàn… có mặt Giáo chủ Bửu Sơn Kì Hương, Chánh thư kí Viện Tăng thống Phật Giáo, linh mục, trí thức Công Giáo, các nguyên Phó thủ tướng, Bộ trưởng, Khoa trưởng của chính quyền… Danh sách ấy là từ “trong khu” đưa ra qua tay ông Vũ Hạnh nhớ mãi đòn thù của địa phương căm hận, không kịp nhận ra là ông có thể tự ý bỏ cơ quan Văn Nghệ Liên khu V như Lê Trọng Nguyễn chứ không hẳn là được cài lại! Được bỗng dưng đẩy đưa như thế mà không thấy những nhân vật tăm tiếng kia lên tiếng phản đối hay ít ra là, cải chính! Các ông Chủ tịch, Cố vấn đôi khi chỉ làm việc kí tên trên những bản văn của Thư kí sinh viên soạn thảo! Có ý thức hay không, những người trí thức này nọ của mọi phía chỉ là con cờ của những người cương cường trong khuất lấp, nín nhịn ở hậu trường để đưa đẩy lịch sử.

Trần Nam Trung (tên thật Trần Lương) cán bộ quân sự cũ của Liên khu V, tập kết làm cán bộ phụ trách Uỷ ban thống nhất đất nước, tư lệnh quân đội Giải phóng từ ngày thành lập (1962). Đảng Cộng Sản đã giấu danh hiệu yêu chuộng, mang tên Lao Động ở Miền Bắc, vào Nam lại ẩn khuất thêm một tầng nữa với tên đảng Nhân Dân Cách Mạng. Nam Bộ, phần đất nổi bật khêu gợi sự chú ý của thế giới, nằm dưới sự lãnh đạo của một Xứ uỷ (1945, 1954) có một bộ tư lệnh mang tên Trung ương cục Miền Nam (1951) tái hiện năm 1960, quản lãnh toàn Miền Nam, rồi co lại từ Bình Thuận với Bí thư Phạm Hùng. Phần Trung Bộ còn lại nằm dưới tay Võ Chí Công, Bí thư của nơi ông xuất thân. Chưa kể Lê Đức Thọ với chức vụ Trưởng ban Tổ chức Trung ương cục Miền Nam (sau 1954) rồi Trưởng ban Tổ chức Trung ương Đảng (1960) để sau 1968 vào Nam, chỉ là Phó bí thư Trung ương Cục mà nắm quyền chỉ đạo và điều khiển Mặt trận không có ai tranh cãi. Và không phải chỉ có sự khuất lấp trong rừng núi, biên giới mà có cả một liên hệ chằng chịt từng người, từng nhóm xuyên suốt đến tận vùng thị thành, với dân chúng ơ hờ quen thói của một xã hội chưa được cải tạo “xã hội chủ nghĩa”. Nắm được quần chúng trong tay, người cộng sản có thể luồn lọt hay gom góp những người của tổ chức khác (như của Phật Giáo, sinh viên) để biểu tình chống Mĩ Nguỵ trong các tập họp lớn, và còn thúc đẩy quần chúng của mình để uy hiếp các quận lị, đồn trại nhỏ với xác người khiêng theo, đòi bồi thường, đòi trả lại lúa gạo, trâu bò bắt đi (hay bị bắn chết)… Họ ngang ngạnh không kể rằng trâu bò, lúa gạo là chính tích trữ nuôi quân của họ, người chết là chính chiến binh của họ như lúc đám phụ nữ giằng co, giành giật các cậu-bé-chiến-sĩ-tù-binh trong tay đám lính Cộng hoà ngơ ngáo, đôi lúc có súng mà không biết bắn làm sao. Như lúc ông Tỉnh uỷ xúi đám phụ nữ cởi truồng uy hiếp người quận trưởng mới tốt nghiệp Quốc gia Hành chánh, anh thanh niên con nhà quen biết của ông! Cách thế ăn vạ quen thuộc trong xóm làng được đưa lên thành chiến lược chiến thuật, quả cũng đạt được thành công một chừng mực đáng kể, cho đến khi thi hành trong một trận chiến khác, không phải với Mĩ Nguỵ mà là với đồng chí Đặng Tiểu Bình ân nghĩa cũ, mang quyết tâm đánh giặc “làm cỏ sạch, không tù binh, không thương binh”, như trong trận Cao điểm 1509 (Lão Sơn) tháng 4-1984.

Tổ chức len lỏi vào các cơ sở tôn giáo (Công Giáo) đưa đẩy người lên đến tận phủ Tổng thống. Tất cả tạo thành cơ sở cho những toán Biệt động Thành danh tiếng tấn công trụ sở hành chính, quân sự, ngoại giao (Mĩ) của chính quyền Sài Gòn, cho người liên lạc đưa tin của Phạm Xuân Ẩn ra khu, về Bộ Tổng tham mưu Hà Nội! Tất cả tạo thành cơ sở xã hội, tâm lí ý thức bình thường cho người thanh niên mơ hoà bình mà có thể chưa nghĩ là mình phục vụ người Cộng sản, cho người lính Dù bênh vực Vũ Hạnh, người sĩ quan An ninh Quân đội viết sách “phản chiến” mà không thấy mình chống chế độ đang phục vụ. Lê Trọng Nguyễn (tác giả Binh nhì ca, Quán bên đường, nhất là bản nhạc Nắng chiều) từ Liên khu V ra, gặp Nguyễn Văn Bổng ở Sài Gòn núp bóng Văn Lương điều khiển tờ Tin Văn mà thấy không cần báo cáo. Sự ngây thơ ngờ nghệch đó có luôn cả ở nhân vật cao cấp chính quyền, che chở cho thân thuộc trốn lánh cảnh sát, công an truy tầm… từ tình trạng ân tình quen biết, như Nguyễn Văn Thiệu nuôi con gái Trương Như Tảng gởi học MIT, Bà Thiệu có thư kí là em vợ Huỳnh Tấn Phát đến sự che chở của Dương Văn Minh đối với Huỳnh Tấn Mẫm, cả hai người đàn ông đều là Quốc trưởng! Mớ bòng bong rối tung đủ để cho lính Mĩ không biết đánh ai, vì mục đích gì… Và tất cả những đường lối quanh quất ấy được điều khiển từ một vùng hội kín lớn lao hơn ở Miền Bắc, nơi đã mang tên nước, có thủ đô, có ban bệ hành chính nội trị, ngoại giao, có lực lượng quân sự hùng hậu đã nhận ra: “Đánh Mĩ dễ hơn đánh quân Lê dương của Pháp”…

Đường lối chính trị đã được định sẵn, tổ chức đã có lối mòn thì những vấp váp không làm người lãnh đạo buông bỏ, những “sửa sai” không làm ngưng đà tiến bước. Cải cách ruộng đất vẫn được ca tụng là thành công. Chính sách cải tạo công thương nghiệp không nương tay đánh tư sản, lập hợp tác xã, tổ chức xí nghiệp quốc doanh, biến cả nước thành một guồng máy lớn. Các cải biến hành chính mượn vật vờ đâu đó như sáp nhập tỉnh, lập khu tự trị… không tác động gì nhiều đến tình trạng quản trị đất nước được thúc đẩy ngầm với quyền uy của tổ chức Đảng bên trong, bên dưới, chằng chịt những đảng viên, cán bộ mang tính truyền thống khu vực xưa cũ, càng lúc càng đậm nét. Tất cả kiêu hãnh với sự khích động dân tộc chủ nghĩa, pha trộn mới mẻ bằng chút lí thuyết xã hội vu vơ. Dân chúng phải sống trong khuôn khổ mới nhưng nhận vang vọng từ quá khứ của ý thức kì thị di man gây sự cương cường chống đối “kẻ xâm lược”, đồng thời với ý thức tuân phục ngàn đời để dằn nén chịu đựng quyền bính “dân tộc”, khi chưa cần đến sự nịnh bợ khuất nhục. Người cầm bút vụng về mới nổi, có uất ức chịu dằn nén hai ba mươi năm chỉ vì lỡ dại nói chuyện “cây táo ông Lành”, không ngờ chạm húy với tên tục của nhân vật đang lên (Nguyễn Hữu Thành/Lành, Tôn Thất [?] Lành) thì cũng như Trần Dần vào những ngày bị đày đoạ cứ ước mong ông Tố Hữu và Đảng ngó lại thôi!

Trên nền tảng đó, các lãnh tụ khi tìm cách tận dụng nhân lực như cổ động phong trào Ba Sẵn sàng / Ba Đảm đang cho phụ nữ thay thế thanh niên, không những đã lấp được nhu cầu càng to lớn theo đà lớn rộng của cuộc chiến mà còn kiểm soát được người đến tận trong gia đình thôn xóm, với vai trò truyền thống của phụ nữ các nơi chốn ấy. Lấy thân xác đương đầu với máy móc, những toán người của tổ chức Thanh niên Xung phong thành lập từ 1950 đã chỉ dùng đôi chân, hai bàn tay mở đường, sửa cầu, phá bom đạn, cũng tham gia chiến trường rồi thu dọn làm nhiệm vụ kết thúc cuộc chiến, mệt hơn cả người chiến binh. Tổ chức lớn rộng thu thập phụ nữ chủ yếu từ 1965, tạo nên kì tích nhưng cũng khiến cho nhà nghiên cứu (F. Guillemot) phải so sánh các hình ảnh trình diễn và thực tế chịu đựng: “Nụ cười rạng rỡ của các cô gái anh hùng trên nhật báo và phim ảnh tuyên truyền của VN DCCH trong chiến tranh đã chu du khắp nơi trên thế giới nhưng số phận bi thảm của chính những người anh hùng vô danh này vẫn chưa được mọi người biết đến đầy đủ”. Ông thấy đây là thể hiện khác của ý chí quyến tâm tranh chiếm quyền lực của giống Đực nơi các lãnh tu, nhưng cũng vượt trên vấn đề giới tính để nhận ra “thanh niên (Việt Nam)… bị kẹt giữa chủ nghĩa ái quốc đầy đòi hỏi và việc sử dụng chính trị lạnh lùng… Đằng sau những trang sách anh hùng và tuyên truyền chính thức, đằng sau những diễn văn biện giải, che giấu một sự thật sống sượng hơn, đau khổ hơn và bi kịch hơn…” Như hình ảnh người nữ anh hùng khô cằn, ngực đầy huy chương trên hình bìa một số National Geographic, hay khuất lấp trong các thôn xóm, ngõ hẻm đi tìm người cha cho đứa con tương lai để mong nhờ cạy lúc tuổi già xế bóng.

Thực tế kềm thúc chỉ được nói đến trong riêng tư như khi người bộ đội thú nhận sau 1975: “Không làm nghĩa vụ quân sự, chúng nó còng đầu cả nhà đi chứ lại!” Nhưng sự khiếp nhược lại được đền bù về vật chất bằng những tờ tem phiếu không thể thiếu, bằng một công việc có lương ổn định mà “chân ngoài dài hơn chân trong”, và tiếp theo là văn chương rổn rảng của những hồi hạ phóng, đi thực tế. Loại văn chương “yêu nước là yêu chủ nghĩa xã hội” của hàng loạt văn nghệ sĩ tê liệt thuần phục hậu – Nhân Văn, giúp những người nhanh nhạy đi nước ngoài hưởng một chút ân huệ buôn bán nhỏ, hay rủi ro chậm lụt thì ở trong nước giao lưu với văn nghệ sĩ thế giới, lãnh một tờ phiếu xe đạp để chụp hình biểu diễn. Sự pha trộn của lí tưởng mơ mộng và triển vọng quyền lợi đó, đẩy một bộ phận dư thừa của lớp người không sản xuất này vào Nam, tự tìm lấy vinh quang trong cái thế mở đường sống giữa cảnh bom đạn truy lùng của kẻ địch, tạo nên những nhân vật huyền thoại Lê Anh Xuân, Nguyễn Thi… ngay trong chiến tranh, hay chực chờ làm huyền thoại nối tiếp như Đăng Thuỳ Trâm với cuốn nhật kí lưu lạc, tồn tại nhờ một quan điểm nhân bản khác… Cái không khí ngột ngạt đó, cái thế giới âm hồn đó bị trùm lấp dưới hàng vạn tiếng hoan hô, đàng sau những sinh hoạt chính trị phô trương, không được bên ngoài biết đến, mà có bị tiết lộ thì cũng không làm ai để ý. Có ai phải thắc mắc về việc phóng viên O. Falacci phỏng vấn Đại tướng Võ Nguyên Giáp mà bị buộc đăng theo bản của Hà Nội đưa ra, để có thể nghĩ rằng nhà báo thân Cộng Úc W. Burchett cũng có thể đăng bài tán tụng VN DCCH theo một bản văn viết sẵn như thế? Cho nên nhìn ở một khía cạnh khác, có thể nói các lãnh tụ Cộng sản tự bản thân là những chuyên viên kĩ thuật tài tình, những tay phù thuỷ vận động quần chúng giỏi giang hiếm có.

Nhưng qua tay chân, qua nhiều giai đoạn, không phải là tuyên truyền không có nhiều sơ hở, vậy mà không ảnh hưởng nhiều đến chiến cuộc cũng chỉ vì chúng trùm lấp trong tiếng bom đạn dồn dập, trên đà của một trào lưu mê tín mới thời giải thực được gọi là phong trào tả phái, ít nhiều gì cũng nằm trong vòng tay xoay chuyển của người cọng sản trên thế giới. Tình trạng hiểu biết thấp kém của dân chúng Miền Bắc, vì sự cô lập của chiến tranh khiến cho những phương cách tuyên truyền có từ đầu chiến tranh, nay xuất phát từ đầu óc những thư lại yên bình trên bàn giấy của các Ban, Viện, Bộ vẫn tiếp tục với thể thức, phong cách cũ – và vẫn được tiếp nhận phô trương trong các sinh hoạt đường bệ, ồn ào náo nhiệt.

Thật ra đây cũng là lây lan từ khung cảnh chính trị đương thời, từ các chuyện “tố khổ” / “tố điêu” mà ra. Tội ác của địa chủ được Cách mạng vạch trần đúng như thế thì phía địch cũng không thể nào khác. Thế là vẫn có những chuyện tra tấn đàn bà có chửa làm lòi con (chắc nhớ lời tác giả C.B. nói về Cát Hanh Long), vẫn có chuyện lính hiếp dâm cắt vú, xẻo mu phụ nữ (Tiểu thuyết Vô đề của Dương Thu Hương), chuyện chặt tử sĩ ra từng khúc ở Vũng Rô, không cần biết rằng với thời súng liên thanh, đại bác không ai mang dao thái thịt, mã tấu ra chiến trường. Không rầm rộ đến mức phải bào chữa như cây đuốc sống Lê Văn Tám nhưng từ chuyện thời đánh Tây “ôm bom ba càng” đơn giản ở Liên khu V, có chuyện (30-5-1966) Nguyễn Văn Bé dồn dập 3 danh hiệu: “dũng sĩ diệt Mĩ, dũng sĩ diệt nguỵ, dũng sĩ diệt xe cơ giới” ,“bị giặc bắt” mà “mưu trí” ôm một quả mìn lớn lao thẳng (?!) vào xe địch, tiêu diệt 69 tên giặc Mĩ và tay sai, cùng với 3 xe bọc thép của chúng! (Việt Nam, những sự kiện, Viện Sử học 1976). Tuy cơ quan Chiến tranh Chính trị của VNCH có đưa ra một hồi chánh viên để chứng minh phản bác nhưng cũng như mọi chuyện bất thường thời ấy, thời nay, anh hùng Nguyễn Văn Bé vẫn không suy suyển uy danh để vẫn được đứng tên trên đường phố về sau.

Có thể những người chủ trương chỉ nghĩ đến tác dụng từ âm hưởng của những lời tuyên truyền theo vang vọng vô thức của câu chuyện Tăng Sâm giết người, nhưng ở Việt Nam, tầng lớp trí thức không bỏ bản chất thư lại gia thần ngày xưa, vẫn cứ thản nhiên hoặc tâm thành biên chép các sự kiện như thế, bao gồm chuyện bắn rơi máy bay vô số, giết địch kể không xiết, từ tin tức tờ Nhân Dân chép ra thành các nghiên cứu của Viện Sử Học, Trung tâm UNESCO Việt Nam… Với thời thế, họ cũng hãnh diện với tính cách “đầu hàng Giai cấp” để dịch sách Cương mục bỏ chữ “khâm định”, và tán dương các “phong trào nông dân khởi nghĩa” thời Lê Trịnh để lùa vào đó “giặc May mắt” Hoàng Văn Chất! Khả năng trí thức của họ được thu dụng, khuôn nắn trong việc bồi đắp khoa học cho ông vua Hùng quốc tổ để ghép vào với danh hiệu văn hoá khảo cổ Đông Sơn mang bằng chứng trống đồng, càng lúc càng xuất hiện nhiều. Sách vở vốn cũng mang khả năng làm áp lực nên các quyển sách loại Hùng Vương dựng nước được đưa đẩy vào Nam, gợi ý cho các ông thầy nơi đây nhanh nhảu đưa chuỗi tiền sử Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun, Đông Sơn vào tập sử mới, chiêu dụ độc giả học sinh mua sách của mình. Sự thu hút này chắc không làm phấn khởi người Phó Tiến sĩ sử học Tô Minh Trung, được phái vào Nam để “nghiên cứu” gì đó mà lại ra chiêu hồi sau Tết Mạu Thân.

Những người nắm quyền Đảng đầy tự tín đến nỗi, không chỉ diệt trừ kẻ phản động cũ mà còn xoay ra đàn áp những người cùng phe khác nhóm, gán ghép tội trạng theo nhãn hiệu quen thuộc đương thời, như chống những thành phần Xét lại Chống Đảng theo Pháp lệnh trừng trị các tội Phản cách mạng của Trường Chinh kí (30-6-1967). Tình hình xảy ra vì sự xung đột trong phong trào cộng sản thế giới ảnh hưởng đến sự lựa chọn phe phía của Việt Nam mà phe thân Trung Quốc thắng thế dẫn đến những vụ bắt bớ, giam cầm “xử lí nội bộ” trong đó có một nhân vật còn sót hồi sau là Hoàng Minh Chính, Tổng thư kí đảng Dân Chủ, cái đảng được coi là thành phần chân rết của đảng Cộng Sản. Sự thu tóm nhân lực dồi dào được điều kiện hoá như thế, một mặt khiến cho về phía người lãnh đạo Đảng thấy có đủ thân xác tiếp nhận viện trợ, lao về phía trước tiến hành cuộc chiến, mà phía “bạn bè” – có khi bất đắc dĩ, cũng nhẹ nhõm khi thấy không phải tốn nhiều thân xác con dân họ như đám dân Mĩ kia.

Với người ủng hộ Miền Bắc từ phía Nam thì cho rằng sự ủng hộ của phe XHCN chỉ là sự hò hét nhiệt tình, có chăng cũng chỉ như những món quà thân thương. Chỉ vào hồi sau mới có những con số viện trợ cụ thể của các nước liên hệ, có chuyện tiết lộ (1991) 3 000 chuyên viên Liên Xô “làm tất cả để ngăn các cuộc không kích”, tranh giành với sự hi sinh trong số khoảng 200 phi công Bắc Triều Tiên tham gia chiến đấu, được làm lễ tưởng niệm công khai năm 2001. Cũng phải nhận rằng tinh thần “quốc tế vô sản” của phe Liên Xô khá cao nên trong khi ở Miền Bắc, những người ngả về họ bị đàn áp đến nỗi có người phải tị nạn trên đất họ, vậy mà viện trợ của họ không hề ngưng nghỉ – viện trợ những khí tài quân dụng tối tân, như máy bay MIG “đứng nấp trong mây rình bắn máy bay Mĩ”, hay hoả tiễn SAM mà phi công Mĩ thấy nhiều đến mức có lúc bắn không tới mục tiêu mà chỉ các mảnh tung ra đã đủ làm hư hại các B52 bay phía trên nó! Từ cuối 1965, Phó thủ tướng Lê Thanh Nghị hàng năm đã cất công đi xin viện trợ của Liên Xô, Đông Âu, Trung Quốc, Triều Tiên, năm này cho năm sau, mang bóng dáng quen thuộc không mỏi mệt đó đến cả sau chiến tranh, gây bực mình ra lời mỉa mai cho cả những người bạn hào phóng lúc trước. Vay không cần tính đến chuyện trả, chuyện đất nước to lớn cứ như trên một chiếu bạc khát nước!

Không phải chỉ đợi cuối thập niên 1970, vì cơm không lành canh không ngọt, Trung Quốc công khai xác nhận mới thấy vai trò trực tiếp của họ trong cuộc chiến. Từ khoảng 1968 đã có hàng vạn quân của họ vào đất Bắc mang theo anh thanh niên nghĩa vụ quân sự Trần Khải Ca, xây cất đường xá, làm nhiệm vụ phòng không, gây nên nỗi tức giận của vài người dân ngay ở đấy khiến họ phải vào tù. Hoàng Văn Hoan, cựu Uỷ viên Bộ Chính trị, xác nhận: “Bác và Trung ương đảng Lao Động Việt Nam cho quân đội Trung Quốc vào bảo vệ Miền Bắc Việt Nam”. Trong khoảng 1965-1970 có hơn 300 000 quân Trung Quốc đến đóng vùng mỏ Quảng Ninh, khu Tự trị Việt Bắc, Tây Bắc (nghĩa là gần hết vùng thượng du phía Bắc), xuống đến nam Hà Nội dọc đường số 1. Tin đó, khi đăng lên các báo Sài Gòn sau Tết Mậu Thân, cũng vẫn được coi như thêm một chứng cớ “tâm lí chiến” kiểu rêu rao “bán nước cho Nga, Tàu”! Số lượng quân có mặt lúc cao nhất là 170 000 trong năm 1967. Theo tài liệu giải mật về sau, họ đã chi viện hàng triệu tấn vũ khí, quân dụng và thực phẩm, kể cả loại bánh in thần kì của người bộ đội ăn “vài ngày không đói”, hay rau muống đóng hộp được khoe khoang kể ơn hồi môi răng cắn nhau. Các bao gạo mang hàng chữ Cộng hoà Nhân dân Trung Quốc đại mễ, mốc meo chồng chất trong rừng phía nam sau 1975, cho thấy nguồn gốc những “hạt gạo cắn làm tư chia cho Bắc, Nam, Miên, Lào” có gốc gác từ đâu, và những công trình “nghiêng đồng đổ nước ra sông / thay trời làm mưa” để có những Cánh đồng 5 tấn, thật ra là tiếng hò hét thúc đẩy nhau trong cuồng vọng hơn là chính thực chất đạt thành. Tiết lộ trên báo chí trong nước sau 1975 cho biết có cố vấn trên chiến trường Miền Nam điều khiển hệ thống tổ chức phân phối viện trợ, không biết có phải là của Trung Quốc hay không. Vì tính chất thực dụng, người cộng sản không bỏ hẳn Nga nhưng theo Tàu, đối với họ, là một khuynh hướng gần như vô thức dưới áp lực tồn đọng của quá khứ và nhu cầu tranh chiếm quyền lực trong hiện tại. “Bài ca hữu nghị” những năm 1960 vang vang những câu ân tình “Việt Nam Trung Hoa, núi liền núi, sông liền sông… Nhân dân ta ca: Hồ Chí Minh Mao Trạch Đông…”, át hẳn những thực tế của các công trình viện trợ tồi tàn, kém chất lượng. Ngày sau, khi tỉnh giấc, khi cơm không lành canh không ngọt thì hô hoán là bị lừa gạt nhưng thật ra đó là vì khả năng Trung Hoa hồi ấy chỉ có thế mà thôi!

Tầm mức giúp đỡ to lớn của Trung Quốc mang tình “không biên giới”, đem lại hệ luỵ đương thời cho Mĩ mà cũng mở đường gợi ý lấn lướt chiến lược với cả Việt Nam hồi sau. Máy bay Việt bị săn đuổi có thể tị nạn trên sân bay bên kia biên giới. Trong hai năm 1965-66, vũ khí Trung Quốc qua cảng Sihanoukville đủ để trang bị cho 50 ngàn quân Việt Cộng. Từ năm 1957 họ đã viện trợ và cung cấp để Việt Nam huấn luyện, lập căn cứ cho Pathet Lào gây mất ổn định chính phủ Hoàng gia Lào và khiến Thái Lan lo sợ. Cái thế quan trọng của Lào như D. Eisenhower nhận định: “Mất Lào là mất Đông Nam Á”, làm cho tướng tình nguyện Việt Nam chê Pathét Lào mà vẫn đẩy họ lấn chiếm, đưa đến hiệp ước Genève trung lập về Lào (1962), là một bước lùi của Mĩ trước sự bành trướng của phe cộng sản. Và con đường đẩy đưa ra ngoài biên giới như thế, hẳn đã giúp các lãnh tụ Trung Quốc thấy có đà thực hiện chiến lược về phương Nam của Mao. Có thể với sự rối loạn nội bộ, với khả năng quân sự đương thời, Trung Quốc ghìm mơ ước, không muốn chọc giận Mĩ để Lâm Bưu khuyên Việt Nam chỉ nên đánh du kích nhưng với thời gian, thấy ra sự kiến hiệu của thân xác người Việt, bắt đầu từ kẻ cung cấp phương tiện chiến tranh thiết yếu, cung cấp tâm thức sinh hoạt đồng dạng ngàn đời được đổi mới có hiệu quả, họ nhận ra những đòi hỏi chiến lược của họ đã có cơ thực hiện khi thời thế đến.

Ít ra thì ở đây cũng có thể thấy ngay điều chưa xuất lộ, là trong trường hợp nước nhỏ cần đến những phương tiện lớn để đạt mục đích thì thế nào cũng bị buộc cứng nhắc trong mục tiêu xác định để phải chịu những sự lệ thuộc mình không mong muốn. Còn các nước lớn với tiềm năng lớn, thế lực vững mạnh sẵn, thì có thể xoay chuyển linh động theo cách có lợi cho mình, theo với những tình thế gợi mở dù chưa được toan tính trước. Nước Mĩ thua trận độc nhất trong lịch sử của họ nhưng không sụp đổ sau 1973, còn Trung Quốc thì thấy chiến thắng của người bạn nhỏ lại mở ra con đường về Nam, chiếm hàng triệu km vuông biển cả, thực hiện được mong ước không đạt thành của Hốt Tất Liệt ngày xưa!

Thế là người, vũ khí ùn ùn vào nam. Con đường Hồ Chí Minh huyền thoại không phải chỉ đi trên dãy Trường Sơn được đòi “đốt sạch” mà lấn qua đất Lào, toả ra nhiều hướng xuống Tây Nguyên, đồng bằng, được sử dụng không phải chỉ theo hướng bắc nam mà còn dùng cho chuyển vạn từ cảng Sihanoukville như đã nói, sau khi chừa 10% cho Hoàng gia Cao Miên. Với sự sụp đổ của Đệ nhất Cộng hoà, tổng số quân xâm nhập năm 1964 được tính là 17 427 người, gấp 14 lần năm 1960. Đơn vị vào Nam lên đến cấp trung đoàn nên mới có mặt tướng Lê Trọng Tấn, Trần Độ, Hoàng Cầm ở Bình Giã. Quân Bắc đóng trên đất Lào, Miên, chỉ phải chịu đựng bom B52 hay những cuộc dò xét xâm nhập của những đơn vị Kĩ thuật phá hoại lẻ tẻ, hay đi dò xét tình hình mà thôi. Sự vướng víu vào tính công pháp quốc tế của người Mĩ trông thật tức cười nhưng có lẽ đúng, là cuộc sống lúc nào cũng có sự bất hợp lí của nó: Qua Lào Miên thì bị cả dân của mình coi là xâm lăng, mà ai tấn công từ đó thì được coi là sự hi sinh gian khổ theo chiến lược thần kì, chỉ vì lời biện minh có vẻ thuận lí “Người Việt có quyền đi bất cứ nơi đâu trên đất nước mình (?) để chống xâm lăng”. Rồi cũng có sự kiện ngày 27-4-1966, bộ đội Vĩnh Linh “lại” bắn súng lớn xuống nam vĩ tuyến tiêu diệt địch, phá huỷ máy bay, kho tàng… đánh tiếng tiền lệ 1972 về sau khi hàng rào điện tử McNamara lập tháng 6-1966 đã tỏ ra vô hiệu quả. Sự tràn ngập này thật ra không cần thiết, vì chiến tuyến Bắc Nam không phải chỉ dài hơn 40 cây số dọc sông Bến Hải mà là hàng ngàn cây số giáp giới biên cảnh Lào, Miên.

Sự hoài nghi chiến thắng ở Việt Nam đã phát sinh ngay trên đất Mĩ, ngay từ lúc Mĩ đổ quân ào ạt (lại cũng giống như các cuộc can thiệp bây giờ) nhưng không phải đã không đem lại tình hình sáng sủa trên vùng đất rối loạn này. Các thành phần chống đối đã mỏi mệt hoặc mỏi mòn. Phật Giáo chia ra hai phái Ấn Quang, Việt Nam Quốc Tự giành giật tín đồ, đất chùa. Giới Công Giáo an tâm thấy địa vị không suy suyển, có thể phát triển thuận lợi với tập họp tư bản mới mà không bị mang tiếng nhiều. Cuộc chiến lan rộng với các cuộc càn quét bắt lính, trấn áp nội loạn của chính quyền cũng làm cùn nhụt khí thế chống đối của một lớp thanh niên.

Và với phương tiện dồi dào, đối phó với sự xâm nhập trên đường mòn Hồ Chí Minh, người Mĩ đã đem vùng Cao nguyên Trung Phần / Tây Nguyên nổi lên trong chiến tranh. Điều đó không có nghĩa là chính phủ Sài Gòn đã bỏ lơ vùng đất. Nhưng tất cả những hoạt động của chính quyền lại vẫn mang ý nghĩa “truyền thống” là Việt hoá man di như đổi các tên Blao thành Bảo Lộc, Langbiang thành Lâm Viên… đăt các tên mới có âm vang quen thuộc “sang trọng” như Gia Nghĩa (giống ở phía nam có các tên Khánh Hưng thay Sóc Trăng, Trúc Giang thay cho Bến Tre, Vĩnh Bình thay cho Trà Vinh…) Người Mĩ đem đến một quan niệm tập họp đất nước dân tộc phóng khoáng, cởi mở hơn, quan niệm có thể bị những người mang tính “dân tộc lớn” chê trách nhưng rõ ràng là văn minh hơn. Họ mộ quân riêng trong các Lực lượng Đặc biệt khiến vai trò người thiểu số càng nổi hơn – đã được gọi là Thượng chứ không là Mọi nữa. FULRO (Front Unifié de Lutte des Races Opprimées) gồm thâu 3 Mặt trận nhưng dưới quyền Les Kosem được Sihanouk yểm trợ, nên có vẻ nổi bật với ý tưởng hồi phục nước Chàm xưa. Tù nhân trí thức Thượng được thả, FULRO nổi dậy ở Buôn Sharpa (20-9-1964) và các đồn Lực lượng Đăc biệt Thượng khác. Những cuộc trấn áp, điều đình lôi kéo dẫn đến sự thành lập các tổ chức của Đệ nhị Cọng hoà, đưa vào Thượng nghị viện hai người cựu Fulro và một người là dân biểu. Vị thế của người thiểu số lên cao nhất với sự thành lập Bộ Phát triển Sắc tộc ngày 16-12-1967. Sự thù hận các điểm tập trung dân Thượng cản trở bước tiến “giải phóng” khiến phát sinh những vụ thảm sát như ở Dakson (6-12-1967) cho thấy chiến tranh đã lấn sâu vào các tập đoàn Thượng như thế nào. Nhất là với những người cộng sản chịu đựng luồn lọt Ba cùng, nắm chắc dân chúng buôn rẫy, khoe khoang một anh hùng Núp đang được Bác tưng trọng ngoài kia khiến cho người xâm nhập hát hò “tiếng chày trên sóc Bom Bo”, xúi được dân sóc bắn tên lên cả trực thăng khung sắt!

Viện trợ và sự chi tiêu của quân ngoại quốc ở Việt Nam đã đem lại một hình thức sung túc mà người bác bỏ đặt tên là “phồn vinh giả tạo”. Nhưng thực phẩm dồi dào, mới lạ, máy thu âm ca nhạc, cái tivi đen trắng rồi màu mè, hàng PX lẫn lộn trong “rác” Mĩ thành đôla xanh đỏ, tiền ngân hàng… thì không thể là giả tạo để ruồng rẫy được. Với cấp thời trước mắt, đó là sự hưởng thụ, là đời sống thấy được nâng cao. Sự thừa mứa dễ dẫn đến sự hơ hỏng, kém quản lí để tiếp theo là những chuyến đánh hàng PX, với câu chuyện người tài xế dạm bán bộ máy computer 2 triệu đôla không được mới bị phát giác (hẳn vì đồ vật không phải gọn nhẹ như ngày nay). Một lớp người sống nhờ quân đội ngoại quốc theo thể thức bán buôn dịch vụ, đứng đắn hay không đứng đắn cũng thành một lớp trung lưu mới, chuyển đùa tiền bạc cho những người kém may mắn hơn. Các nơi đóng quân thành những tụ điểm dân cư mới, nối liền bằng một hệ thống đường xá rộng rãi, phẳng phiu hơn trước, bằng cả một hệ thống phi trường lớn nhỏ dày đặc với phi/quân cảng Cam Ranh tối tân. Thành phố Sài Gòn kết nối Chợ Lớn thông suốt, lấn lướt các đồn điền cao su Gia Định với nhà cửa cao tầng chập chùng, mang hệ thống điều hoà không khí không cần thuận theo tình hình thực tế gió mùa, nắng mưa.

Tất nhiên thay đổi cũng có nghĩa là đem lại rối ren. Vẫn còn thấy rối loạn trên đường phố, thỉnh thoảng vẫn còn những vụ ám sát, nổ bom phá hoại của Đăc công Thành, vẫn phải lén lút tiếp tế cho Việt Cộng… nhưng đại bộ phận dân chúng sống công khai dưới quyền chính phủ đã dần dần thấy có một đời sống khác, không giống với dạng hình cũ, dù là hình như chỉ vừa mới hôm qua. Đó không phải là cuộc sống thị dân, như sự tiến triển bình thường của định chế tư bản nhưng cũng là của những con người bị bom đạn loạn lạc dồn về các thành phố, chuyển hướng sản xuất thành bộ phận dịch vụ, chuyển đổi suy nghĩ để không dễ dàng theo sự chiêu dụ của người cộng sản, như dự tính của một số người làm chiến lược chính trị mong muốn. Và cũng như mọi toan tính khác, họ cũng đã sai lầm. Với vị thế ở đỉnh cao của hệ thống tư bản, người Mĩ đã đem lại cho xứ sở này sự đảo lộn xã hội, văn hoá lớn lao, lớn hơn cả khi dưới quyền người Pháp. Cho nên có phản ứng trên căn bản dân tộc ngay cả ở những người “theo Mĩ”, phản ứng mà kẻ thu đoạt được kết quả cuối cùng lại là Việt Cộng, những người nhanh nhẹn chụp bắt mọi cơ hội, những người trong tâm thức bảo thủ đến cùng cực đã nghĩ ra lập luận về sự bảo vệ văn hoá dân tộc, chống đối sự nô dịch của văn hoá Mĩ và tay sai…

Một thứ tư tưởng dè bỉu Di Man khuất lấp khiến cho người ta lăn vào chia sớt tiền bạc chiến tranh mà cứ ngần ngại, rẻ rúng với công việc “làm sở Mĩ”. Ý thức đó được chuyển tiếp công khai trên ngôn từ bằng lớp người của báo chí, văn học. Ở đây lại có thêm sự xung đột giữa lớp khoa bảng lớn nhỏ được đào tạo từ Pháp, còn đông đúc nhưng lại thấy mình có nguy cơ bị lớp người ở các trường Mĩ chèn lấn. Lại rắc rối là sự xung đột môi mép, chữ nghĩa được khuyến khích bởi ngay cơ sở dân chủ của chế độ đưa ra, tất nhiên lúc khởi đầu không cho thấy có nguy cơ nổ bùng tai hại. Như bản Tuyên bố sau cuộc Hội thảo về vấn đề phê bình văn nghệ ngày 15-1-1967, cho thấy chỉ đòi hỏi có sự tự do trong phê bình văn nghệ, nói rằng để chống đối “hiện tượng dâm ô và đồi truỵ càng ngày càng trở nên trầm trọng” trong sinh hoạt văn nghệ ở Miền Nam. Tuyên bố dùng sự đòi hỏi “phát huy nền văn học hùng mạnh và tiến bộ… bảo tồn và phát triển dân tộc” để chĩa mũi dùi chống chính quyền mà không để ai chú ý đến tên những nhân vật đồng kí có những người thiên tả, nằm vùng đứng ở các chỗ thật khuất lấp. Cũng như một đơn vị hội thảo là tạp chí Tin Văn nằm sau cùng trong liệt kê, tạp chí đó với Văn Lương, một cán bộ văn hoá vận lòn theo phong trào di cư, đã núp bóng làm mưa làm gió trên các sinh hoạt văn hoá đương thời. Mục đích là chống Mĩ nên không kể đến chuyện mâu thuẫn tức cười giữa một bên là nhà văn, chủ báo Chu Tử tác giả các bestseller Yêu, Tình, Tiền, Loạn bị tố cáo là viết sách khiêu dâm, bị ám sát hụt, với đối kháng là người được cho vào danh sách đứng đầu một Đoàn Chủ tịch của Phong trào Bảo Vệ Văn Hoá Dân Tộc, Giáo sư Đại học Nguyễn Văn Trung cổ động “nói chuyện với người anh em phía bên kia”, mà cũng là tác giả Ca tụng thân xác, nấp lén sau sự nghiên cứu, chứa chấp các ngôn từ thô lỗ, trắng trợn vẫn chưa dám xuất hiện ngay trong các tiểu thuyết bị chống đối nọ.

Tết Mậu Thân: trận “ăn vạ” chiến lược

Khoảng 1:20 sáng ngày 30-1-1968, quân cộng sản đồng loạt tấn công thủ đô Sài Gòn với 19 đoàn đặc công, vào các mục tiêu trọng yếu: Phủ Tổng thống, Bộ Tổng tham mưu, Toà Đại sứ Mĩ, Đài Phát thanh… Trước đó vài tiếng đồng hồ, nghĩa là vào đêm giao thừa (29-1) năm thành phố Quy Nhơn, Kontum, Darlac, Pleiku, Nha Trang đã bị tấn công. Từ mồng 1 đến mồng 2 Tết, mặt trận toàn diện mở ra trên 28 tỉnh lị bị xâm nhập với 16 tỉnh bị pháo kích, tổng cộng có hơn 100 địa điểm thành phố, thị trấn. Lệnh tấn công được cho rằng đã phát ra từ Chủ tịch đoàn Uỷ ban Trung ương MTGP lúc 18:30 ngày 30-1-1968 lại cũng chỉ là thói quen chiến thuật chính trị của thời đại vì thực sự, lệnh khích động khởi phát cho cuộc chiến chuẩn bị cả nửa năm trời là bài thơ chúc Tết (1-1-1968) của Chủ tịch VN DCCH: “Tiến lên toàn thắng ắt về ta!”

Cuộc Tổng tấn công được coi là bất ngờ nhưng thực ra trước một tiến trình chuẩn bị lâu dài cho một chiến dịch lớn như vậy mà cho rằng không thấy có tín hiệu quân sự đánh động thì cũng nên xét lại. Người Mĩ xa lạ, nhìn vào những dấu hiệu lớn chỉ lo quan tâm đến địa điểm Khe Sanh bị bao vây (4 sư đoàn bộ binh, 2 trung đoàn pháo và xe tăng), để bị đánh lừa bởi ám ảnh trận chiến Điện Biên Phủ 1954, trong đó có không ít khuynh hướng chủ bại của dư luận báo chí, quần chúng phương Tây. Quân Bắc đã sử dụng đến đơn vị sư đoàn với vũ khí tối tân để đánh các đơn vị Mĩ ở vòng ngoài giáp Miên, Lào, vùng cao nguyên, giới tuyến. Phía những người quen tung hô quyền lực thì cứ lấy sự kiện Quang Trung đánh nhau trong mấy ngày tết xưa mà tán thưởng cho cuộc chiến ngày nay. Không ai nhắc chuyện huênh hoang khoe âm mưu chất súng vào hòm với kèn trống đưa ma tiến vào thành phố, chính là phá vỡ đạo lí dân tộc không có cách gì bào chữa được. Có thể nhạo báng là chính VNCH mới đúng là kẻ sống theo truyền thống! Không như kẻ địch chỉ có mỗi một việc là đánh giặc, phe ta quan niệm: Có đánh thì phải có nghỉ ngơi, và chuyện nghỉ ngơi Tết Mậu Thân năm đó không phải là lần đầu. Vì thế trại lính cấp phép cho quân nhân về nhà – có khi khá xa nơi đồn trú, Tổng thống về quê vợ Mĩ Tho – cũng là đã có thận trọng, hơn là về Ninh Thuận xa tít, trắc trở hơn!

Chiến trận thật khốc liệt nhưng bao nhiêu mưu toan sâu kín của cấp lãnh đạo không màng đến tổn thất, với sự liều lĩnh của quân tướng cũng không đủ để đương đầu với thực tế. Sự bất ngờ có ở phía Cộng Hoà thì cũng có ở phía quân Giải Phóng, những người quen thuộc với núi rừng, đồng ruộng mà phải lạc loài vào thành phố nhà cửa chập chùng, ngoắt ngoéo đường xá đầy quân lính, cảnh sát Việt và Đồng Minh. Khi hết chiến tranh, họ cũng sẽ thấy lạc lõng như thế, dù là với tính cách người chiến thắng nhưng điều đó không tai hại bằng sự lạc lõng của những người lãnh đạo khi phải điều hành thành phố to lớn, ồn ào nhất Đông Nam Á. Toan tính chủ quan cho rằng có Tổng công kích thì có Tổng nổi dậy của quần chúng căm thù Mĩ Nguỵ, không phải là lầm lạc khó thấy ở những người mê muội kinh sách, nuôi ảo tưởng lâu ngày để dễ tưởng là sự thật. Họ không kịp thấy như đám phóng viên ngoại quốc, qua giây phút kinh hoàng bất ngờ của súng đạn máu me ghê rợn, lại có dịp thu vào máy ảnh cảnh từng tốp người xúm xít bên góc phố, chỉ chỏ bàn tán cuộc chiến đang diễn ra ở cuối đường, hay có lúc dàn cả trên một đoạn đường ngóng cổ về một chòm khói bốc lên phía xa. Dân Sài Gòn trong hơn 20 năm xem chiến tranh trong phim ảnh, nghe/đọc chiến tranh qua radio, báo chí, nay mới thấy tận mắt nên lò dò theo chân người lính, nhân viên cảnh sát truy bắt Việt Cộng quanh quất trong hẻm nhỏ, trên mái nhà! Cách ứng xử cũng thật là lạ lùng với người nơi khác nhưng đó là sự ứng biến tự vệ cấp thời khôn ngoan: di chuyển giữa súng đạn thì không núp lén mà đi ngay giữa tim đường cho các bên tranh chiến cùng thấy, còn chuyện tên rơi đạn lạc thì phó mặc cho Trời! Đừng đòi hỏi đám dân thành thị đó đứng về phía Cách mạng, Giải phóng!

Cái mê muội của những người nắm quyền sinh sát kẻ dưới tay thấy rõ trong quyết định tiến hành tấn công đợt hai (tháng 3), rồi đợt ba (tháng 4-5) trong tuyệt vọng của kẻ thừa hành. Đọc những đoạn hồi kí thành thật về sau của những người lâm trận thoát chết, để thấy rõ tình cảnh thê thảm của những cánh quân lẻ tẻ xâm nhập ngã gục, bị thương cứ trông chờ mòn mỏi, vô vọng ở những toán tiếp viện được hứa hẹn đầy nhiệt tình lúc khởi quân. Cho nên tình thế lật ngược nhanh chóng ở các thành phố lớn nhỏ, trừ cựu đô Huế nằm ở vị trí tiếp cận giới tuyến khiến chiến trận kéo dài đến hơn ba tuần lễ. Nhưng chính những gì xảy ra ở đây mới là phản ảnh đúng bản chất cuộc chiến nội địa.

Huế bị tấn công sáng sớm 31-1 theo ba hướng, qua những chuẩn bị từ 5 tháng trước, không phải chỉ được hoàn thiện về phương diện quân sự với chi tiết 200 điểm tấn công mà cả về phương diện chính trị nữa. Huế có những cuộc nổi loạn chống chính quyền Sài Gòn với giới Phật Giáo dễ có sự xâm nhập của Việt Cộng, và chính sự bảo thủ chống Công Giáo, chống Tây phương của một Cố đô cũng đẩy người tranh đấu lên rừng, ra khu. Cho nên ở đây mới xuất hiện những nhân vật tranh đấu chịu chết thảm vì không tìm được lối thoát (Ngô Kha), điêu đứng lận đận vì mang chất cộng hoà, còn sót lại lúc đã ở trong vòng tay cộng sản từng mơ tưởng (Nguyễn Đính / Trần Vàng Sao) hay may mắn (?) thuận hợp với tình thế chính trị, trở nên những người nổi danh hồi sau, có phân trần cho mấy nữa cũng phải chịu đựng oan thù từ các xác chết những ngày Mậu Thân năm ấy (anh em Hoàng Phủ Ngọc Tường / Ngọc Phan, Tôn Thất Dương Tiềm, Nguyễn Đắc Xuân…) Vì có sự hiểu biết địa phương tại chỗ, nhiều và chính xác để tạo ân oán như thế nên mới có cuộc thảm sát ở đây, tuy có gây tranh cãi về số lượng, tính chất nhưng không xoá được sự hiển nhiên, như chứng kiến điên loạn của Trịnh Công Sơn, lần đầu tiên giáp mặt chiến tranh: “Chiều đi qua Bãi Dâu hát trên những xác người…” Người ta lập trước cả một danh sách “ác ôn” được lùng bắt đúng địa chỉ. Tính chất bài ngoại nằm trong lệnh bắt tất cả những người ngoại quốc trừ Pháp (vì tướng De Gaulle chỉ trích Mĩ), thế là các giáo sư y khoa Đức của Đại học Huế bị giết, giết cả Lm. Bửu Dưỡng từng xác nhận với bổn đạo là đã cầu kinh cho Hồ Chí Minh! Ít ai nhớ đến anh Trưởng Hướng đạo Võ Thành Minh từng thổi sáo than khóc chia cắt bên hồ Léman, cũng như sinh viên Sài Gòn quên chủ tịch Tổng hội đầu tiên (1964) Lê Hữu Bôi. Huế cung cấp thêm dáng “tổng nổi dậy” như thế nên theo thói quen lôi kéo người, ngay hôm sau ngày “giải phóng” là có thêm một mặt trận vô vị, Mặt trận Dân tộc Dân chủ Hoà bình, với các lãnh tụ dùng dằng chắp vá: Trịnh Đình Thảo mang tiếng tăm đặt tên đường Hồ Chí Minh trong trang trại Gò Vấp của mình đi khoe với Chủ tịch, Lâm Văn Tết nhân sĩ Biên Hoà khuất lấp như dấu vết thừa thải của thời trước, Hoà thượng Thích Đôn Hậu như hơi hướng của Phật Giáo tranh đấu, Giáo sư Lê Văn Hảo luỵ vì chút cảm tình thiên tả của đại học Tây trút cho đám đồ đệ tại chỗ, để rồi phải vùng vẫy nhục nhã thoát ra hồi sau…

Kết cuộc là có những con số lạnh lùng. Chỉ trong hai tháng 2 và 3-1968, VNCH có 4 954 tử thương và hơn 15 000 bị thương; Đồng Minh (phần lớn là Mĩ) có 4 114 tử thương và hơn 19 200 bị thương. Các đơn vị cộng sản có 58 373 chết và hơn 9 000 bị bắt. Thường dân chết là 14 300, bị thương 24 000. Nổi bật tại Huế không chỉ là sự tàn phá hoàng thành, tranh giành cột cờ mà còn là những hồi ức về sự tàn sát tại chỗ và những xác người tìm thấy bên bờ sông suối, ở ngoại vi thành. Điều đáng kể vì là chiến lược liều lĩnh thọc sâu vào thành phố, đồng bằng nên các đơn vị gốc tại chỗ phải chịu nhiều thiệt hại nhất, để từ đó nổi lên vấn đề oán hận hồi sau của Dương Quỳnh Hoa khi thú nhận với S. Karnow: “Chúng tôi thiệt những người ưu tú nhất”. Họ cũng lượng định có phản ứng ngược của người Mĩ đến tận Thủ đô nên ông Chủ tịch già yếu phải nương náu ở Trung Quốc, buồn thiu trong một căn nhà nào đó. Các tay chỉ huy chiến trường là kẻ nhận ra tình thế thất bại đầu tiên như Thượng tá Tám Hà, Trung tá Huỳnh Cự phải bỏ quân về hàng trong cuộc tấn công Sài Gòn đợt hai. Ở cuối đường chiến dịch là Trung tá Lê Xuân Chuyên về hàng khi thất bại trong trận công đồn Võ Đắt (Bình Tuy).

Thất bại quân sự kéo theo thất bại dân sự, để trống thôn quê cho các chiến dịch Phượng Hoàng, Bình định Nông thôn xây dựng làng xã, tiêu diệt cán bộ cơ sở, thu hẹp phạm vi hoạt động của họ. Trong 5 năm thực hiện (1968-1973) kế hoạch Phụng Hoàng đã gây thiệt hại cho 80 ngàn cán bộ cộng sản với 26 ngàn bị giết, còn lại là chiêu hồi, tù binh trong đó chỉ riêng hai năm 1969-70 họ đã bị thiệt hại hơn 14 ngàn chết và gần 15 ngàn bị bắt. Kế hoạch chiêu hồi, thu nhận hàng binh được thành lập từ 1963 có thêm Huỳnh Cự làm cố vấn phụ tá Thủ tướng, cũng như Tám Hà cố vấn phía Xây dựng nông thôn, Lê Xuân Chuyên chỉ huy trưởng các toán võ trang tuyên truyền. Cùng với các cuộc tấn công của quân đội trên đất cấm Cambodge, truy đuổi cục R, những người sống sót hồi sau nhớ lại thời “không còn chỗ trải chiếc chiếu mà nằm!” “Tâm lí bộ đội xoay quanh Ba lo: lo bom, lo đạn giặc, lo bệnh tật – và Hai ngán: ngán chiến trường Tây Nguyên, ngán lâu dài…” (Nghiên Cứu Lịch Sử 6-2011). Năm đầu thành lập chương trình Chiêu hồi chỉ thu nhận được 5 417 người nhưng năm 1970 con số lên đến 32 000 người. Thế là trong khi danh từ Việt Nam hoá từ phía Mĩ bị nhạo báng là thay màu da xác chết trên chiến trường, thì trong rừng núi khuất lấp cũng có tình trạng thay màu áo, màu quân phục chính quy Bắc Việt và màu chính trị đỏ hơn trong đầu óc các chiến binh, cán bộ sinh Bắc tử Nam. Các đồng chí khăn rằn, mũ tai bèo đã nằm xuống, người sống bị lấn át công khai hơn để có lời than thở não nùng, cũng của Dương Quỳnh Hoa.

Cuộc chiến tàn bạo hồi cuối và phần kết thúc của giấc mơ

Người ta không phải lạc quan vô cớ trước tình hình an ninh trở lại trong các năm 1969, 1970. Cứ nhìn xe đò chạy xuyên suốt trên những tuyến đường là thấy ra áp lực phía Việt Cộng đã giảm. Ngày 5-4-1968, Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Duy Trinh lên tiếng chấp nhận hoà đàm khi vẫn chưa đạt yêu cầu (28-2-1967) “ngưng ném bom Miền Bắc”, chỉ có bớt ném bom (không quá vĩ tuyến 20, 31-3-1968), điều đó chứng tỏ một chút thấm đòn trong cuộc Tổng tiến công thất bại với cả đợt hai gắng gượng mà yếu ớt thấy rõ. Tuy không phải là “chiến lược kéo Mĩ xuống thang chiến tranh” như thói quen khoe khoang về tính chủ động thần thánh nhưng giai đoạn “đàm” kế tiếp là liên tục trong ý chí chiến đấu, cuối cùng đã đem lại kết quả đưa đẩy đến toàn thắng.

Lần đầu tiên người Mĩ bình thường không chỉ biết chiến tranh ở cái xứ xa xôi kia qua những bình luận, thông tin của các nhà báo mang về những hình ảnh dù gợi xót thương hay bất mãn nhưng dù sao cũng là muộn màng, có cách biệt. Nhưng đây là lần đầu tiên người Mĩ từ trong phòng ngủ, thức dậy kinh hoàng thấy lửa cháy, đạn nổ, xác người trên tivi hiện lên ở những vùng phố xá quen mắt, thấy Việt Cộng xâm nhập ở những nơi tưởng là bất khả xâm phạm như tòa Đại sứ của họ. Và với một chính quyền luôn phải chịu áp lực của quần chúng mỗi lần 4 năm bầu cử như chính quyền Mĩ, rõ ràng qua những ngày tháng bị tấn công liều lĩnh đó, họ đã phải chịu đựng sự phản đối từ mọi phía của những ngày trước kia, lúc này đã dồn ép lên đến đỉnh điểm. Kết cục, ngày 31-3-1968 TT Johnson tuyên bố không ra ứng cử nhiệm kì hai để công nhận sự thất bại của mình.

Dân Mĩ luôn luôn đòi hỏi thay đổi nên dễ “nóng ruột”, vì thế các cuộc biểu tình phản chiến trên đất Mĩ có thể nói là “dài như chính cuộc chiến”. Bắt đầu từ phong trào teach-in của giáo sư Đại học Michigan 24-3-1965 lan tràn qua những đại học khác để thành hình những cuộc biểu tình của sinh viên, quần chúng càng lúc càng lớn rộng, càng dữ dội. Đầu tiên chỉ có khoảng 20 000 người ngày 17-4-1965 ở Washington D.C., lên đến 100 000 người năm 1967 và lên tột đỉnh ở Thủ đô tháng 11-1969 với 250 000 người. Con số đạt nửa triệu vào một trong 4 ngày biểu tình tháng 4-1971, có mặt Jane Fonda, Jh. Kerry (ứng cử viên Tổng thống Mĩ 2006), biểu tình lấy tên Deway Canyon III nhái chiến dịch Deway Canyon II (Lam Sơn 719), phản đối cuộc tiến công qua Hạ Lào. Thật ra thì như đã nói, các cuộc biểu tình phản chiến xảy ra cũng mang tính cách phức tạp như chính xã hội Mĩ. Chúng lẫn lộn vào những đòi hỏi cải tạo xã hội như biểu tình sau cái chết Martin Luther King Jr., những rối loạn với vụ ám sát Robert Kennedy. Lí tưởng ngông nghênh và tập tánh phô trương của giới điện ảnh kịch trường khiến cô đào Jane Fonda ngồi trên nòng đại bác Hà Nội chống đối chiến tranh, để rồi cũng sẽ nói lời hối tiếc vuốt đuôi như nhiều người khác. Bạo động trong cuộc biểu tình ở Đại học Kent, Ohio 4-5-1970 phản đối đánh qua Cambodge làm chết 4 sinh viên, kéo theo những cuộc biểu tình tiếp ở các Đại học tăm tiếng của nước Mĩ. Phức tạp là như vậy nhưng ý thức thiên tả của thời đại cũng khiến những tập họp này ảnh hưởng riêng đến các du học sinh Miền Nam, những người trở thành những “Việt kiều yêu nước” đi biểu tình, tiếp tay phục vụ phái đoàn Mặt Trận trong cuộc hoà đàm Paris, hay táo bạo hơn, như Nguyễn Thái Bình định cướp máy bay bằng một túi chanh giả làm lựu đạn theo thời thượng không tặc đang lên lúc bấy giờ. Nhìn theo hướng thuận lợi của các biểu tình phản chiến như thế nên chính Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng cũng tỏ lời khuyến khích, tán dương trong tâm ý thành thật tin rằng “đúng là của phe mình”.

Rối loạn từ nước Mĩ dội ngược vào Miền Nam không phải chỉ bởi sự bắt chước thụ động mà bởi chính sự đồng dạng văn minh đi vào một khu vực yếu ớt, mỏng manh như ta từng bàn luận. Một tổ chức dân sự có Tổng thống, Thượng Hạ Viện, bầu cử 4 năm một lần cãi nhau chí choé, phô bày hết mọi xấu xa của đối phương để khi lên cầm quyền thì không còn chút uy tín nào trong một xứ vẫn còn quan niệm về “tài/đức” trị nước, chăn dân. Thành phố đáng lẽ là nơi an toàn theo khuynh hướng tự nhiên của bản chất chế độ thì lại là nơi khởi đầu rối loạn, không phải chỉ bởi kẻ địch tấn công. Sự chống đối chính quyền được coi như là một sinh hoạt tự nhiên, không cần bàn cãi, khiến cho người cầm quyền trở thành cô lập trong lúc phải cần sự tập trung quyền lực để đối phó với tình hình chung. TT Nixon viện dẫn có “đa số thầm lặng” theo mình còn được các poll chứng minh chứ chính quyền Miền Nam chỉ có thể co lại trong vòng rào kẽm gai, nghe lời phản đối từ bất cứ tầng lớp xã hội nào, cả từ những người trong vòng tay che chở của quyền bính mình. Sự lấn lướt như thế dễ dẫn đến sự tán đồng các khuynh hướng chống chính quyền khác, mang sự hấp dẫn vì chưa có thực nghiệm, hay chưa thấy sự đe doạ sát thân từ phía Việt Cộng, để bị lôi cuốn theo mà không phải xấu hổ vì điều tiếng xu phụ. Thế là xã hội thành phố Miền Nam trong những ngày có an toàn tương đối vì thất bại Mậu Thân của Việt Cộng, lại trở thành một nồi cám heo của mọi phong trào, tư tưởng khởi phát theo sự va chạm cá nhân, lẫn lộn nhân danh lí tưởng cao vời.

Ngay sau trận chiến Mậu Thân, quần chúng phản đối có thêm lực lượng hùng hậu của sinh viên vì chính quyền gọi tái ngũ, “bắt lính” dồn dập hơn. Có Hội thảo của sinh viên Văn khoa Sài Gòn (9-4-1968) chống tổ chức quân sự học đường, chống luật Tổng động viên. Họ chống luật cấm biểu tình 10/68, lập Uỷ ban vận động hoãn dịch, bắt tay với phái Ấn Quang, quấy động cả trong Giáng sinh 1968 “cầu nguyện hoà bình”. Bởi vậy không lấy làm lạ rằng ngày 13-6-1968, Hội đồng Đại diện sinh viên kêu gọi hoà bình, đòi thương thuyết, hẳn là với “phía bên kia”. Quan điểm tự trị Đại học mượn của Mĩ khiến sinh viên phản đối cảnh sát xâm nhập Đại học, bắt lãnh đạo sinh viên đưa ra toà. Khi họ biểu tình bị rượt đuổi chạy vào khuôn viên nhà trường, trụ sở sinh viên thì cảnh sát đứng ngoài ngó vào “bao vây”, hay có thể nói là canh chừng cho họ nhảy múa ca hát “cho đồng bào (!) tôi nghe” mà kết cục không ngăn được tù tội, đoạ đày. Tầng lớp Đại học được một chừng mực kính nể khiến bà Tiến sĩ Luật Ngô Bá Thành (Phạm Thị Thanh Vân) múa may quay cuồng trên đường phố. Cựu chức sắc cao cấp Bộ Giáo dục Lí Chánh Trung làm Chủ tịch Hội Giáo sư và Phụ huynh chống đàn áp Sinh viên học sinh, cựu Khoa trưởng Nguyễn Văn Trung làm Chủ tịch một Uỷ ban Bảo vệ Văn hoá Dân tộc, Uỷ ban Cải thiện Chế độ Lao tù… dù biết là “sinh viên làm hết”, các ông chỉ có kí tên mà thôi. Trường Đại học Khoa học thì xin ông Trần Kim Thạch đang bị giữ ở Tổng nha Cảnh sát về chấm thi. Ông tiến sĩ địa chất đó từng nhất quyết bảo rằng ngoài biển phía nam không có dầu mỏ, rồi sau 1975 lại phân trần với các đồng nghiệp phía bắc đến tiếp thu, rằng ông nói vậy để người Mĩ thấy không lợi lộc gì mà bám giữ Miền Nam!

Lực lượng học sinh sinh viên lôi cuốn được các ông thầy, nổi bật nhất là các khuôn mặt trí thức Công Giáo tưởng có thể mang lí tưởng thiên cộng của mình núp dưới cái vỏ dân tộc (tên một đề sách của giáo sư Lí Chánh Trung: Tìm về dân tộc), hay tưởng có thể dung hoà được lí tưởng xã hội Công Giáo với lí thuyết cộng sản để tán thành một chính quyền cộng sản cho Miền Nam mà không ngại điều tiếng phản bội (Nguyễn Ngọc Lan, Trương Bá Cần, Chân Tín, Châu Tâm Luân… hay Nguyễn Đình Đầu của nhóm Trí Việt). Sự ngang nhiên của tầng lớp trí thức này chứng tỏ giới Công Giáo thấy mình đến đây đã đủ quần chúng và cán bộ để hiện diện trong mọi chiều gió chính trị quốc gia. Gam màu thiên tả có thêm chút tinh thần yêu nước càng làm người chọn lựa dè dặt như Nguyễn Hiến Lê an tâm hơn, khi phải so sánh với sự độc tài của Stalin qua tố cáo của Krutchev, hay được chứng thực bằng tin tức Hồng vệ binh tai quái hành xử đương thời ở phương Bắc. Nhưng dù bằng cách biện minh nào thì trước tình hình lấn lướt của người cộng sản trên chiến trường, hay sự xu phụ ào ạt của phong trào thiên tả quốc tế, sự chọn lựa của các trí thức Công Giáo Miền Nam này cũng vẫn phải được coi như một cách đón gió trong mặc cảm “xa rời dân tộc” của một quá khứ hiện diện trên đất nước này mà nay họ muốn chuộc lại một phần tội lỗi (?), mong đem đến một hình ảnh mới của Đạo trong cuộc chiến thắng thấy rõ.

Bên ngoài nước, từ tiếng vang của toà án Hoà bình mở ở Stockholm, bảo trợ bởi B. Russell và J.P. Sartre, bắt đầu từ 1966 kết tội Mĩ, có các cuộc biểu tình trên đường phố hô vang “Hồ! Hồ! Hồ Chí Minh”, có tên “Công viên Hồ Chí Minh” ở Đại học Berkeley, có tiếng súng xử tử tù binh Mĩ trong rừng rậm Trung Nam Mĩ đáp lại các cuộc xử tử Việt Cộng ở Miền Nam, có anh phóng viên “mơ làm người Việt Nam”, nỗi ước mơ qua thế kỉ XXI đã tắt trên đất Thuỵ Điển nhưng vẫn còn được hồ hởi viện dẫn với một tay giang hồ nào đấy đang phải kiếm sống trên đất Việt… Những sôi sục đó cho thấy cả một không gian quốc tế rộng lớn, những xã hội với trình độ phát triển không có ở Miền Bắc, ở toàn thể khối “ưu việt”, đã xông vào phục vụ Bác và Đảng bằng tất cả nhiệt tình tin vào lẽ phải của mình. Không biết từ đâu, loại ngôn từ truyền thông tán tụng “(Việt Nam) lương tâm / đỉnh cao của loài người”, “(Hà Nội) trái tim của nhân loại” đã đưa vào tai các nhà lãnh đạo, truyền đạt xuống dân chúng sự kiêu ngạo bốc đồng trong ngôn ngữ: “chế độ ta dân chủ gấp triệu lần tư bản”, đến độ quá phận trong tình cảnh còn phải nhờ cậy tới tấp, xin xỏ khắp nơi mà vẫn cho ướp xác lãnh tụ để khỏi thua kém đàn anh… Bốc đồng tung hứng lẫn nhau, chỉ đòi tiếng khen mà gầm gừ với lời chê, điều này trở thành “tiêu chuẩn” hành xử được kéo dài rất xa về sau, chính là từ sự ưu ái quá đà đó của một bộ phận lớn thế giới trong chiến tranh.

Sau những dò dẫm, tiếp xúc bí mật trên những địa điểm khác nhau, qua nhiều trung gian, cuối cùng năm 1968 mới thấy ló dạng thoả thuận, vì sự thất bại Tết Mậu Thân buộc Việt Cộng đi đến hoà đàm để củng cố lại lực lượng, và cũng là nối tiếp chiến tranh theo chiến thuật mới – lại cũng học nơi người anh lớn, Thiên triều xưa: “đàm đàm, đả đả”, hết đánh lại đàm, vừa đàm vừa đánh. Vì ý định thực tế đó mà cuộc hoà đàm bắt đầu ở Paris ngày 7-5-1969 giữa Harriman và Xuân Thuỷ phải kéo dài qua những tranh luận về nguyên tắc, hình thức cứ tưởng là vô bổ như tìm hình dạng cái bàn dùng cho các phái đoàn ngồi tố cáo nhau. Thực ra thì những tranh cãi này cũng đem đến kết quả, là Hà Nội đưa được Mặt trận Giải Phóng ra trước chính trường quốc tế, sau những năm có đại diện quanh quẩn giữa các nước anh em và các nước có cảm tình cùng phe. Ngày 6-6-1969, Mặt trận thành lập Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hoà Miền Nam Việt Nam với Bộ trưởng Ngoại giao là Nguyễn Thị Bình, cháu ngoại Phan Châu Trinh – theo một cách thế trình diễn quen thuộc nhưng chứng tỏ vẫn luôn luôn mang lại hiệu quả. Chính phủ này được những người tạo dựng săn sóc tận tình, như có những đại diện (toà Đại diện mở cả ở Hà Nội) mang dáng vẻ sang trọng (xe cộ, áo quần…) hơn các nhân viên được coi là Đại sứ của Hà Nội. Tất nhiên với bên ngoài, chính phủ này có đủ lệ bộ, với ông Huỳnh Tấn Phát được đôn lên làm Chủ tịch, có những người trưởng ở các vai trò cần đến sự trình diễn lô liễu, như trường hợp bà Bộ trưởng Ngoại giao kia, như ông Bộ trưởng Thông tin và Văn hoá Lưu Hữu Phước để tuyên bố chính sách, còn ông Bộ trưởng Tư pháp Trương Như Tảng nằm bên trong thì thấy mình vô quyền. Cho nên vào hồi sau chỉ thấy hiện ra những người “thứ” phô trương trên các thông tin thấp thoáng: Thứ trưởng Y tế Dương Quỳnh Hoa, Giáo dục Hồ Hữu Nhựt, Thương binh Xã hội Bùi Thị Mè… bởi vì các Bộ trưởng đang có mặt tại Hà Nội, từ lâu! Tuy nhiên sự hiện diện của chính phủ này khiến cho những tay thiên tả thế giới – và cả những du học sinh thiên tả từ Miền Nam đi ra có thế để chống chiến tranh, kêu gọi hoà bình mà không phải mang tiếng bênh vực cộng sản lộ liễu. Hội đàm tiến triển bằng các tác động chiến tranh để đi đến những thương lượng ngầm mà người ta gọi là “đi đêm” từ tháng 1-1970, giữa hai nhân vật chính yếu là H. Kissinger, cố vấn của Tổng thống Nixon và Lê Đức Thọ, nhân vật của Bộ Chính trị, người thực sự điều khiển Mặt Trận rồi Chính phủ CH MNVN.

Chiến tranh trong giai đoạn này thường được gọi là Việt Nam hoá theo ngôn từ phổ thông trên báo chí từ lúc R. Nixon lên nắm quyền (2-1969) nhưng thực ra có thể nói đó là ý niệm phải có của nhà chính trị Mĩ từ lúc đem quân can thiệp trực tiếp, phải tính đến lúc rút ra, trao quyền chủ động cho chính quyền họ giúp đỡ. Từ sau cuộc Tổng tấn công, Washington từ chối tăng viện cho chiến trường nhưng đồng ý tăng ngân sách quân viện để VNCH thành lập nhiều đơn vị mới, gánh vác trách nhiệm chiến đấu thay thế quân đội Mĩ. Từ quân số 765 000 cuối năm 1968, VNCH có 1 triệu quân cuối năm 1971 với hơn 540 000 Địa Phương Quân và Nghĩa Quân. Quân chính quy được trang bị như lính Mĩ, trừ các loại vũ khí chiến lược. Chủ thuyết Nixon: chỉ giúp phương tiện chứ không cung cấp nhân lực chống cộng sản, nhịp độ rút quân gia tăng nhanh chóng không tuỳ thuộc vào khả năng quân VNCH hay tình hình chiến trường. Vì thế, theo dấu hiệu nhượng bộ phía cộng sản như thấy ở Hoà đàm Paris, họ phải gặp những chống đối của VNCH tuy vẫn tiến hành nhịp độ rút quân bởi vì sức ép của tình hình chính trị nội bộ đòi hỏi. Từ 549 500 quân hồi tháng 6-1969, đến tháng 12-1972 Mĩ chỉ còn 27 000 quân trong đó là 400 quân tác chiến. Và đó cũng là chỉ dấu cho đối phương ươn ngạnh hơn để tiếp tục chuẩn bị đưa cuộc chiến lên tầm mức cao hơn.

Tuy nhiên trong toan tính rút lui, người Mĩ vẫn phải lo làm áp lực mạnh trên hai vùng giáp Lào nơi có một chính phủ yếu ớt, và Cambodge nơi có một chính phủ thù ghét Duôn, chỉ đến khi giật mình thấy nguy cơ cộng sản thì đã muộn. Trong tổng số bom thả ở Đông Dương thì hai phần ba là ở Hạ Lào. Quốc trưởng Sihanouk ngầm cho phép Mĩ thả bom trên đất mình nhưng đã đến lúc quân Cộng sản Miên mạnh hơn, đẩy Sihanouk vào thế suy yếu khiến có cuộc đảo chính của Lonnol (3-1970), mở cửa biên giới cho các cuộc hành quân Toàn Thắng (5/1970-3/1971) của Sài Gòn truy bức quân Việt Cộng sâu vào đất Miên. Vai trò của Mĩ ở đây lại cũng bị hạn chế vì các cuộc biểu tình phản đối việc “xâm lăng” Cambodge, đồng thời Quốc hội bỏ phiếu ngăn chặn quân viện cho Lonnol. Trong lúc đó thì tình hình viện trợ của các nước XHCN cho Miền Bắc chỉ có tăng chứ không có giảm. Chỉ nhìn riêng hai nước chủ yếu, lấy con số gợi ý niệm chung chung thì thấy khối hàng viện trợ quân sự của Liên Xô trong giai đoạn 1965-68 là 226 969 tấn, giai đoạn 1969-72 là 143 793 tấn, giai đoạn 1973-75 là 65 601 tấn. Viện trợ Trung Quốc trong các giai đoạn tương đương là: 170 798 tấn, 761 001 tấn, 620 354 tấn, số lượng vượt trội Liên Xô ở các giai đoạn về sau, không trách họ nhiếc móc là phản bội!

Với cuộc hành quân Lam Sơn 719 của VNCH tấn công qua Hạ Lào (8/2-9/4/1971) không đạt kết quả ngăn chặn, Hà Nội mở cuộc tổng tiến công lớn nhất trong suốt chiến cuộc, bắt đầu ngày 30-3-1972, được giới báo chí phía Nam mệnh danh là Mùa Hè Đỏ Lửa. Trên vùng Tây Nguyên, quân Bắc tràn vào thị xã Kontum (14-5), phía nam họ chiếm Lộc Ninh (7-5), bao vây An Lộc (24-4) chận tiếp viện từ Sài Gòn trên quốc lộ 13. Lần này thì không còn e dè gì nữa, họ chiếm Quảng Trị (2-5) với đạn pháo bắn tới tấp trên các địa điểm phòng thủ khiến cả một trung đoàn trưởng vốn từng là anh hùng mặt trận phải quy hàng, và quốc lộ từ Quảng Trị nổi danh là Đại lộ Kinh hoàng vì cảnh thảm sát dân chúng chạy trốn ở đấy. Còn có chiến dịch Đồng bằng sông Cửu Long và chiến dịch Bắc Bình Định với quy mô nhỏ. Cuối cùng quân Sài Gòn phản công với sự trợ giúp của B52, chiến trường Kontum kết thúc 30-5, giải toả An Lộc (26-6), chiếm lại cổ thành Quảng Trị tháng 9-1972. Dù không thành công như ý muốn, cuộc tấn công cũng đem lại một vùng đất đai cho chính phủ CHMNVN có thực thể trên trường ngoại giao, cùng với sự hiện diện của các binh đoàn thiện chiến, mang vũ khí tối tân của Miền Bắc đứng chân phía nam vĩ tuyến, liền lạc với Miền Bắc, làm cơ sở đòi hỏi cho người Mĩ nhượng bộ trong Hiệp định Paris kí ngày 27-1-1973.

Tất nhiên đây là chiến thắng của Hà Nội nhưng không phải suôn sẻ như lịch sử viết theo Văn kiện Đảng cho thấy, kể cả trong cuộc chiến thắng được gọi là “Điện Biên Phủ trên không”. Mĩ buông bỏ Miền Nam mà dư luận đã chán ngán nơi này, vì đã chuyển chính sách sang việc kết thân với Trung Quốc (Nixon thăm 21-2-1972) để chống Liên Xô nhưng họ không thể hạ bệ Nguyễn Văn Thiệu theo đòi hỏi của Hà Nội được. Họ không thể kí hiệp định với hai bàn tay trắng. Họ nôn nóng lấy lại tù binh nhưng Tổng thống Thiệu cũng là con bài đi theo mục đích đó, nên việc giữ lại ông ta để khỏi xảy ra đổ vỡ trong chính quyền Miền Nam, cũng là thành quả từ những trận thả thuỷ lôi phong tỏa Hải Phòng, từ những đám mưa bom B52 tuôn xuống Hà Nội. Thế mà hiệp định Paris được kí kết cũng nuôi ảo tưởng về một nền hoà bình được tái lập. Kissinger thuận tay lãnh nửa giải Nobel Hoà bình không do dự nhưng Lê Đức Thọ từ chối, viện cớ “hoà bình chưa thật đến ở Việt Nam”, theo cách phát biểu chính trị uyển chuyển dành cho lối thoát của những âm mưu sâu kín. Như đã rõ, chữ “hoà bình” phát biểu ở đây được hiểu theo nghĩa chiến thắng của phe phái mà không mâu thuẫn với tình thế trước mắt theo cách hiểu của những người phát giải. Như thế sẽ không có gì phải biện minh khi Đảng đã không dừng lại trước lúc thẳng tiến đến Sài Gòn để đổi tên một trung tâm, không những mang đầy dấu vết thuộc địa mà còn chứa chấp những dạng thức được cho là không truyền thống của một đất nước thống nhất. Nửa triệu đôla giải thưởng cho một đất nước vay mượn lung tung không tính chuyện trả nợ, dân chúng phải ăn cám (Tô Hoài 2007) mà bị từ chối, đủ biết sự hấp dẫn quyền lực của các lãnh tụ cao đến mức độ nào.

Làm sao ngưng tiếng súng khi có hai lực lượng đánh nhau không nương tay trên những vùng không những xen kẽ nhau mà còn mập mờ quyền lực tuỳ thuộc thời gian sáng tối, âm mưu hiển hiện hay khuất lấp trên đó nữa? Loại Hoà bình da beo đó dẫn ngay đến những cuộc tranh chấp có vẻ trẻ con nhưng chết (nhiều) người, khi tính chất lãnh thổ tuỳ thuộc được Mặt Trận định nghĩa là nơi nào có treo cờ của họ, để chống trả luận điệu Sài Gòn chế riễu một chính phủ không có đất đai! Thế là có việc tung cờ và tịch thu cờ Mặt trận của lính Sài Gòn, bởi vì họ không có thói quen tự động may cờ như đối phương. Có những cuộc giành dân lấn đất trong thế đồn trại bị bao vây khiến quân đội Sài Gòn cuối cùng phải rút lui, như ở Tống Lê Chân. Uỷ ban kiểm soát đình chiến tỏ ra bất lực khi Việt Cộng thấy rõ đang trên đà thắng thế. Họ được giữ số quân xâm nhập vì không phải là “quân ngoại quốc”. Từ lúc kí hiệp định đến ngày tấn công Ban Mê Thuộc họ đã chuyển 150 000 quân vào nam, lập kho chứa 200 000 tấn vũ khí, quân nhu trên vùng chiếm đóng, thiết lập đường ống dẫn dầu đến cuối vùng Tây Nguyên trong khi xe cộ chạy cả ban ngày trên đường Hồ Chí Minh… “Trong lịch sử chống Mĩ cứu nước, chưa năm nào số lượng bộ đội Miền Bắc vào Miền Nam lại đông như thời gian [1973-1974] này” (Lịch sử Việt Nam 1954-1975, 2010). Cho nên máy bay của Uỷ ban Quốc tế bị bắn rơi, nhân viên phi hành bị tử thương khi quan sát đường xâm nhập ở vùng Khe Sanh (7-4-1973), nhân viên phái đoàn Canada bị bắt giữ, hăm doạ (7-1973) phải rút lui, nhường chỗ cho Iran thay thế làm một công việc cho có đủ hình thức, vào lúc tình hình cho thấy bản kí kết đã trở nên vô nghĩa.

Trong đà tiếp tục cuộc chiến với ưu thế thấy rõ, các lãnh tụ nông dân hoá của Hà Nội không mọt lần nhìn ra biển khơi, có lẽ cho đến khi Trung Quốc thấy sự buông bỏ của Mĩ mở đầu cho triển vọng mở rộng cương vực trên biển nên ngày 19-1-1974, cho quân chiếm phần còn lại trong quần đảo Hoàng Sa / Paracel, nhóm Cressent của VNCH đã được trấn đóng từ 1956. Đã lỡ công nhận Tây Sa, Nam Sa không thuộc Việt Nam (nhắc lại: Bộ trưởng Ngoại giao Ung Văn Khiêm 1956) mà là của Trung Quốc (nhắc lại: Thủ tướng Phạm Văn Đồng 1958), Hà Nội đành để đàn em Mặt Trận lên tiếng xuê xoa “sẽ thương lượng trên bàn hội nghị”. Có lẽ với tiền lệ Bạch Long Vĩ, và cũng bởi ngập sâu vào sự tuyên truyền về tinh thần quốc tế vô sản cao vời đến thành mê muội (“còn hơn là đảo nằm trong tay Mĩ nguỵ”), chắc những người này cũng tin rằng điều mong mỏi kia sẽ trở thành sự thật, như còn thấy trên báo Sài Gòn Giải Phóng sau 1975. Dư hưởng của cơn mê muội quốc tế đó sẽ đưa đến kết quả là những cuộc thảm sát năm 1978 ở biên giới tây nam (Ba Chúc, Tây Ninh) và sự bất ngờ khởi đầu của cuộc chiến 1979, dù đã nghe tiếng gầm không giấu diếm của Đặng Tiểu Bình. Cho nên chắc Hà Nội cũng không biết chủ trương chiếm đảo của VNCH là bước chiến lược bành trướng mới của cơ quan đầu não Trung Quốc, mở đầu tuy nhỏ nhưng triển vọng biển khơi thật vô cùng, cũng đủ bù đắp với công trình tận tuỵ tiếp viện bao nhiêu năm. Tuy nhiên, thực tế đánh động cũng khiến cho các lãnh tụ quân sự, vào những ngày tháng 3-1975, cho quân ra chiếm các đảo của Trường Sa mà họ vẫn gọi là Nam Sa như trên các bản đồ của Miền Bắc. Có điều mấy hòn đảo nhỏ nằm ngay ngoài khơi Đà Nẵng, không chỉ dừng lại phạm vi 12 hải lí đòi hỏi như năm 1958 nữa mà toả rộng ra, bên dưới chận bắt ngư dân thu hẹp ngư trường Việt, đúng là đủ để bóp mũi CHXHCN VN thống nhất, thấy đòn 1979 càng lâu càng thấm.

Thế rồi có chủ trương đánh chiếm Phước Long đề ra từ tháng 4-1974, dẫn đến việc chiếm đóng một tỉnh lị của Sài Gòn ngày 6-1-1975, mưu tính đặt một thủ đô cho một chính phủ bị chê là không đất đai, mở rộng hành lang biên giới tự do suốt sườn phía tây mà không thấy phản ứng của người Mĩ. Thời gian này thì cũng vừa đủ giữ thể diện cho người Mĩ buông bỏ, cho “một khoảng cách vừa phải”, a decent interval, như văn chương chính trị hậu chiến tung ra lời bào chữa. Và Ban Mê Thuộc sắp thành cũ kĩ để Buôn Ma Thuột đưa lên sách vở chiến trận lừng danh ngày 13-3-1975, đánh từ trong ruột đánh ra!

Sự sụp đổ nhanh chóng của VNCH là một bất ngờ cho những tay chính khách cứ nhìn vào những con số chứ không phải bận tâm theo dõi thời cuộc tỉ mỉ. Sự đổ vỡ từ quyết định “rút lui chiến thuật” của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đẩy trách nhiệm cho ông cũng khiến ông được nhắc một cách lạc lõng khi Kim Dung sửa lại bộ Anh hùng xạ điêu. Thật ra đây chỉ là hồi kết cuộc của chuyện đàn chuột lo trốn tàu đắm. Cả một tâm lí chủ bại với ý tưởng “người Mĩ tháo chạy” khiến mọi người thấy phải tự lo lấy thân từ lâu. Tình trạng tham nhũng lan tràn cũng chỉ là truyền thống tiếp nối cho kẽ hở quyền lực.

Vào hồi tàn cuộc mà chưa đến cơn trốn chạy thì những kẻ khôn ngoan đi tìm con đường đón gió. Tiếng gọi hoà bình không được hiểu cùng một nghĩa như nhau. Trong khi người cộng sản làm chính trị chuyên nghiệp, hiểu hoà bình là cuối đường của sự chiến thắng thì với những người coi cuộc sống chính trị – của người khác hay chính mình dấn thân, là trò chơi nay làm mai bỏ thì hoà bình có nghĩa là mệt mỏi buông thả, và ai cản trở cũng đều bị coi là đi ngược đạo lí của “quần chúng nhân dân”, phải bị loại trừ. Chưa kể với một lớp người “vô tư” khác thì hoà bình là xuống đường mơ “làm loài bồ câu trắng”, ca hát khơi khơi. Hoà đàm Paris đem lại lợi thế ngoại giao to lớn cho người cộng sản trong lúc người Mĩ muốn buông tay. Không phải chỉ các cố vấn Mĩ trái ý với Kissinger, thấy ra điều khoản chịu để quân Bắc còn lại dưới vĩ tuyến 17 là điểm chết của VNCH. Người nào có chút quan tâm cũng biết như thế nhưng Tổng thống Thiệu to tiếng, ương ngạnh thì không những gặp phản ứng quyết liệt từ phía Mĩ mà còn hiện diện trước dư luận như một kẻ hiếu chiến. Ông ta vẫn còn nắm quyền đó nhưng đã trở thành con người bị cô lập. Chung quanh, người ta đang lo tìm chốn nương thân.

Phản đối ở trung tâm quyền lực (Quốc hội) đến từ mọi phía theo tính chất quen thuộc của chế độ đại nghị, là người dân cử coi như lúc nào cũng có bổn phận phải chống chính quyền, ai không làm như vậy thì được ghép vào thành phần “gia nô”. Một số dân biểu, nhân viên chính quyền, dân trí thức vào “Khu”, bịt mặt chừa hai lỗ mắt như của đảng KKK để nghe lời thuyết phục của ông Nguyễn Văn Linh, hay một ai đó, phổ biến chính sách hoà hợp hoà giải của Mặt trận. Dân biểu móc nối với người quen, thân phía bên kia mà không thấy mình là phản bội, dù là vào hồi tàn cuộc cũng chui vào “hộp” hay bỏ chạy như ai. Dân biểu Ngô Công Đức, cháu Giám mục Nguyễn Văn Bình, đủ thế lực đâu đó để chủ trương đàm phán với Mặt trận theo một diễn biến chính trị đầy kịch tính trên thềm Quốc hội, lên máy bay ra vào nước như đi chợ mà đòi huỷ bỏ chế độ có ông làm đại biểu. Phản đối tung ra tới tấp. Một ông linh mục cũng có thể kéo người biểu tình chống tham nhũng, Lm. Nguyễn Ngọc Lan chủ trương báo Đứng Dậy (thật oai) ca tụng cộng sản công khai, mắng quân đội Miền Nam là lính đánh thuê. Một ông linh mục khác, Trương Bá Cần (Trần Bá Cường) in sách trình bày Hai mươi lăm năm kiến thiết chủ nghĩa xã hội ở Miền Bắc viết theo loại sử liệu, dễ thấy là quảng cáo cho chế độ ngưỡng vọng nhưng người ta vẫn cứ tán dương. Dậu đổ bìm leo, cứ đòi bãi bỏ kiểm duyệt, “tự do báo chí” khiến các kí giả, chủ báo kéo theo nhân sĩ biểu tình Ngày kí giả ăn mày (10-10-1974), ồn ào có mặt ông Sơn Nam nhát nhúa mà ranh mãnh bên cạnh giáo sư Lí Chánh Trung “can đảm”, có ông Chu Tử không nhớ chuyện Việt Cộng bắn hụt, có bà Ngô Bá Thành (Phạm Thị Thanh Vân) hò hét cho Phụ nữ Đòi quyền sống giành chùa cho sư bà Trúc Lâm Nương mơ thời thượng nguơn cộng sản, cùng đòi truất phế Tổng thống, thi hành Hiệp định Paris với Nguyễn Đình Đầu (nhóm Trí Việt), Nguyễn Long (Dân tộc Tự quyết!), Trần Ngọc Liễng (của thời Phong trào Hoà bình Nguyễn Hữu Thọ). Và ông Hồ Hữu Tường, bị thời thế bỏ xa, vẫn còn mơ mộng dẫn đạo một nền văn minh, văn hoá không phải là “quái hoá” cho Việt Nam, được thực hiện bởi những người rồi sẽ đưa ông vào cõi chết… Phía xa, trong những ngày chống giữ cho Huế, Tỉnh trưởng Thừa Thiên thấy các chùa treo khẩu hiệu “Xin đừng bắn người anh em ruột thịt của chúng ta”, nghĩa là kêu gọi buông súng đầu hàng!

Không còn quần chúng, Tổng thống Thiệu tập trung quyền hành từ 1970, gom theo hệ thống quân dân sự diện địa khiến bộ Tổng Tham mưu trở nên thừa. Ông Tham mưu trưởng nằng nặc đòi từ chức, không được, cứ vác sách đi học Cử nhân Văn khoa trong lúc quân số phải giảm vì đã có hoà bình (!), chiến trường vẫn bề bộn mà đạn bắn phải theo cấp số hạn định, đến tháng 4-1975 thì chỉ đủ dùng trong một tuần lễ – cũng chính ông Tham mưu trưởng nhớ lại. Cuộc “di tản chiến thuật” rút khỏi Cao nguyên là bắt buộc nhưng thực hiện vụng về khiến làm tan rã từng binh đoàn, cả đến những đơn vị tổng trừ bị, nên trở thành dấu hiệu sụp đổ toàn vẹn để Hà Nội thay đổi ý định, không chờ đến cuộc bầu cử Tổng thống Mĩ năm sau mà mở chiến dịch Hồ Chí Minh ngay trong năm 1975. Cuộc cờ đến hồi tàn thì không tránh khỏi nhưng ngay đến lúc này, cái nhanh nhảu của Thế giới tự do, dựa trên loại lí tưởng không kể đến cái chết của người khác: Ai cũng có quyền hưởng sự tự do thông tin, “lí tưởng” ích kỉ đó cũng góp phần làm cho Sài Gòn sụp đổ nhanh chóng hơn. Có hình ảnh nào cho thấy sự tàn tạ kinh hoàng hơn hình chiếc máy bay chở người từ Đà Nẵng có cái càng không co vào thân được vì một xác người đã nằm chắn trong ấy? Nhiều thành phố Miền Trung được phóng viên BBC, theo tập tính tranh giành ưu tiên, đã cho thất thủ khi quân tướng Văn Tiến Dũng còn chạy bộ ngoài xa. Cuối cùng thì một trận Xuân Lộc gắng gượng cũng không cứu vãn được tình thế. Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu phải nhẹ mình bước xuống ngai, dành chỗ cho những người thay thế, như vua phường chèo hồi mạt vận để khó có thể trách thêm những nhân vật cao cấp khác tuôn đùa bỏ chạy.

Sáng ngày 30-4-1975, Tổng thống Dương Văn Minh hạ lệnh buông súng, những viên tướng tá tự tử, lính chĩa súng vào nhau bóp cò chỉ là chút phản ứng của tinh thần kiêu hãnh muộn màng. Về phía khác, những người khao khát quyền lực đã thấy được đỉnh cao danh vọng. Trong khuất lấp, “người gián điệp tài ba” Phạm Xuân Ẩn phải lôi gia đình đã gởi đi Mĩ trở về, vì biết rằng trở đầu hay tiếp tục thì may mắn cũng không thể đến với ông mãi mãi. Lịch sử là con đường một chiều mà mỗi người chỉ có vai trò trong một giai đoạn. Những người đeo đuổi ước mơ về một thế giới trong ảo tưởng, đến đây cũng tưởng là đã đạt tới hiện thực. Khối tượng Thuỷ quân Lục chiến sẽ bị phá bỏ, không còn chỗ để chứng giám lòng nhiệt thành của hai nhà giáo Pháp leo lên treo cờ Mặt trận (25-7-1970) nhưng còn A. Menras trở thành Hồ Cương Quyết (1-12-2009) chống đỡ cho Hoàng Sa, như chứng tích lí tưởng lạc loài ân hận của một thời chiến tranh. Cầu rốt lại là được, ước rồi cũng đã thấy, dù là phải vượt qua những đổ vỡ kinh hoàng tưởng chừng không thể chịu đựng nổi. Và cả không lường được những hậu quả không ngờ trong tương lai.

Bởi vì với lịch sử thì cái đuôi nào cũng là một sự mở đầu mới. Chiếc xe tăng đầu tiên húc đổ cánh cửa Dinh Độc Lập mở sẵn ngày hôm đó phải được đổi bằng chiếc khác, cho có người chỉ huy thể hiện đúng lập trường giai cấp hơn – và sự thật lịch sử nhỏ bé này lại cũng phải có người ngoại quốc mới nhận ra để đính chính. Cho nên quá khứ oai hùng sẽ đè nặng vào tương lai ì ạch rộng mở. Lúc con người cho là kẻ tình cờ đại diện phe chiến thắng chấp nhận đầu hàng (Bùi Tín) thấy ra nẻo khác, lịch sử vẫn tiếp tục với những người ông bỏ lại. Và để ngay chính những con người vượt thoát được như ông, muốn nhận ra cơn mộng du 30 năm đã qua, cũng không thể gọi là dễ dàng.

 

PHỤ LỤC

1. Chiến tranh và hồi tưởng

Quà tặng trong chiến tranh

Em tặng anh hoa hồng
chôn trong lòng huyệt mới
em tặng anh áo cưới
phủ trên tấm mộ xanh

Anh tặng em bội tinh
kèm với ngôi sao bạc
chiếc hoa mai màu vàng
chưa đeo còn sáng bóng

Em tặng anh tuổi ngọc
của những ngày yêu nhau
đã chết ngay từ lúc
em nhận được tin sầu.

Anh tặng em mùi máu
trên áo trận sa trường
máu em và máu địch
xin em cùng xót thương.

Em tặng anh mây vương
mắt em ngày tháng lụi
em tặng anh đông giá
giữa tuổi xuân cuộc đời

Anh tặng môi không cười
anh tặng tay không nắm
anh tặng mắt không nhìn
một hình hài bất động

Anh muôn vàn tạ lỗi
xin hẹn em kiếp sau
mảnh đạn này em giữ
làm di vật tìm nhau.

8/1969

 

Có phải tôi không?

Có người gửi tôi tấm hình trên mạng
cô gái Sài Gòn áo trắng khăn tang
đi trong Sài Gòn bốn mươi năm cũ
cô gái trong hình có phải tôi không?

Ô hay tại sao tự nhiên tôi nhận
Sài Gòn cả trăm cô gái giống tôi
cả ngàn khăn tang trên đầu goá phụ
goá phụ còn hồng một vệt son môi

Ô hay tại sao tự nhiên tôi chối
Sài Gòn ngày ấy trắng toát khăn tang
những cô trẻ lắm mắt đầm đìa lệ
theo tay ai dắt đi vào nghĩa trang

Sài Gòn bây giờ khói nhang đã tắt
goá phụ ngây thơ tóc đã phai xanh
nhìn lại tấm hình nhận ra cô gái
khẽ gọi tên cô Trần Thị Chiến Tranh

4-2009

Trích trong Trần Mộng Tú, Thơ tuyển Bốn mươi năm 1969-2009
Tác giả tự xuất bản 2009
(Lời xin phép trích dẫn ghi nơi đây)

 

2. Nhận định, thực chứng lan man

Mộng và Thực:

“Dù phải chiến đấu 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa, chúng ta cũng kiên quyết chiến đấu đến thắng lợi hoàn toàn”. (Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố ngày 20-7-1965, vào dịp kỉ niệm kí hiệp định Genève).

“Lãnh tụ Á Châu nào năm 1967 tuyên bố không chịu khuất phục dưới bom đạn?” – Hồ Chí Minh. (Alex Trebex, chương trình Jeopardy! tối 28-9-2011).

“Giới lãnh đạo VN DCCH nắm chắc mục tiêu ‘dân tộc – cộng sản’ thẳng tiến vào Nam đến chiến thắng tận Sài Gòn, không dừng bước trước bất kì trở ngại nào và không ngần ngại trước bất kì hi sinh nào”. (F. Guillemot, sử gia Pháp).

“Họ bắt con người phải hi sinh quá nhiều. Sự hi sinh trở thành vô bờ bến, không thời hạn. Vì thế sự hi sinh đã trở thành những cực hình, chứ nó không mang tính chất tự nguyện của cách mạng”. (Xuân Vũ, nhà văn hồi chánh, tác giả Xương trắng Trường Sơn, Đường đi không đến…)

“Hồi đó có thật nhiều nhiệt tình đến kì lạ. Người Mĩ tưởng rằng cứ thả nhiều bom thì chúng tôi sẽ nhanh chóng quỳ gối đầu hàng. Nhưng bom đạn lại làm tăng tinh thần chúng tôi hơn là làm lụn bại. Thế mà bây giờ từ lúc hết chiến tranh, bom đạn không còn rơi nữa, chúng tôi lại mất hết nhiệt tình ngày xưa. Chúng tôi cứ than vãn về thiếu thốn thực phẩm, về nơi ở chật chội… Sự thay đổi thật là lạ lùng và nghịch thường (Tôn Thất Tùng, bác sĩ riêng của Hồ Chí Minh nói với S. Karnow khoảng 1981).

“Các anh coi, các phong trào ở đô thị đã thành công đến mức kì diệu – tất cả: trí thức, sinh viên học sinh, Phật Giáo. Chỉ có công nhân là xệ quá!” (Trương Như Tảng thuật chuyện Trần Bạch Đằng / Tư Méo lỡ lời trong một buổi báo cáo về phong trào tranh đấu ở “vùng địch”, và bị hạ tầng công tác sau đó).

“Các sư đoàn 1, 3, 5, 7, 9 (của Mặt Trận) đâu cả rồi?” (Câu hỏi ngớ ngẩn của “Bộ trưởng” Tư pháp Cộng hoà Miền Nam Việt Nam, Trương Như Tảng, đưa ra với Tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh, Văn Tiến Dũng, trên khán đài duyệt binh ngày 15-5-1975, ở Sài Gòn đã đổi tên Tp. Hồ Chí Minh).

“Mặc kệ bọn Bắc Kì muốn làm mưa làm gió gì thì làm”. (Dương Quỳnh Hoa, Bộ/Thứ trưởng Y tế CH MNVN hờn dỗi trả lời phóng viên ngoại quốc, được kể trong một số The Vietnam Experience, trong hồi kí của Trương Như Tảng).

Di chứng lịch sử của văn chương trường ốc và lối mòn dẫn đến tương lai:

“Bác Hồ ta đó chính là Bác Mao” (Chế Lan Viên);

“Liên Xô Trung Quốc với mình anh em / Tình thân máu chảy ruột mềm” (Tố Hữu);

“Bên ni biên giới là nhà, Bên kia biên giới cũng là quê hương” (Tố Hữu).

Tuyên truyền về chủ nghĩa yêu nước hàm chứa ý thức kì thị chủng tộc Di Man: “Rớt Tú tài anh đi trung sĩ / Em ở nhà lấy Mĩ nuôi con / Đến khi yên nước yên non / Anh về anh có Mĩ con anh bồng”.

Kết quả của sự thách thức “Ai thắng ai” về mặt lí tưởng xã hội như được chứng thực sau tháng 4-1975 cho nên có sự thanh toán đối với lịch sử trong các hành động phá mả Bá Đa Lộc “Lăng Cha Cả”, dời nghĩa trang Mạc Đỉnh Chi lập Công viên Lê Văn Tám, giải tán nghĩa trang Quân đội Gò Vấp, bắn nát tượng Phan Thanh Giản, đổi tên trường Phan Thanh Giản, Petrus Ký, Gia Long, Đồng Khánh, đổi tên đường phố… Ý thức bộ tộc, thù hận Di Man còn thấy trong hành động thù ghét “cái lạ”, như trong sự việc phá huỷ tượng đài Bông Lúa Con Gái cao 18 m của (Nguyễn) Mai Chửng (1940-2001), đặt ở Long Xuyên làm biểu tượng cho vùng lúa đồng bằng Cửu Long. Hay trong sự cường ngạnh về việc phân biệt chính nguỵ bên trong, chính sách kiều vận bên ngoài mà đề phòng “diễn biến hoà bình” của di man, tạo nền tảng vững vàng cho chế độ mới.

bài đã đăng của Tạ Chí Đại Trường


5 bình luận »

  • Bùi Xuân Bách viết:

    Nếu khen hay thì trong trường hợp này lại là “khen phò mã tốt áo”,nên tôi không dám, nhưng vẫn phải thốt ra là “quá hay”.
    Tên tuổi của sử gia Tạ Chí Đại Trường đã được nhiều người biết. Trong hai chương mới đăng này, bằng ngòi bút khá “hoạt kê” tác giả đã dựng lại cả bức tranh VN từ 1945 đến 1975 trên cả hai miền đất nước.
    Cái tài tình là chỉ vài nét chấm phá mà đủ tái hiện toàn cảnh, rất thích hợp cho những người “ngoại đạo” (không phải chuyên ngành Sử) như chúng tôi, hoặc các bạn trẻ chưa kịp có thời gian đi sâu vào tìm hiểu các sự kiện.
    Bài khá dài nhưng cần phải đọc vì “dân ta phải biết Sử ta” mà, tôi nghĩ vậy.

  • Phan Đức viết:

    Khảo luận chính trị như sử gia Tạ Chí Đại Trường thì quả là hết sức sâu sắc và
    thấu đáo vì ông không những căn cứ vào những sự kiện bên ngoài mà còn suy luận
    dựa vào những gì xảy ra ở bên trong, ở hậu trường hay trong chỗ kín đáo, bí mật.
    Do đó, chúng ta thấy rõ toàn diện cuộc chiến tranh VN thời ấy.
    Có điều là một vài tiểu tiết sai như sau ông cần đính chính, dù không đáng kể:
    -Nguyễn Đại Thức (trung uý), chứ không phải Trần Đại Thức.
    -Trần Quang Lộc (tác giả ‘mặc áo the,đi guốc mộc’), thay vì Trần Quang Long.
    -Trận đánh Junction city, chứ không phải Johnson city.
    Trân trọng

  • Trần Lâm viết:

    Kể từ ngày được làm quen với cuốn Thần, Người và Đất Việt của Tạ Chí Đại Trường trong một ngôi chùa cách đây gần 20 năm về trước, tôi thường đọc khá kỹ những gì do vị sử gia này viết. Bởi vậy nên mới có một thắc mắc nhỏ như sau:

    Sử gia Tạ Chí Đại Trường viết rằng trong Biến Cố Mậu Thân tại Huế Cộng Sản đã “giết cả Lm. Bửu Dưỡng từng xác nhận với bổn đạo là đã cầu kinh cho Hồ Chí Minh!”

    Điều này hơi lạ, vì trong cuốn Mậu Thân 68: Thắng hay Bại?, Văn Hóa, Houston, tái bản lần thứ hai, 1998, nơi trang 355, Chính Đạo Vũ Ngự Chiêu có trích dẫn một bản báo cáo do Tướng Edward Lansdale gửi Đại sứ Elsworth Bunker ngày 20 tháng 4 năm 1968. Trong đó Lansdale cho biết ông vừa gặp và nói chuyện với LM Bửu Dưỡng tại Sài Gòn … Xin xem bản phóng ảnh của trang sách nói trên ở dưới đây:

    https://docs.google.com/View?id=dwcmrfd_86ffprsrdx

    Như vậy là như thế nào? Phải chăng ở Miền Nam Việt Nam lúc đó có 2 LM Bửu Dưỡng khác nhau?

  • Phan Đức viết:

    Nhân bác Trần Lâm thắc mắc, tôi xin phép được góp ý. Theo như tôi biết, đây cũng là
    một sai sót về chi tiết (mà tôi đã quên kể ra) của TCĐT.
    Không phải LM Bửu Dưỡng, người từng làm phó Viện trưởng Đại học tư Minh Đức mà là
    linh mục Bửu Đồng, anh của LM Bữu Dưỡng.

  • Trần Lâm viết:

    Xin cảm tạ lời giải đáp của độc giả Phan Đức về hai LM Bửu Đồng và Bữu Dưỡng.

    Nhân tiện cũng xin lưu ý tác giả TCĐT đến hai chi tiết khác nữa:
    1/ “Bộ trưởng Quốc phòng Dean Rusk”: ông ta là Bộ trưởng Ngoại Giao.
    2/ “Jh. Kerry (ứng cử viên Tổng thống Mĩ 2006)”: đó là năm 2004.

    Chuyện lặt vặt nhưng nếu có thể loại được chúng thì nên loại.

Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006*2018 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)