Trang chính » Biên Khảo, Học Thuật, Lịch Sử, Nghiên Cứu Email bài này

Bài Sử Khác Cho Việt Nam – Chương XVIII

 

 

CHƯƠNG XVIII:

CUỘC CHIẾN GIÀNH ĐỘC LẬP: CƠN MỘNG DU 30 NĂM (I)

 

 

Thuộc địa Đông Dương sụp đổ trong thế tan rã của đế quốc phương Tây

Ngày (đúng ra là đêm) 9-3-1945 được ghi trong lịch sử là thời điểm quân đội Nhật Bản lật đổ toàn bộ chính quyền thuộc địa ở Đông Dương do người Pháp xây dựng trong hơn 80 năm. Tất nhiên là vì quân Nhật đã đóng ở Đông Dương từ 1940, đã đặt nhiều cơ sở thâm nhập, tạo dựng nhiều tầng lớp thân thuộc để có cơ hội thành công dễ dàng hơn nhưng sự thành công có dáng bất thần, chóng vánh của họ đã đánh mạnh vào uy tín của người Pháp trên phần đông dân chúng thuôc địa. Với người lớn tuổi, an phận thì đó là định mệnh, là Trời giáng! Người Pháp không thể xuất hiện trước mắt dân chúng thuộc địa với khuôn mặt oai phong, đáng kính nể như cũ nữa. Giáo dục chính trị về sau có làm đổi khác quan điểm nhưng với đương thời, cấp thời, sự tiêu huỷ chế độ thuộc địa của người Pháp đúng là bởi quân đội Thiên hoàng qua đêm 9-3-1945 đó.

Lật đổ chính quyền cũ thì người Nhật cũng không thể tự cai trị vùng đất họ chiếm được. Một chính quyền địa phương phải được dựng lên vì nhu cầu của tình thế nhưng không phải là bất chợt. Mối liên hệ Nhật Việt kéo dài trong hơn nửa thế kỉ vừa có tính đồng văn, vừa có tính lí tưởng như đã thấy với Phan Bội Châu và nhóm Đông Du cho nên không thể chỉ là tuỳ thuộc, nô lệ. Thời thế đặt vào tay ông Trần Trọng Kim để thành lập một chính quyền èo uột, sẽ bị vùi dập bởi quyền lực mới, điều đó không làm mất vị trí lịch sử bình thường của một giai đoạn chuyển tiếp ở khúc quanh lịch sử Việt Nam 1945. Người làm chính trị phải đi theo những điều kiện thực tế cho nên tướng lãnh Nhật ở Đông Dương không thể đem một Kì Ngoại Hầu Cường Để, dù được vọng tưởng, từ xa về làm Quốc trưởng trong khi có ông Bảo Đại đại diện trực tiếp quyền lực chính thống, đang ở tại Huế với cả một hệ thống thần hạ vẫn được nuôi dưỡng với ý niệm trung quân, ái quốc, được cả người Pháp đề cao để giữ gìn thuộc địa. Và có lẽ vì thế không thể có thủ tướng là một cựu Thượng thư thiên về Cường Để dù nhà vua còn lưu luyến: Ngô Đình Diệm. Một ông thủ tướng nhà giáo, học giả trong tình hình sôi sục chính trị đương thời, có lẽ là sự lựa chọn hợp lí nhất đối với người tướng lãnh Nhật tuy mang quân bắn giết, đi chiếm đất người nhưng cũng từng thấm nhuần phong thái Khổng Mạnh Thần Phật chung.

Vậy thì kết quả cuộc đảo chính của Nhật đêm 9-3, là ngày 11-3-1945 vua Bảo Đại tuyên bố xoá bỏ hiệp ước 1884, lập lại nền độc lập của vương quốc Việt Nam trong sự hợp tác với đế quốc Nhật Bản. Ông ra Dụ tuyên bố tự cầm quyền, giải tán Viện Cơ mật, mời nhân tài ra giúp nước, và cuối cùng Nội các Trần Trọng Kim ra đời, họp phiên đầu tiên ngày 7-5-1945 để hôm sau làm lễ ra mắt chính thức. Trong việc thu hồi lãnh thổ, Bắc Kì được sáp nhập vào đế quốc Việt Nam và có một khâm sai là Phan Kế Toại ngày 2-5-1945. Các nhượng địa Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng được thu hồi trong tháng 7-1945. Riêng Nam Kì vì là nhượng địa của Pháp, và vì có sự tranh giành của Cao Miên nên mãi đến ngày 14-8-1945 mới có khâm sai là Nguyễn Văn Sâm. Cũng theo dự tính thì sẽ có cuộc bàn giao các công sở Phủ Toàn quyền vào ngày 15-8-1945. Nhưng tất cả những hình thức tổ chức bên trên đó đã không bắt kịp với tình hình sôi động trong nước và quốc tế.

Chính phủ Trần Trọng Kim bị lớp người lật đổ kết tội bù nhìn của Nhật nhưng thành phần kết tập lại là tinh hoa của chế độ thuộc địa, những người cả về sau này vẫn phải được sử dụng vì nhu cầu tình thế, vì cần thiết trước khi bị rũ bỏ. Họ là bác sĩ, kĩ sư, luật sư, chuyên viên hành chính… được đào tạo từ các trường đại học mới, trong nước hay từ Pháp trở về, có thể vẫn còn giữ truyền thống xứ sở nhưng có nhiều người không mấy mặn mà với ông vua sắp trở lại ngôi vị thật. Sử gia ngoại quốc về sau gán cho một tên, không khoác áo chính trị, là tập họp của một “Chính phủ Kỉ trị” nhưng gọi như thế là làm mất thực chất xã hội của nó, và do đó không cho thấy sự suy yếu từ căn bản. Đó là những người có chút tiếng tăm thời thuộc địa, thuộc nhiều thành phần, địa phương khác nhau, vì có bằng cấp, vì một danh vị nào đó… nên nổi lên trong vòng quen biết của nhóm người ở tầng lớp trên của xã hội, và đột nhiên Đi vào chính quyền, như ông Phạm Khắc Hoè, Ngự tiền Văn phòng, thú nhận: “[N]ếu tôi được giao một ghế Bộ trưởng thì chắc tôi cũng vui lòng nhận và bái mạng như ai”. Vì thế trước những khó khăn hỗn loạn dồn dập, sự tan rã dễ xảy ra, dẫn đến việc từ chức của Nội các ngày 5-8-1945.

Tuy nhiên một sự kiện lịch sử mang tầm mức bao quát, dù hiện diện ngắn ngủi cũng không thể không có tác động đến đất nước chung quanh. Lần đầu tiên, sau bao nhiêu năm sôi sục đòi hỏi, danh từ Độc lập được công khai nói đến trong một bản tuyên bố chính thức. Những hạn chế cấp thời không ngăn được ước vọng nảy nở. Bắt đầu từ người trên. Như ông vua nhắn nhủ với ông thủ tướng: “Trước kia người mình chưa độc lập. Nay có cơ hội, tuy chưa là độc lập hẳn nhưng mình cũng phải tỏ ra có đủ tư cách độc lập… Vậy ông nên vì nghĩa vụ cố lập thành một chánh phủ để lo việc nước”. Thế là có những cố gắng tạo tính chính thống như lấy lại quốc hiệu, xác định quốc kì, quốc ca, có các cuộc vận động thu hồi chủ quyền, cử người đại diện lo liệu việc nước, nhắm “theo đuổi mục đích là hợp nhất các phần tử quốc dân để củng cố độc lập của quốc gia và gây mạnh cái tinh thần yêu nước trong mọi giai tầng xã hội…” Mọi chủ trương đề ra tuy không thể thực hiện hết nhưng đã có tác động mạnh mẽ tiếp theo, cả đến việc đục ruỗng, làm sụp đổ nội các vừa thành lập.

Thật ra thì như đã thấy, tuy đàn áp chống đối nhưng chính quyền Đông Dương trong thời chiến đã cổ động một tinh thần quốc gia Đại Nam trong vòng tay mẫu quốc Đại Pháp, và điều đó không phải không tạo nên một tinh thần quốc gia dân tộc chực chờ của thời kì tiếp nối, được biến cố 9-3 gây bùng phát không gì cản trở nổi. Chính phủ Trần Trọng Kim tiếp tục để phát triển các hội đoàn xã hội như Truyền bá Quốc ngữ, Hướng Đạo, Phong trào Sinh viên… tiếp tay với nhà nước cố sức cứu chữa nạn đói đã giết đến hàng triệu người chỉ vì khoảng trống quyền lực ở xứ Bắc sau cuộc đảo chính. Họ lập bộ Thanh niên để chuẩn bị cho một cơ cấu bộ Quốc phòng chưa được phép. Và trường Thanh Niên Tiền Tuyến ở Huế (2-7-1945) cũng như tập họp Thanh Niên Tiền Phong mang cờ vàng sao đỏ ở Sài Gòn (5-7-1945) sẽ là quần chúng nòng cốt cho chính quyền kế tiếp. Khuất lấp hơn, là chương trình Hoàng Xuân Hãn đặt nền tảng giáo dục bằng tiếng Việt, được sử dụng mãi đến khi một chương trình giáo dục mang tính giai cấp mượn lẫn lộn từ Liên Xô, Trung Quốc đến thay thế.

Tiếng kêu gào độc lập không dừng ở tầng lớp trên. Dù sao thì những đoàn thể được gọi là “thân Nhật” cũng có ước vọng độc lập, nên trong cuộc biểu tình khoảng 50 ngàn người ở Sài Gòn ngày 18-3-1945 do các nhóm Phục Quốc, Cao Đài, Việt Nam Quốc Gia Độc Lập tổ chức ủng hộ Nhật Bản, đã nêu các khẩu hiệu “Việt Nam độc lập”, “Việt Nam thống nhất”. Những lời hô hào cứu đói Bắc Kì gợi lại một tinh thần thống nhất tiềm tàng từ lâu. Và thế là “cơn sốt độc lập” không có gì kềm giữ đã tràn ngập trong dân chúng theo với những nhóm quá khích được loan truyền dưới nhãn hiệu kì bí của một hội kín mới: Việt Minh.

Chính trị gia của Pháp có thể bằng vào kinh nghiệm thực tế và chức vụ mà có những đối xử phe phái, thiên lệch nhưng nền giáo dục Pháp phần lớn mang tính cách nhân bản, vô chính trị nên đã truyền sang đám học trò thuộc địa lối sống bằng hoài vọng, có khi cũng chứa chấp đầy tính lí tưởng ngây thơ, như bày tỏ trong tôn chỉ Nội các mới: “theo đuổi mục đích duy nhất là xây đắp nền độc lập nước nhà, không tư vị cá nhân, đảng phái…” Thế là giải pháp cấp thời thứ nhất của nội các là “mở các nhà tù của thực dân Pháp phóng thích các chiến sĩ yêu nước…” để sau này ông Bộ trưởng Tư pháp Trịnh Đình Thảo có dịp kể công với “Cách mạng”. Quyền lực mới hẳn không đủ ảnh hưởng cùng khắp nhưng với chủ trương đó, và sự lỏng lẻo cai trị sau đảo chính đã khiến có những lần phóng thích của chính quyền, những cuộc vượt ngục của các đảng viên cộng sản đích thực hay mơ hồ, đào thoát về thôn xóm, bưng biền, rừng núi tổ chức lại cơ sở nổi dậy.

Tình thế phức tạp, rối rắm không thể giải quyết cấp thời được thì những bất mãn dồn nén sẽ đổ vào đầu những người lãnh trách nhiệm công khai, và những kẻ chực chờ chiều gió chính trị sẽ có ngay sự lựa chọn phe phái mà không ngại điều tiếng xu phụ. Huế với tính cách trung ương vừa hồi phục, không đủ quyền uy trước một Hà Nội ngỡ ngàng với địa vị thủ phủ tan rã trong đói khát hỗn loạn mà lại nắm trong tay phần sinh hoạt hướng dẫn dư luận của thời mới. Nằm dưới sự bảo trợ của chính quyền Pháp, những lời khinh miệt thô lỗ của Ngô Đức Kế đã được tiếp tục dưới dạng tân thời, ảnh hưởng từ báo châm biếm Pháp, như khi nhóm Phong Hoá Ngày Nay chế riễu Nguyễn Tiến Lãng, thư kí của Nam Phương Hoàng hậu: “Người ta thì lấy vợ hai, Còn mình thì lại đóng vai chồng nhì!” Cho nên cứ thế mà đến lúc này, báo chí ở đây, theo tính chất thôi thúc hàng ngày của ngành nghề được không khí chính trị mới buông thả kềm hãm, đã thấy có những lời công kích chính phủ về việc không giải quyết vấn đề cứu đói, vấn đề quan lại nhũng lạm… Sự đổi thay xuất hiện rõ rệt nơí tờ Thanh Nghị, từng là nòng cốt của Tân Việt Nam Hội (16-5-1945) lập ra để ủng hộ chính phủ mới. Tập họp trí thức thiên tả ghép mình vào những tổ chức thiên Việt Minh, như đảng Dân Chủ (30-6-1945) gây tác động đến các nhân vật của Nội các vừa thành hình khiến ông thủ tướng phải tức giận, lên tiếng mắng mỏ. Chính quyền yếu ớt dễ mở đường cho những đòi hỏi quá kích, lôi cuốn quần chúng nhiều hơn. Như đã nói, đảng Cộng Sản Đông Dương có cơ hội phát triển mạnh mẽ một phần vì khả năng tổ chức tự thân, phần khác cũng là vì ước vọng mang tính cách mơ mọng bao quát đầy khích động. Do đó, phong trào Việt Minh cướp chính quyền tháng 8-1945 vừa mang tính cách rầm rộ toàn quốc, vừa có tính chất địa phương tai ác, rối loạn.

Ở cấp bực trung ương, Hồ Chí Minh thoát khỏi sự kềm thúc của các nhân vật trẻ từng được Quốc tế đặt ở địa vị cao cấp hơn vì “cấp tiến” hơn, như Trần Phú, Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập… lúc này đã bị người Pháp diệt trừ. Bên ngoài biên giới, Hồ Chí Minh luồn được vào sự yểm trợ của Quốc Dân Đảng Trung Hoa như đã thấy, rồi lợi dụng lúc các chính quyền suy sụp, bỏ trống vùng biên giới – vùng mang danh “biên khu” trong văn chương, nên tổ chức được ở đây những toán người hoạt động tuyên truyền, quấy đảo. Và vì xuất hiện ở chính vị trí của truyền thống giao tiếp Trung-Việt nên chỗ dựa càng lúc càng tỏ rõ là đắc thế trong tình thế tiếp theo về sau. Nhưng ngay ở vùng này, tính chất khu vực cũng thấy rõ: Quân võ trang lúc đầu có đến hai bộ phận là Cứu Quốc Quân (từ thời khởi nghĩa Bắc Sơn 1940 tan rã) và Việt Nam Tuyên Truyền Giải Phóng Quân (24-12-1944).

Nói gì đến các địa phương khác mà sau này người ta cũng không thể che giấu. Trần Văn Giàu, bí thư Xứ uỷ từ 1943, phân trần vì “không liên lạc được với Trung ương, nên tự vạch ra một đường lối tấn công riêng cho Nam Kì” với Xứ uỷ Tiền Phong (tên tờ báo) ở Sài Gòn do ông lãnh đạo. Đường lối tấn công riêng đó cũng có nhóm khác thực hiện với người lãnh đạo là Dân Tôn Tử / Trần Văn Vi, lấy tên Xứ uỷ Giải Phóng (tên báo) mang dấu hiệu “đồng quê”, vì có cơ sở căn bản ở Miền Tây bị kết tội liên kết với Hoà Hảo, thành hình trong tập họp cộng sản thời mới sự xung đột cũ của hai trục Thất Sơn và Sài Gòn, lên cao độ đến mức phe Giải Phóng tố cáo phản bội, tuyên án chết cho Trần Văn Giàu! Gia Định nằm ở ranh giới hai thế lực thành ra có đến hai tỉnh uỷ! Khu Đông Bắc (vùng Quảng Ninh) có tay anh chị giang hồ lãng tử, cựu đảng viên Quốc Dân Đảng Nguyễn Bình, sẽ được chiêu dụ hợp tác bằng chức tước sứ quân: Tổng tư lệnh Giải phóng quân Nam Bộ (20-11-1945). Tù nhân nhà giam Ba Tơ ở Quảng Ngãi tổ chức du kích, tự phụ là đã làm cuộc cách mạng cướp chính quyền trước cả trung ương (11-3-1945) – và cũng biểu hiện được tính chất quá khích của phe đảng bằng những cuộc loạn sát tập thể. Chủ trương phá kho thóc cứu đói ở Bắc Bộ, thật ra không có hiệu quả bao nhiêu về mặt thực hiện mà chỉ là một khẩu hiệu để khích động quần chúng nổi lên quấy đảo. Ở các tỉnh, các nhóm Việt Minh khác nhau đi cướp chính quyền, giết nhau, người thắng đi vào lịch sử đảng bộ địa phương, người bại sẽ được đền bù bằng danh hiệu Liệt sĩ (trường hợp Võ Xán ở Bình Định), nếu không phải va chạm đến uy tín của lãnh tụ cấp cao, như trường hợp một đồng chí của ông Trường Chinh bị “thịt” mà ông phải giấu gia đình nạn nhân.

Vậy là ước mơ quyền lực được thành đạt khiến cho cuồng vọng thú tính buông thả nên mới xảy ra những cuộc xử trí, chém giết người khác phe, người cùng phe không phân biệt, mang tính cách thù hận quần chúng truyền kiếp sẽ còn kéo dài dây dưa rất lâu, được văn nghệ hoá trong lời kêu gào ở Tiến quân ca: “Thề phanh thây uống máu quân thù!” Cũng có thể gọi đó là sự trở về với dân tộc, truyền thống được chia xẻ chung trong tinh thần bài ngoại như khi Trần Văn Lai, thị trưởng Hà Nội của chính phủ Trần Trọng Kim cho đổi tên đường phố, phá đổ tượng đài người Pháp, làm kẻ đi trước cho lớp người Việt Minh sau đổi cả tên làng xóm, tỉnh thành.

Tiếng gọi lí tưởng và cơn đam mê quyền lực được thể hiện trên đất Việt trong phong trào được gọi là Cách mạng tháng Tám, vào dịp xảy ra khoảng trống quyền lực khi Nhật Bản bại trận, đầu hàng Đồng Minh ngày 14-8-1945. Cùng ngày đó, ở Huế có một “chính phủ lâm thời” không còn ai biết tới. Trung ương đảng Cộng Sản và Tổng bộ Việt Minh tuyên bố Tổng khởi nghĩa, chủ đích nhắm vào Hà Nội, thủ phủ Đông Dương, từ đó đương nhiên mang danh nghĩa thủ đô của nước độc lập. Trong cuộc mittinh chiều ngày 17-8 của Tổng hội Viên chức thành phố Hà Nội tổ chức ủng hộ chính quyền Trần Trọng Kim, các đội viên Tuyên truyền Xung phong luồn vào trương cờ, dựng biểu ngữ hô hào ủng hộ Việt Minh, đả đảo bù nhìn, đòi “Việt Nam độc lập”. Thế là cờ đỏ sao vàng tràn ngập đường phố, ngày 19-8 một Uỷ ban Khởi nghĩa ra tuyên bố, tập họp biểu tình giành chính quyền. Tuy bên trong còn có hai xứ ủy như đã nói nhưng Sài Gòn cũng đã chiếm chính quyền ngày 15-8, với lẫn lộn những phe phái khác mà mạnh nhất là các tập họp giáo phái Cao Đài, Hoà Hảo. Ở Huế, ngày 30-8 một Uỷ ban khởi nghĩa thành lập, tổ chức mittinh trước cửa Ngọ Môn yêu cầu Hoàng đế Bảo Đại thoái vị, nạp ấn kiếm. Các tỉnh lần lượt tiếp theo nhau sụp đổ với những người lãnh đạo và quần chúng, có khi chỉ nhận ra Việt Minh bằng cây cờ đỏ sao vàng và bàn tay nắm lại giật mạnh vào mang tai, chào nhau. Tất nhiên Việt Minh không thể làm chủ một phần vùng biên Trung-Việt nơi có những toán quân Phục Quốc, Quốc Dân Đảng, Đại Việt… kéo về chiếm đóng, đi theo các toán quân Trung Hoa làm nhiệm vụ tước khí giới quân Nhật. Tuy nhiên với kết quả chiếm chính quyền ở thủ phủ Hà Nội, các thành phố lớn nhỏ, đảng Cộng Sản Đông Dương và mặt trận Việt Minh có tư thế của một quyền bính toàn quốc để lập chính phủ tạm thời ngày 28-8, và ngày 2-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

Chiến tranh và cơn lốc văn hoá ngầm của thế giới trên địa phương

“Việc giành chính quyền dễ bao nhiêu (?!) thì việc giữ chính quyền càng khó bấy nhiêu”, một Văn kiện Đảng nhắc bài học cũ của Lenin, nhớ lại theo thời thuận lợi lẫn lộn khó khăn của mình tiếp theo. Nhật đầu hàng, phần đất Việt Nam được chia ở vĩ tuyến 16 để phía Nam thuộc phần quân Anh đến giải giáp quân bại trận, phía Bắc thuọc phần hành quân Trung Hoa Quốc Dân Đảng. Mọi sự bận rộn trong đất liền – và cả tình thế chưa gợi mối quan tâm, khiến không ai lưu ý đến việc quân Tưởng chiếm một phần tập họp quần đảo mà Nguyễn gọi chung là Hoàng Sa và phía Trung Hoa lờ mờ về một vùng Tây Sa. Họ chiếm phần đông bắc, nơi hòn đảo mang cái tên biểu hiện: Ile Boisée / đảo Phú Lâm / Vĩnh Hưng, nơi cũng có “miếu Hoàng Sa” theo chứng cớ muộn. Và cũng xa về phía nam, Itu-Aba của Pháp cũng trở thành Ba Bình của Tưởng. Phương Đông sắp có mặt trời hồng, dù là của Tưởng hay của Mao…

Phía Nam, quân Anh đổ bộ lên Sài Gòn với người Pháp đồng minh thì không thể trao quyền cho ai khác, dù xét theo pháp lí hay tình cảm phe phía. Thế mà ở đó đã có một tổ chức nhân danh quyền lực xa xưa tiếp đón họ, phủ nhận đồng minh họ. Người Anh tất không tránh khỏi bị lôi vào xung đột. Ngày 23-9-1945 được ghi nhận là ngày Kháng chiến Nam Bộ, ngày quân Pháp trở lại tái chiếm Nam Kì / La Cochinchine francaise của họ. Rồi lại cũng như, gần giống như chuyện hàng trăm năm trước. Các nhóm người chống đối nổ bùng, với thời mới thì gọi là dân quân, du kích quân nhưng vẫn mang hình ảnh cũ của những anh hùng thảo dã, cầm đầu bởi những người Việt Nam thời mới, lẫn lộn tướng cướp bưng biền thêm hơi hướng du đãng thành thị, chia sớt phong cách với thủ lãnh hội kín tân thời, nhà trí thức tốt nghiệp Đại học Tây Phương, cựu công chức thuộc địa… Và vẫn có đảng viên Cộng Sản Đông Dương hô hào xây dựng thế giới đại đồng, lẫn lộn với các nhóm quá khích khác mà họ đẩy về phía “phản động”, “trốtxkít” đang trương các khẩu hiệu đòi “tiêu diệt người da trắng”, “chính quyền về tay nhân dân”, “làm cách mạng ruộng đất”…

Phía Bắc, sự đối phó của người cọng sản vừa mang tính cách tân thời của một tổ chức cầm quyền mang danh “chính phủ”, vừa mang tính truyền thống với âm mưu lấn át người dưới, dụ dỗ kẻ ngang tay (các đảng phái quốc gia, các cảm tình viên thụt thò), hay luồn lọt hối lộ, ve vãn nịnh bợ người trên, kẻ mạnh (quân đội Quốc Dân Đảng, kể cả nhóm nhỏ OSS Mĩ dò dẫm bên cạnh). Để tỏ ra là một chính phủ tân thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra một Tuyên ngôn Độc lập lặp lại các nguyên tắc căn bản của nền dân chủ tư sản Pháp, Mĩ, với tổ chức cơ cấu điều hành đất nước theo cùng dạng: Tổng tuyển cử bầu Quốc hội (6-1-1946), thông qua Hiến pháp đầu tiên của nước, thành lập chính phủ “do dân”, “vì dân”… ban hành những sắc luật lí tưởng đầy mơ ước khắp nơi, công nhận tự do cá nhân, tự do báo chí, tự do lập hội… Tuy nhiên thực tế vốn đã không như mơ ước thì sự tạo dựng tốt đẹp nào đưa ra cũng mang tính dối trá có lợi cho người chủ động, trong trường hợp này là những người cọng sản Việt Nam đang có vũ khí, thực lực dưới dạng một quyền bính chính thức bao trùm toàn quốc.

Quyền bính ở Hà Nội không giống như, ví dụ lúc ở Tân Trào, Bắc Sơn nên ông chủ tịch Đảng phải tìm cách luồn sâu hơn nữa, ra lệnh giải tán Đảng (11-1945), chỉ còn hoạt động dưới hình thức một Hội Nghiên cứu chủ nghĩa Mác ở Đông Dương. Sự việc không những gây phản đối về phía cán bộ, đảng viên mà đối với Quốc tế còn tỏ ra là một hành vi phản bội lí tưởng, nhẹ nhàng thì gọi là “thiên hữu” gì đó như đã từng xảy ra, để ông Chủ tịch còn nhớ và chỉ mặt một cựu Tổng bí thư trong tranh: “Chú này [Hà Huy Tập] hồi trước công kích Bác dữ lắm”. Nhưng thực tế về sau, chứng tỏ là không ai có nhiều kinh nghiệm về âm mưu để đưa đến thành công như ông, bằng cớ ngay trong hành động “giải tán Đảng” này. Đảng Cộng Sản xuất thân là một hội kín từ ngay nguồn gốc Tây, đến cắm rễ ở Việt Nam lại đậm thêm nét thần bí phương Đông thì những hoạt động ẩn giấu vốn đã có cái thế mập mờ khuất lấp mang lại sự đe doạ hay hấp dẫn, nay lại còn được thêm thế của quyền bính công khai tạo dựng, nâng đỡ bên ngoài nữa. Cho nên không cần tuyên bố hiện diện hay trương bảng hiệu, nó vẫn mang sức mạnh tràn đầy. Vì thế ở tận cùng phương Nam, thủ lãnh đảng Lập Hiến Bùi Quang Chiêu, Quốc Gia Độc Lập Hồ Văn Ngà, nhà báo Diệp Văn Kì bị giết, đảng viên Đệ Tứ lo trốn chạy. Hồ Hữu Tường núp bóng ở Hà Nội xa lạ, thủ lãnh Tạ Thu Thâu ra đến Quảng Ngãi cũng không thoát, chia sớt số phận của các giáo dân Cao Đài bị tàn sát cả làng nơi này, trên đất Quảng Nam, trên vùng Đông Nam Bộ, còn giáo dân Hoà Hảo thì bảo vệ sinh mạng mình bằng cả một phong cách tuyệt vọng của nông dân thời Đàng Cựu, gây kinh hoàng nhiều năm về sau. Ở cố đô Huế, cựu Thượng thư Phạm Quỳnh, cha con Ngô Đình Khôi, Ngô Đình Huân bị giết, Nguyễn Tiến Lãng, cựu bí thư Nam Phương Hoàng hậu, thoát chết nhờ xe không đủ chỗ, sự quyết định có vẻ là từ ngôi sao Tố Hữu đang lên lúc bấy giờ, theo những ẩn khuất mập mờ tiết lộ hồi sau. Trên thủ đô Hà Nội, người cộng sản khó tung hoành hơn nên phải chịu đựng các ống loa của các đảng phái quốc gia công kích, thêm tiếng nói cho lời các báo đối lập, chịu đựng vài cuộc biểu tình, và cả chuyện giết chóc được phanh phui thành tội ác riêng của phe đối lập như trong vụ phố Ôn Như Hầu.

Các đảng phái quốc gia chậm chân, chỉ có thể nương thế quân đội Trung Hoa ép chính phủ Hồ Chí Minh mở rộng Quốc hội, thu nhận 70 đại biểu không qua bầu cử theo thoả thuận giữa Việt Minh và Việt Nam Quốc Dân Đảng, Việt Nam Cách Mệnh Đồng Minh Hội. Một chính phủ liên hiệp kháng chiến được tuyên bố thành lập nhưng tình thế nội bộ cũng như biến chuyển bên ngoài đã khiến những người cộng sản càng tăng thêm quyền lực. Quân Pháp trở lại chiếm các thành phố ở Nam Bộ, lấn dần lên Tây Nguyên, rồi với các tiếp viện từ chính quốc, cũng muốn tìm cách đem quân ra Bắc một cách êm thấm. Họ nhân lúc Trung Hoa phải đối phó với với Hồng quân trong việc chia chác thành quả chiến thắng quân Nhật nên chịu thoả thuận để quân Pháp thay thế trên vùng bắc vĩ tuyến 16 (hiệp ước Trùng Khánh 28-2-1946). Chính phủ Việt Nam cũng không có cách nào khác là kí Hiệp định sơ bộ 6-3-1946, công nhận sự hiện diện của quân Pháp.

Lợi thế đầu tiên của Tạm ước là nhân quân Tưởng rút đi (15-5), chính phủ cho quân tiến chiếm lại các vùng thành phố biên giới, thanh trừng các nhân vật Việt Quốc, Việt Cách trong chính phủ và Quốc hội, truy sát các nhân vật phe phái này (Khái Hưng, Phan Trần Chúc, Lan Khai…) theo luận điệu thường thấy về sau, là “bị cơ quan an ninh quốc gia trừng trị vì tội phản bội Tổ quốc”, trong đó nổi bật ngay ở thủ đô là vụ đột nhập trụ sở của Đại Việt Quốc Dân Đảng ở phố Ôn Như Hầu (12-7). Phó Chủ tịch Nguyễn Hải Thần, Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Tường Tam tự động rời nhiệm sở, các lãnh tụ Lí Đông A, Trương Tử Anh… mất tích để các đảng viên mong ngóng ngày họ xuất hiện lại, trở về dẫn dắt. Tuy nhiên sự thanh trừng êm thấm hơn, với một nhân vật tưởng là đã ở “bên lề lịch sử” như Cựu Hoàng Bảo Đại / Cố Vấn Vĩnh Thuỵ (được “cử” đi Trung Hoa ngày 11-3-1946) lại sẽ mang phiền luỵ nhiều hơn người cộng sản tưởng, bởi tính tượng trưng nơi con người lạc loài kia. Còn một người có thể làm đại biểu cho chế độ người cộng sản mong muốn diệt trừ mà chưa thực hiện được, tức là còn mầm mống, cơ hội trỗi dậy cho chế độ cũ. Nhưng dù sao thì với sự thanh trừng thành công, chính phủ Hồ Chí Minh từ nay đã trở thành người chính thống không tranh cãi để giành quyền độc lập cho tổ quốc.

Quân Pháp lúc này không phải chỉ thập thò ở những vùng xa mà nay đã đóng trên vùng đất gần chính phủ trung ương thì họ càng có thế uy hiếp nhiều hơn nên không quan tâm đến Tạm ước 14-9-1946, kí ở Paris để Chủ tịch khỏi mang tiếng về tay không với dân chúng. Họ cho quân lấn chiếm Hải Phòng, Lạng Sơn, Đà Nẵng, đòi giữ quyền trị an ở Hà Nội. Thế là đêm 19-12-1946 đánh dấu thời điểm toàn quốc kháng chiến của chính phủ VN DCCH. Các nhân viên văn võ Pháp điều hành chiến trường Đông Dương, có tiếp viện từ chính quốc đã đem quân lấn nống ở Nam Bộ, Nam Trung Bộ, nay định làm một cú đảo chính để loại trừ Hồ Chí Minh và Việt Minh. Nhưng họ lại để vuột khỏi tay toàn bộ người cầm đầu, biến chiến tranh thành cuộc chiến nhân dân tản lạc, thành thử không những không thao túng được với quyền uy người chiến thắng mà khi cần điều đình lại không có đối tượng hợp tác gần cận, như trường hợp của Anh với M. Gandhi của Ấn Độ, Hoà Lan với Sukarno ở Nam Dương vài năm sau. Từ căn bản khởi đầu của cuộc chiến, chiến tranh giành độc lập ở Việt Nam đã có mầm mống xung đột khác, ngay trong lòng bản chất đối kháng không khoan ngượng của các phe phái tranh đoạt. Không phải giành giật một quyền bính, một dân tộc, một đất nước mà là giành giật toàn thế giới, nhân loại.

Tuy nhiên về mặt cá nhân, có thể nói đây là thời kì tột đỉnh của Hồ Chí Minh. Chức vụ và tình thế đem đến quyền lực thực sự cho ông, cho phép ông khai thác tận lực khả năng quyền biến được tác thành trong cuộc đời âm mưu trôi nổi. Thành công ngắn ngủi đó ảnh hưởng đến tiếng tăm lâu dài về sau. Hào quang quá khứ yêu nước của (các ông) Nguyễn Ái Quốc được dồn lại, cụ thể hoá bằng uy thế danh vọng Hồ Chí Minh Chủ tịch nước, sẽ lại được củng cố, bồi đắp theo với thời gian ẩn hiện trong kháng chiến, qua các tô vẽ tạo dựng do chính ông hay các thuộc hạ đồng chí tung ra, làm che lấp các khuyết điểm, đẩy ông vươn đến tầm mức quốc tế mà không có một lời chê trách nào bật ra – trừ từ những nạn nhân thất thế cấp thời của ông, hay ngậm ngùi nín lặng như khi Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Xiển nghe ông lập lại lời chê “… cục phân” của Mao Chủ tịch còn ở xa. Và dù có phát lộ thì cũng không thể nào lọt tai nhiều kẻ khác, để tiếng tăm trong lịch sử của ông không sứt mẻ nhiều, như cảnh cái lăng uy nghi thô kệch kia che lấp được cả mùi tử khí của cái xác ướp sập sình bên trong.

Cuộc chiến Việt Pháp ở thế kỉ này không như lần trước. Tuy vẫn có những ý nghĩ đánh giặc lạc loài kiểu bện rơm làm áo giáp chống đạn ở Huế, vẫn còn những nông dân Miền Tây thừa hưởng niềm tin vào bùa chú của hội kín nhưng nhìn chung, nơi người Pháp khởi chiến lần này không phải là đất xa kinh đô yếu ớt mà là toàn vùng đất có tập họp người mang tầm mức kiến thức sát với thời đại văn minh, có những cơ sở vật chất, kĩ thuật đủ để chống đánh, không thắng thì cũng đủ cản trở đội quân vừa trải qua cuộc Thế chiến. Tài sản dân chúng ngày nay không phải chỉ là những manh áo vá, họ đánh nhau mà vẫn hưởng một số tiện nghi của thời mới – cái ưu thế này sẽ kéo dài cả khi cuộc chiến đổi thành phần, tăng mức độ. Họ, cùng với những đồng bào sống ngoài biên giới, đủ năng lực để đưa người chiến đấu, mua khí giới từ Xiêm, Mã Lai về (phong trào từ nội địa “xuyên Tây” tìm tiếp viện, hướng mong ước của Trần Văn Giàu trốn cảnh bó rọ ở Việt Bắc). Khí giới thừa mứa sau chiến tranh, mua từ quân Nhật bại trận – nếu không phải là từ những người này tuồn qua cho-không theo một ý thức đồng văn, đồng chủng Á-tế-á lúc này không còn mang tính cách kênh kiệu, lợi dụng nào cả. Tất nhiên là quân Pháp với xe tăng, đại bác, máy bay có thể chiếm đóng nhiều nơi nhưng không thể nào dàn trải khắp chốn, vì thế họ chỉ có thể bám trụ ở những thành phố, thị trấn với những vùng phụ cận nối tiếp mà thôi. Cho nên vẫn còn những vùng “tự do” rộng thênh thang hoăc chỉ bị đe doạ chút ít, hoặc hoàn toàn vắng bóng người Pháp như các vùng Đồng Tháp Mười, Cà Mau, vùng Nam Ngãi Bình Phú (gọi là Liên khu V của Việt Nam), vùng Thanh Nghệ Tĩnh (một phần Liên khu IV)…

Sở dĩ còn những vùng Tự do như thế cũng là vì những năm sau tháng 12-1946, quân Pháp cố tập trung mở những chiến dịch truy đuổi chính phủ kháng chiến trên các vùng trung, thượng du Việt Bắc mà không thành công. Sắc lệnh 25-5-1946 đổi danh xưng Vệ Quốc Đoàn thành Quân đội Quốc gia Việt Nam, đưa quân số lên đến 80 000 người vào cuối năm. Hiệp định sơ bộ 6-3 ứng xử với một tập đoàn văn minh đã làm cớ cho kháng chiến Nam Bộ bớt chịu áp lực tấn công của Pháp một thời gian. Cuộc chiến giằng dai cũng là dịp cho chính phủ kiện toàn tổ chức diện địa, tập họp các đoàn thể Cứu quốc theo kiểu đoàn ngũ hoá, dễ dàng chuyển qua các tập họp quân sự. Đảng Cộng Sản phát triển kết nạp đảng viên, không cần phân bua công khai hay ẩn giấu. Đã có nửa triệu đảng viên trong các năm 1948-49. Sự đòi hỏi quyền lãnh đạo lúc này không phải nấp lánh nên ngày 22-12-1946, Thường vụ Trung ương Đảng ra chỉ thị “Toàn dân kháng chiến”, nói rõ triển vọng là thành lập một nước “Việt Nam Dân chủ mới”, danh xưng còn xa lạ với đương thời nhưng đã thấy ở vùng Đông Âu dưới uy lực của Liên Xô.

Vùng Nam Bộ phức tạp với các nhóm kháng chiến theo kiểu sứ quân như ta thấy, rốt lại ông Chủ tịch Trần Văn Giàu giằng co khi bỏ Sài Gòn của ông, nhưng cô thế trước nhóm tù Côn Đảo về (Tôn Đức Thắng, Lê Duẩn…) và đại diện Trung ương (Hoàng Quốc Việt, Cao Hồng Lãnh), đành phải nhận lệnh lôi về Bắc, nhường chức Bí thư Xứ ủy Lâm thời cho Lê Duẩn. Tướng Nguyễn Bình được điều động vào Nam là để mất cái thế hùng cứ của ông ta ở chiến khu Đông Bắc, làm Tư lệnh mà chỉ loay hoay với quân lực chính ở Miền Đông vậy mà cuối cùng, khi vai trò Lê Duẩn lên cao, cũng bị lôi về Bắc, chết trong cảnh mập mờ trên đất Miên (21-1-1951) có lẽ vì thiếu cái dù Đại Hán mới như của tướng Nguyễn Sơn. Thật ra thì sự sục sôi cứu nước ở vùng cuối đất nước này khiến cho đảng Cộng Sản không cần phải nặng tay cho lắm. Nỗi ao ước độc lập vừa chớm thấy qua không bao nhiêu ngày hô hào tưng bừng, lại bị dập tắt trước mũi súng nên người ta lao vào cuộc chiến không đắn đo. Tránh được cảnh “bao bố trùm đầu nhìn mặt” của lính-kín Pháp, họ may mắn ra bưng (Phạm Ngọc Thảo) thoát khỏi nạn phải mò-tôm, làm thằng-chổng, rồi rủi ro lại không gặp dịp “về thành”, họ trôi theo kháng chiến lãnh tiếng khen của lời đồn, của truyền thông thời mới với một chức vụ mơ hồ nào đó, như cảnh ông Huỳnh Văn Tiểng thời sinh viên Hà Nội sôi động, trải qua hai cuộc kháng chiến, đến thế kỉ XXI mới dám thốt lời nhẫn nhục về cảnh đám Dân Chủ của ông bị người Cộng Sản mỉa mai, miệt thị dai dẳng! Tầng lớp dưới có phản ứng giản dị hơn, như người dân Hoà Hảo mang mã tấu trả lời Việt Minh về tội giết Giáo chủ của họ (14-7-1947).

Cái sốc văn hoá nổi bật nhất là hiện tượng Nam Kì tự trị. Dấu vết riêng biệt còn mang tính cách phân biệt chủng tộc, là hiện tượng “cáp Duồng” của dân các phum sóc Miên mang phảng mác tìm giết người Việt, vốn cũng đang hoang mang trước tình thế mới. Tuy nhiên Nam Kì lại cũng là thuộc địa, thấm nhuần sinh hoạt Tây Phương đậm đặc hơn đâu hết, nên khi cảnh độc lập được chớm thấy, ước ao hiện thực đã thành hình trước mắt không như trong mơ tưởng, thì hiện tượng phân hoá từ sự chênh lệch sinh hoạt, suy tưởng lại cũng dễ dàng xảy ra. Tầng lớp trung thượng lưu bên trên sợ sệt, bất mãn trước cảnh phe cộng sản Đệ Tam vừa nắm chính quyền là đã tiêu diệt đối lập, không chỉ đối với những kẻ mang tên “Việt gian thân Nhật” như Hồ Văn Ngà, từng cùng Trần Văn Giàu biểu tình 1930 trước điện Élysée, lúc này là lãnh tụ Việt Nam Quốc Gia Độc Lập Đảng, một thành phần thế tục của Mặt trận Quốc Gia Thống Nhứt bao gồm các giáo phái Cao Đài, Hoà Hảo. Đệ Tam còn ra tay trừ khử phe Đệ Tứ tụ tập quanh tờ báo Tranh Đấu từ tên La Lutte chuyển sang tiếng Việt (Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm, Trần Văn Thạch…), thù hận theo đúng chủ trương từ Quốc Tế cao vời, trong đó cũng có tiếng gào thét của Nguyễn Ái Quốc những ngày còn lang bạt. Sự huênh hoang của người cầm quyền Sài Gòn “mùa thu rồi, ngày hăm ba…” đó còn thấy trong hồi kí năm 1985 của con Hùm xám Chợ Đệm Nguyễn Văn Trấn, người nắm Quốc Gia Tự Vệ Cuộc (Công An) hồi ấy. Người ta chém giết nhau, đe dọa giết người khác vì không cùng lí tưởng, vì những lí do lạc hậu, bảo thủ đến mức cùng cực, như giữ sách vở chữ Tây trong nhà, như rủi ro có các mảnh vải ghép lại có thể là xanh, đỏ, trắng… tất cả báo hiệu cho họ một hướng độc tài gay gắt thấy trước. Bác sĩ Nguyễn Văn Thinh từng chăm sóc Phan Châu Trinh những ngày cuối, lập đảng Dân Chủ (1937), từng đòi tự trị cho Đông Dương, đòi cải tổ xã hội… bây giờ lại co rút trong khuôn khổ nhỏ hơn: đòi cho Nam Kì tự trị, bởi vì cái trung ương mới từ Hà Nội không những thật xa vời trong đường đất mà còn cả trong tâm tưởng của ông, với thực trạng độc lập phe-phía ông vừa chớm thấy. Và gặp sự đồng điệu ở những người khác ít thất vọng hơn, không đến nỗi phải tự tử (11-11-1946) như ông: nhà báo Nguyễn Phan Long, bác sĩ Lê Văn Hoạch của tập thể Cao Đài đang bị truy diệt… Và không phải chỉ mình phe “thân Pháp” của ông thấy được sự thất thế của Nam Kì. Trần Văn Giàu kháng Pháp chống lệnh Trung ương, không chịu làm “phó tướng” cho Hoàng Quốc Việt, vẫn phải tiếp nhận hai tư lệnh gốc Bắc được đưa vào quản lĩnh hai Khu 8, 9 của Miền Tây cuối đường đất nước. Và lệnh triệu hồi ông ra Bắc được cả Nguyễn Văn Trấn nhìn nhận như một chiếu chỉ gọi “Nhạc Phi về trào”, lệnh gây nỗi hoang mang lo sợ chết dấm dúi dọc đường của những người quen với âm mưu thanh trừng nội bộ – cũng kinh khiếp không khác như đối với kẻ khác phe, lệnh hiểu được mà vẫn phải tuân theo vì cái thế cùng đường của ông chúa vùng mới hôm qua!

Cuộc đổi dời đem lại những thảm cảnh / nghịch cảnh ứng xử cá nhân, không dễ gì giải quyết được cho mình, cho người. Không rơi hẳn vào vòng tay người Pháp để phải ân hận như Nguyễn Văn Thinh, kĩ sư Nguyễn Ngọc Nhựt, con Giáo tông Nguyễn Ngọc Tương của phái Cao Đài Bến Tre, lăn về phía kháng chiến, bị bắt, bị lôi kéo giữa chút lí tưởng mơ hồ chưa thành hình với kinh nghiệm độc lập mới, tâm trạng giằng xé đến nổi cơn điên loạn tới chết. Thiếu sự tự chủ của ông Tam Ích treo cổ trên chồng sách hồi sau (1972) như một xác nhận về chữ nghĩa lạc loài, nặng nề hơn sự ray rứt muộn màng trong bệnh hoạn thất vọng của ông Nguyễn Hiến Lê hồi cuộc chiến kết thúc, để khỏi cần phải phân vân, hoài nghi gì nữa.

Tình cảnh “ăn cơm nhà làm việc kháng chiến” không phải chỉ có ở Nam Bộ. Phần đông những cán bộ nhà nước lúc đầu đều là con nhà khá giả có thể tự lo cho bản thân. Chi tiêu công là tiền ngân hàng tịch thu, là ở các quỹ ủng hộ bởi những nhà giàu (chưa gọi là địa chủ) hay những đóng góp mang tên Tuần lễ vàng, Công khố phiếu, Hiến tặng tài sản, Hũ gạo nuôi quân, hay qua những đóng góp tản mạn đón tiếp cán bộ công tác ghé vào nhà dân (giàu)… Sự chênh lệch phát triển trên tầm mức thế giới cũng đem lại tiền bạc cho chính phủ kháng chiến qua các tổ chức buôn lậu giữa hai vùng “Tự Do” và “Bị Chiếm”, thấy ra ở vụ Đại tá Trần Dụ Châu, và nổi bật nhất là việc kinh doanh thuốc phiện dưới quyền Nguyễn Lương Bằng, Phó Chủ tịch nước hồi sau. Sinh hoạt chung trở về với thời đại nông thôn tự cấp tự túc nên sự cực khổ đến mức không chịu được chỉ cảm thấy ở tầng lớp thị dân, công chức cũ, những người ráng bám víu một lúc ở nông thôn nhờ tiền của cất giữ mang theo, trước khi đuối sức, “dinh tê” về-thành.

Tổ chức diện địa mang tính chiến đấu, nên các tên vùng dân sự không được nhắc nhở như các tên quân sự: các Khu, rồi Liên khu III, IV, V, Việt Bắc mà chính phủ nối kết bằng các đại biểu do trung ương cử đến. Có vẻ sự điều hành suôn sẻ là nhờ tính chất tự trị khu vực tự nhiên trên nền nếp hành chính cũ, có sự canh giữ một chừng mực của đảng Cộng Sản trong khi lực lượng Pháp chưa đủ lấn tới gây hỗn loạn. Thời kì bị động trước sự tràn lấn của Pháp như thế, được xếp trong sách lược nhà nước, là thời kì Cầm cự / Phòng ngự (chờ đợi Chuẩn bị rồi Tổng phản công). Ở vào thế yếu nên những hoạt động tinh thần được cổ động rất nhiều. Nam Bộ nói đến “tầm vông vạt nhọn”, đến “mang gươm đi mở nước”… Lời kêu gọi kháng chiến của ông Chủ tịch với ý kiến “có gì dùng nấy”, từ đó nổi lên hình ảnh của các văn nghệ sĩ đi kháng chiến một cách lãng mạn với cây đàn, với “thơ treo đầu súng”… Trong Đại hội Văn hoá Toàn quốc 7-1948, Tổng bí thư Trường Chinh đọc báo cáo “Chủ nghĩa Mác và văn hoá Việt Nam” tuy bị có người thấy ra là “mượn” bản văn của R. Garaudy (Vũ Thư Hiên 1997) nhưng chính nhờ giới hạn sáng tác đó mà vài nhận định lịch sử Việt Nam của ông vẫn còn trong vòng sách vở cũ.

Mặt khác, trong lúc chính phủ trung ương phải lo trốn chạy sự truy đuổi của quân Pháp thì các vùng xa phía Nam chưa thấy bóng quân Pháp vẫn phải có những đại diện, như Miền Nam Trung Bộ có Huỳnh Thúc Kháng rồi Nguyễn Duy Trinh. Tuy nhiên với tình hình chiến tranh, dấu hiệu quyền lực quân sự vẫn nổi bật, như Liên khu V trùm lên Miền Nam Trung Bộ có THIẾU tướng Nguyễn Sơn / Vũ Nguyên Bác chận lấy khí giới của Nam Bộ mua về chở ngang qua (để dằn mặt TRUNG tướng Nguyễn Bình?) Rồi khi ông này coi Liên khu IV mà trung tâm là vùng Thanh Nghệ Tĩnh, thì có thể nói đây là một trung tâm văn hoá kháng chiến với trường Đại học, với các hoạt động văn nghệ khích động tinh thần kháng chiến, gợi nỗi hồi tưởng nuối tiếc của những người “về Thành”, của tướng đàn em Trần Độ. Tất cả một thời kháng chiến lãng mạn, trong thời kì tranh đấu giai cấp tiếp theo, sẽ là chân trời mơ tưởng ở những vùng xa, phía Nam, mơ màng với “màu tím hoa sim”, “đôi mắt người Sơn Tây”… vào thời kì khắc nghiệt của cuộc chiến tiếp, sau khi ông tướng sứ quân chửi cả Tổng tư lệnh, bị đuổi về Tàu, chôn thân nơi đất khách như những hình nhân thất thế khác.

1949 và Hiệp định Genève, ranh giới chiến tranh lạnh trên đất Đông Dương

Với những người khao khát quyền lực, lí tưởng thì chiến tranh không phải là chuyện chơi văn giỡn chữ. Trong năm 1947, bộ đội chủ lực vẫn còn mang tên thông dụng: Vệ Quốc Đoàn, đã được nâng lên số 125 000 quân với tổ chức trung đoàn và tiểu đoàn độc lập. Có tổ chức dân quân du kích và bộ đội địa phương, và ngày 28-8-1949 đánh dấu sự thành lập Đại đoàn chủ lực đầu tiên. Sự phát triển tự thân như thế không phải là không có duyên cớ từ biến động to lớn, tuy còn mang tính khu vực Đông Á nhưng sẽ thấy là nhân tố biến động toàn cầu: Hồng quân Trung Hoa tiến sát biên giới phía nam, đuổi Tưởng Giới Thạch ra Đài Loan, tuyên bố thành lập Cộng hoà Nhân dân Trung Quốc ngày 1-10-1949.

Vai trò của Hồng quân trong cuộc chiến Việt Nam không những được giữ kín chi tiết rất lâu về sau mà với tính cách hội kín truyền thống Đông Á như đã thấy, người Pháp ngay đương thời cũng không thể có nhiều thông tin về phía địch, như tướng Navarre từng than thở. Thông sử nhà nước cho biết, từ đầu 1949 đã có bộ đội Việt Nam đánh chiếm vùng Thập Vạn Đại Sơn của tỉnh Quảng Tây, tiếng là “giúp bạn xây dựng khu giải phóng” nhưng hẳn là nôn nóng tiếp cận với bè bạn, trong mộng tưởng nhờ cậy vào tinh thần giai cấp quốc tế. Ông Trần Độ có dịp dẫn người đi huấn luyện trên đất Hồng quân. “Dựa vào sự giúp đỡ của các lực lượng bạn”, Chủ tịch Hồ Chí Minh kí sắc lệnh Tổng động viên để chuyển sang giai đoạn Tổng phản công. Thế là chiến dịch Đông Bắc 16-9-1950 “đánh thông đường liên lạc quốc tế nối liền với các nước xã hội chủ nghĩa…” (Đại cương lịch sử Việt Nam, tập III, 2000). Trấn Nam Quan mang tên thuận thảo Mục Nam Quan của vị thiên tử mới, nín lặng nhường danh vị thành công cho bạn bè nhỏ. Ngày 18-1-1950 CHND Trung Quốc công nhận VN DCCH, đáp lễ việc Việt Nam công nhận trước đó ba ngày như một thúc giục ứng đối. Lôi cuốn theo là sự công nhận của Liên Xô ngày 30-1-1950, như một sự cạnh tranh với Trung Quốc về tinh thần tương trợ quốc tế, mở hướng cho sự cạnh tranh vì chủ nghĩa lớn rộng hồi sau.

Người dân bình thường chưa thấy ra vận mệnh của mình được đặt vào tay những thế lực kia, kinh khủng là dường nào. Tuy nhiên mầm mống đối kháng dữ dội, như đã nói, là đã nằm trong bản chất chế độ mới, của tình hình quốc tế sau Thế chiến II. Nhà nước “tư sản” Pháp không thể điều đình với nhà nước “nhân dân” Việt Nam thì phải tìm đối thoại ở người được bảo trợ cũ, tuy là ở tầng lớp bị trị nhưng đã chuyển hoá gần gũi với họ hơn. Sức tràn lấn của chủ nghĩa cộng sản trên toàn thế giới gây ra phản ứng của các nước theo chủ nghĩa tư bản mà đứng đầu là Mĩ, tạo ra một tình hình được gọi là Chiến tranh Lạnh kéo dài đến 1991, khi Liên Xô sụp đổ. Trong tình hình chung về tương quan thuộc địa và đế quốc lúc đó thì Mĩ đã trả độc lập cho Philippin (1946), người Anh trả độc lập cho bán đảo Ấn Độ (8-1947), thành lập liên bang đầu tiên (1948) làm nòng cốt cho nước Malaysia về sau (1957), trong lúc Hoà Lan thả Sukarno và công nhận Nam Dương (1949). Người Pháp không thể làm khác khi Cựu hoàng Bảo Đại lưu vong ở Hongkong đề nghị điều đình, dẫn đến thoả ước Hạ Long với Cao uỷ Bollaert công nhận một Việt Nam độc lập có giới hạn (12-1947). Tình thế thất bại của người Pháp khi không truy bắt được chính phủ Hồ Chí Minh, và sự lấn lướt của phe cộng sản ở Tây Âu (phong toả Berlin), cùng sự thắng thế của Hồng quân Trung Quốc đã làm Pháp phải lùi bước hơn. Tổng thống V. Auriol và Cựu hoàng Bảo Đại kí Thoả ước 8-3-1949, công nhận Việt Nam là nước liên kết trong Liên hiệp Pháp với trách nhiệm ngoại giao, quốc phòng và tài chính còn trong tay người Pháp. Cựu hoàng thất vọng nhưng cũng phải trở về (4-1949) với danh nghĩa Quốc trưởng, thành lập chính phủ (7-1949) trong tình thế kết tập lãnh thổ của các phe phái Việt Nam. Ông phải lãnh tình trạng xé vụn nước khi người Pháp chưa tìm được một mẫu số chung: các vùng tự trị của các thủ lãnh bộ tộc (Mường, Thái), giáo phái (Hoà Hảo, Cao Đài, Thiên Chúa Giáo).

Sự công nhận chính phủ Hồ Chí Minh của Trung Quốc, Liên Xô và các nước phụ thuộc Đông Âu tiếp theo làm cho thuyết Be bờ Ngăn chận (cộng sản) của Mĩ có lí do chen vào cuộc chiến Đông Dương. Từ đây trên ngôn từ kháng chiến lại có thêm tập họp “Can thiệp Mĩ”. Lời của Nghiêm Kế Tổ, nhân vật Quốc Dân Đảng cùng đi với Cựu hoàng qua Hongkong năm 1946, biện minh cho phe mình sao mà giống lời Tổng bí thư Lê Duẩn hồi sau, chỉ cần đổi vai trò danh xưng: “Quân đội quốc gia không còn chiến đấu để riêng phụng sự cho người Việt Nam nhỏ bé mà đã có nhiệm vụ tiên phong trong cuộc chiến đấu chống chủ nghĩa cộng sản của toàn thế giới tự do dưới sự lãnh đạo chiến lược (của) đại cường quốc dân chủ Hoa Kì”.

Tuy nhiên thế yếu về cả danh nghĩa của chính phủ Quốc gia Bảo Đại là thấy rõ. Cơ cấu này được lập nên bởi tình thế bất đắc dĩ của người Pháp phải thụt lùi dần trong ý định tái chiếm thuộc địa nên họ không dễ dàng buông lỏng dây cương. Nỗi hậm hực vẫn còn đó hồi sau, khi họ phải nhường vai trò chống Cộng (thất bại) của họ cho người Mĩ. Nhưng liên hệ của những người cầm quyền mới, tuy còn phải tuỳ thuộc vào quyền lực của người Pháp, vẫn không phải chỉ là liên hệ chủ tớ như người chống đối thiên tả cao rao mắng mỏ. Đó là liên hệ căn bản ở sự thân thuộc văn hoá qua hơn 80 năm chung đụng, xuất phát từ chế độ thuộc địa, thân thuộc theo một gam màu rộng, từ Thủ tướng Trung tướng Nguyễn Văn Xuân bị chê 100% Tây, đến bác sĩ Phan Huy Quát của một dòng dõi sâu vào trong quá khứ quốc gia. Có những người như triết gia Trần Đức Thảo về với kháng chiến, không chịu nằm mùng chống muỗi để mong được cùng chia sớt cực nhọc với nhân dân, thực nghiệm quan điểm mácxít của mình thì cũng có tiến sĩ Vũ Quốc Thúc rời Paris về Hà Nội, sống với một không khí luật pháp, ít nhiều gì cũng là hợp với những điều ông được huấn luyện. Với tình hình tương quan quốc tế của chính phủ Quốc gia, cùng với tầng lớp nhân sự có kiến thức thích hợp với thế giới to rộng như thế nên tuy những người nối nghiệp của chính phủ kháng chiến mắng mỏ Việt gian, tay sai đế quốc, cuối cùng họ vẫn phải viện dẫn đến những người quốc gia khi cần thiết. Chính vì cái chính nghĩa “Yêu nước là yêu chủ nghĩa xã hội” được tuyên dương mà họ đã công nhận Tây Sa, Nam Sa năm 1956, 1958 nhưng sau này lúc gặp mâu thuẫn khi có tranh chấp về chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa một cách thất thế với Trung Quốc, họ vẫn phải nhắc tới hội nghị San Francisco 1951 có mặt Thủ tướng Trần Văn Hữu, cùng các tuyên bố tiếp theo của chính phủ Bảo Đại, Việt Nam Cộng hoà, của các chế độ vẫn được họ trưng bày dưới mắt dân chúng là xấu xa, đáng phỉ nhổ!

Nhưng cũng chính sự ràng buộc với khuôn mẫu Tây Phương trong lúc không tránh khỏi vướng víu với quá khứ thuộc địa nên chính quyền Quốc gia đã phải chịu thêm những lận đận cốt lõi của chế độ dân chủ tư sản, sự lận đận càng nặng hơn đến mức không có cơ cứu vãn. Tướng Navarre nhận định: “Họ (CS) chỉ có một chính phủ, một tướng tổng tư lệnh, còn Ta (Pháp) 19 lần thay đổi chính phủ 7 lần thay đổi chỉ huy…” Nhưng thứ “định mệnh” đó của Pháp chỉ làm lung lay mà không tiêu diệt họ ở chính quốc, lại làm tiêu diệt thành phần gán ghép vào đó ở phương xa này. Sinh hoạt tự do tương đối ở các thành phố, trên đất Nam Bộ / Sài Gòn đã thành tự nhiên đến mức những ý tưởng chống đối, khác biệt được phô bày một cách công khai trong lời nói, cả trên các hội đoàn ngang nhiên tập họp, trên báo chí công luận, tuy có thể gặp rủi ro chết người nhưng vẫn là xuất hiện được để đủ gây tác dụng. Ước vọng độc lập mới thoáng hiện đã bị trùm lấp bởi chính quyền cai trị cũ nên càng thành một thôi thúc khiến người ta quên sợ hãi, vẽ vời về một cuộc đời gian lao lãng mạn trong kháng chiến, dễ dàng xuất hiện với thơ văn vó ngựa sa trường, anh hùng Lương Sơn Bạc cụ thể với Bộ đội Hoàng Thọ, Thi tướng Chiến khu xanh Huỳnh Văn Nghệ, pha chút hấp dẫn huyền bí của du côn thành thị kiểu băng nhóm Bình Xuyên… Uỷ ban Kháng chiến Nam Bộ bao gồm toàn các bác sĩ, kĩ sư, luật sư tinh hoa của thời kì Pháp thuộc – có cả một Đốc phủ sứ Đô trưởng Sài Gòn Chợ Lớn bỏ chức – mang màu sắc thân cận, để ngay ở Sài Gòn có Tuyên ngôn của trí thức Nam Bộ phản đối “giải pháp Bảo Đại”, được luật sư Nguyễn Hữu Thọ đàng hoàng trao cho L. Pignon đòi giải quyết, và cũng được ông Cao Uỷ tiếp kiến! Bởi vậy các chính phủ Quốc gia cứ liên tục thay đổi, hết Thủ tướng Nguyễn Văn Xuân đến Nguyễn Phan Long (1-1950), Trần Văn Hữu (5-1950, 2-1951), Nguyễn Văn Tâm (6-1952), Bửu Lộc (12-1-1954), Ngô Đình Diệm (7-7-1954). Ở đây tính chất phản kháng của quần chúng được bảo vệ bởi một chính quyền thực dân, theo một tinh thần dân chủ cốt lỏi được tạo dựng ngay từ chính quốc. Không cần phải lên gân can đảm nhiều, người ta phản đối chính quyền, tự nhiên như họ đang sống. Bởi vậy từ cuộc lễ kỉ niệm Nam Kì khởi nghĩa nhỏ mới dẫn đến việc bắt bớ, đòi thả người theo một cung cách cục bộ quyết liệt, rồi chuyển qua cuộc tập họp phản đối tiếp theo làm chết một học sinh, nổ bùng thành cuộc biểu tình lớn (9-1-1950), mở đầu cho phong trào Trần Văn Ơn lâu dài. Và khi hai chiến hạm Mĩ ghé Sài Gòn thì có cuộc biểu tình (9-3-1950) với khẩu hiệu “Can thiệp Mĩ cút đi!”

Người ta không cần biết thực tại về phía bên kia như thế nào. Tuy đó là chuyện bình thường của nhân thế nhưng cũng phải thấy là do tài vận động tổ chức của những người kháng chiến cọng sản Việt Nam. Họ nhìn ra được tính chất bầy đàn loại cừu Panurge của quần chúng trong cái thế đang lên của nhân tâm hướng về độc lập, trong một niềm say mê không ở mức bình thường. Đây là thời kì của thế hệ những người Chín năm (1945-54), với suốt quảng đời còn lại sẽ chỉ thấy ra hào quang của chuyện kể Chín năm hào hùng.

Nhưng trong khi Phòng Nhì Pháp biết rất ít về phía đối phương như Navrre đã nói, thì chính người dân Việt cũng khó có thể biết những gì được trao đổi từ lúc đánh thông biên giới, “liên lạc được các nước XHCN”, chủ yếu là với Hồng quân Trung Hoa. Chỉ biết sau đó là những cuộc tấn công được mệnh danh là của thời kì Tổng phản công. Các chiến dịch Trần Hưng Đạo xuống trung du (cuối 1950 đầu 1951), Hoàng Hoa Thám vào vùng Đông Bắc (3, 4-1951), chiến dịch Quang Trung dự tính chiếm đồng bằng (giữa 1951) thật dữ dội nhưng gặp hệ thống kháng cự của tướng De Lattre de Tassigny nên phải chịu”tổn thất nặng”, “bị tiêu hao nhiều”.

Tuy sử gia nhà nước nói là “viện trợ bên ngoài tuy không nhiều” (có con số dẫn chứng) nhưng nhìn chung thì tình hình về phía chính phủ kháng chiến đã có thay đổi rõ rệt, thật căn bản từ năm 1950, chứng tỏ sự quan trọng không thể phủ nhận về ảnh hưởng của Trung Quốc trong sự tạo dựng sức mạnh cho Việt Nam DCCH. Tướng Trần Độ, người công thần trở thành phản thần tội nghiệp, vào hồi sau vẫn thành thật thú nhận: “Bất luận là thế nào, tôi cũng vẫn biết ơn đảng Cộng Sản Trung Quốc, Giải Phóng Quân Trung Quốc trong sự nâng cao nhận thức quân sự và chính trị” (của ông). Phần khuất lấp được che giấu khó thấy ra nhưng thành quả của chiến trường thì thật là hiển nhiên.

Với cung cách một tổ chức địa phương có dân, có lính, tăng tự tín, đầu năm 1951 (Đại hội tháng 2-1951), đảng Cộng Sản vượt thoát được cái khung Đông Dương của quốc tế xa vời, mở hướng thu hẹp trong một quốc tế khu vực, ra mắt công khai với tên mới: đảng Lao Động Việt Nam, thông qua Tuyên ngôn, Chính cương và Điều lệ, xác định lãnh đạo toàn dân theo chủ nghĩa Mácxít-Lêninít và tư tưởng Mao Trạch Đông. Từ nay dân Việt Nam có một tập họp chính trị dẫn dắt, chỉ cần gọi tắt là Đảng / “đảng Viết Hoa”, là đủ hiểu để lo sợ hay thành kính tuân theo. Đối với người dân bình thường thì “tư tưởng MTĐ” là những gì xuất hiện trên vùng kháng chiến không thấy có trước đó, nghĩa là những gì vừa mới được ban phát, mới học được. Học sinh thấy biến mất một chương trình giáo dục phi chính trị vẫn được gọi là “chương trình Hoàng Xuân Hãn” của chính phủ Trần Trọng Kim, để thay vào một chương trình học rút ngắn thời gian hơn, đặc biệt là có những sinh hoạt ngoại khoá: học tập chính trị, phê và tự phê, họp Đội, Đoàn (Thanh, Thiếu niên), họp Tổ… với các ngôn từ mới lạ, đầy khích động mà cũng bao hàm một dấu hiệu đe doạ, cho thấy một cuộc sống không yên ổn chực chờ. Do đó mà nảy sinh sự kiện chống đối nhà nước DCCH đầu tiên, và có lẽ độc nhất trong cuộc kháng chiến, của một nhóm người lẻ tẻ gồm các cựu học sinh thuộc địa, nhân sĩ xưa sót lại và người của tôn giáo, nhất là Công Giáo. Vụ án phát sinh khoảng 1950 đó được gọi bằng hai tên: Mặt trận Quốc gia bài Cộng hay Mặt trận Liên tôn chống Cộng, chứng tỏ tính cách rời rạc của nó nhưng cũng đã được chính quyền đàn áp có bài bản. Họ cho in thành sách quay ronéo (?), trên giấy rơm đương thời, với tên “Vụ Gián điệp Bình Định”, sau khi mở phiên toà với 5 bản án tử hình (một vắng mặt) và nhiều án tù nặng liên can đến nhiều gia đình, chỉ được giải thoát với hiệp định Genève, tình cờ đối với những người bất hạnh này. Và khuất lấp trên đất “mọi Đá Vách” ở Trà Bồng (Quảng Ngãi) cũng lặp lại hiện tượng xưa khi dân thiểu số nổi dậy với rựa, mác (1949-50) chống tình trạng ép giá gạo muối đổi trâu bò, cồng chiêng!

Chính trị mácxít-lêninít đi vào cuộc sống thường nhật qua những bài luận thuyết giản lược, hãy cứ coi đúng là của các lãnh tụ ở xứ nào xa tít kia vẽ ra mà thật ra cũng chỉ là qua các tài liệu “abc cộng sản”, mang dáng Mao nhiều hơn Mác. Tuy nhiên chính số lượng đảng viên được kết tập theo cung cách hội kín mà mang tính toàn cầu đó, đã tạo thành một mạng lưới dày đặc củng cố chính quyền, thúc đẩy xã hội bên dưới tiến tới theo đường lối hướng dẫn từ trên, không chừa cho một phản kháng nào cả. Nhưng nặng nề nhất có lẽ là những cuộc học tập chỉnh huấn nhắm vào quân đội, những người đang hoặc sắp hứng chịu súng đạn.

Và cuối cùng thì vấn đề thuế cũng phải đăt ra, vấn đề gây sự chống đối của dân chúng đối với mọi chính quyền ở mọi thời đại, vấn đề được người cộng sản xúi giục, a tòng với những người khác chống đối chế độ thuộc địa, mà rốt cục vẫn phải thi hành với đám dân chúng nay đang ở trong tay mình. Có cái khác là nay họ đang làm chủ dân chúng nên những lệch lạc xuất hiện từ đó không được nhắc nhở tới. Các bộ luật thưế nông nghiệp, công thương nghiệp ban hành gọi là “có lí có tình” để cán bộ trên cao như ông Bộ trưởng Vũ Đình Hoè lần đầu thấy mình được lãnh lương! Có thuế để cho một dạng hình điều hành tài chính có thực chất với sự xuất hiện của các tờ Tín phiếu, thay bạc quốc gia xuất hiện từng vùng nhỏ tuy căn bản tiền tệ vẫn bị lôi kéo về phía lúa gạo (tính bằng kílô), lấy từ các kho thuế nông nghiệp mà ra. Tuy nhiên có lẽ ông Bộ trưởng không biết tình trạng tận thu đã làm khổ người dân ở mọi thời đại, nay lại có thêm những hình dạng chỉ xuất hiện kèm với tư tưởng Mao Trạch Đông, gợi dậy một loại truyền thống cứ tưởng là phải biến mất từ lâu: Thuế không được tính trên những thu hoạch thực tế – ít ra là cũng có một chừng mực kiểm nghiệm nào đó, mà lại tính theo ý kiến quần chúng của những cuộc họp bình bầu sản lượng (nếu là ruộng đất), thu nhập (nếu là công thương) diễn tiến với sự thôi thúc của cán bộ kêu gào tinh thần thi đua yêu nước, yêu giai cấp có dẫn dắt, gợi dậy ý thức cạnh tranh danh vọng, chèn lấn vặt vãnh thường thấy trong xóm làng, chốn đình trung xưa. Việc “chây lười thuế khoá” được Chủ tịch nước đẩy về phía tội ác của địa chủ, làm cơ sở cho việc trị tội Cát Hanh Long trong chiến dịch Cải cách ruộng đất sâu rộng. Thời thế đã khác rồi, nhà nước nay cần phải có tiền nuôi quân, nuôi Đảng, cứu nước… bao nhiêu là mục tiêu tốt đẹp phải thực hiện, điều đó sẽ đẻ ra một thứ triết lí về Bản chất và Hiện tượng, biện minh cho tất cả mọi hành động của Đảng đem ra thực hiện để đạt mục đích của mình.

Nhiệm vụ giải phóng dân tộc, thực hiện “cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân” do Đảng đề ra, dẫn tới các biện pháp cải cách ruộng đất (Sắc lệnh 19-12-1953) cho thấy những ngôn từ biểu diễn ý định tốt đẹp, sẽ trở thành quen thuộc trong các văn bản nhà nước: “Luật CCRĐ của ta chí nhân, chí nghĩa, hợp lí hợp tình…” Nhưng phương pháp thực hiện lại là dựa vào “tư tưởng Mao Trạch Đông” – và như tiết lộ về sau, là được điều hành sít sao bởi các cố vấn Trung Quốc, nên xảy ra những biến cố kinh hoàng trên nông thôn Việt Nam, ban đầu trên các tỉnh của Liên khu Việt Bắc, Liên khu IV, Liên khu V (nửa sau 1953, nửa đầu 1954) rồi tiếp tục trên các vùng nông thôn tiếp thu theo Hiệp định Genève. Lần đầu tiên, dân chúng Việt Nam tái tiếp thu hiện tượng vương hoá thời mới, dẫn đến sự đảo lộn lớn lao không những làm chết 172 000 người trong cơn cuồng loạn đấu tố ở Miền Bắc (Lịch sử kinh tế Việt Nam 1945-2000, 2004) mà còn làm đà tạo dựng một tầng lớp điều hành đất nước mới sẽ lấn lướt thay thế những người của Mùa thu 1945. Đà kiểm soát quần chúng để thực hiện công cuộc được gọi là Cải cách ruộng đất / “phóng tay phát động quần chúng” được tăng lên với sự thành lập nhanh chóng cơ quan Công an, từ vị trí chỉ là môt Vụ năm 1946 xa lắc, đến tháng 2-1953 lên bậc Thứ Bộ rồi ngay tháng 6 cùng năm, thành hẳn hòi là một Bộ, giao cho Trần Quốc Hoàn với gốc gác giang hồ sẽ làm luỵ cho vị Chủ tịch sau này.

Nhưng dù sao thì sự đánh thông biên giới cũng tiếp sức cho sự lớn mạnh về quân sự của chính phủ DCCH. Thời điểm 27-3-1951 thành lập Đại đoàn công pháo 351, hẳn là có trang bị các đại bác, pháo cao xạ, pháo tên lửa của Trung Quốc, Liên Xô viện trợ, dùng “phục vụ cho một số chiến dịch lớn ở giai đoạn cuối của kháng chiến”, không cần nói rõ là của chiến dịch Điện Biên Phủ, cái tên vang dội trên thế giới còn ám ảnh cường quốc bậc nhất của hồi sau.

Lại cũng không rõ sự thay đổi chiến lược về hướng tấn công trên miền Tây Bắc là bởi ý kiến của cố vấn Trung Quốc, hay bởi sự thất bại trong năm 1951 của các trận đánh xuống đồng bằng nướng quân của tướng Võ Nguyên Giáp. Chỉ biết rằng hiệu quả của những cuộc chỉnh huấn đã tăng rất nhiều. Người bộ đội thường được ca tụng nhiều nhưng với tiết lộ về sau của các cố vấn Trung Quốc thì vẫn là ít can đảm, trong khi với những trận đánh cuối cuộc chiến, lại được người ngoại quốc phương Tây khen là người lính bộ binh giỏi nhất thế giới. Ai cũng biết rằng sự thành đạt là kết quả của tập luyện trong đó, cùng với những tiết lộ về sinh hoạt chỉnh huấn – giống như sự kiện phê, tự phê trong cuộc sống dân sự, cho thấy sự kềm thúc tinh thần đã lên đến mức độ bức bách cùng cực. Là gì đi nữa thì kết quả chịu đựng lao khổ tinh thần, đồng thời với chịu đựng gian khổ vật chất cũng khiến người lính, trong vô thức, bị thúc đẩy vượt thoát theo hướng tiến về phía trước, bởi vì ý thức được rằng sự hiểm nguy ngay bên cạnh là có thật. Trong sự thúc đẩy lòng can đảm, người ta pha trộn tâm tình yếu hèn, tự ái với ước muốn phô trương danh vọng, nấp dưới danh xưng mới của ganh đua là “thi đua”, đặt tiêu chuẩn vượt thường để đạt tới, không nề cả sự dối trá một phần hay toàn vẹn. Cho nên rốt lại trên bảng công tích được nêu trước hàng quân – rồi sẽ trở thành sử sự làm nền tảng chính nghĩa cho chế độ, sẽ có Anh hùng Lấy thân chèn pháo vốn chỉ là người lính bị pháo đè, có Anh hùng Lấp lỗ châu mai mang tên thật là Phan Đình Giót, chắc cũng là tên người bộ đội nào đó chết thật trước một lô cốt, nhưng cội nguồn huyền tích là từ chuyện vẽ ra, về một anh hùng Hồng quân tương tự trong cuộc chiến với quân Tưởng, chắc được các cố vấn chuyển làm quà cùng lúc với các khẩu 105 đang nện xuống Điện Biên Phủ. Huyền tích pha trộn với sự thật, che lấp cả những vô lí mà lúc thường dễ thấy ra ngay, ví dụ chuyện anh hùng La Văn Cầu chặt cánh tay bị thương hư nát để xung phong khỏi vướng! Và được Chủ tịch nước tán thưởng.

Tất cả xuất hiện có bài bản, được khai triển mạnh thêm vào hồi sau, vì vướng víu quyền uy tối thượng nên không được phép động chạm đến, không dễ dàng cho sử gia “phản tỉnh” như với câu chuyện cậu bé anh hùng Lê Văn Tám lẻ loi làm ngọn đuốc sống, đốt kho đạn Thị Nghè của năm 1946 không xa. Người Pháp, phương Tây nói chung, lần đầu đối phó với tinh hoa của Đông Phương trong những trận chiến sống mái, không thể nhìn ra ưu thế chiến thắng đó mà chỉ nhắm vào cái thấy được, là hàng vạn chiếc xe đạp thồ của dân công đem lên chiến trường, để so sánh với địa điểm Verdun của mình.

Trong đại hội thành lập đảng Lao Động cũng có chiến lược chính trị mới, là tách riêng các đảng Lào, Miên (chưa có danh xưng Kampuchia) thành những đảng chính trị liên kết nhưng vẫn là có sự kềm thúc của Việt Nam bên trong theo một ý định tốt đẹp: “làm nghĩa vụ quốc tế”, để lần hồi sẽ nảy ra trong đầu óc ông Lê Đức Thọ về một Liên bang Đông Dương có thể là nằm trong tay ông. Với đương thời thì người ta chỉ nói đến sự liên kết chính trị của các mặt trận ba nước: Mặt trận Liên Việt, Mặt trận Issarak Miên và Issala/ra Lào nhưng có lẽ chưa thấy mầm mống phân rã bên trong sự kết hợp ấy. Với đất Lào hiền hoà và có thực tế địa vực liền lạc với trung ương đất nước và đảng Lao Động thì với một ông hoàng thân tốt nghiệp kĩ sư Hà Nội, có vợ Nha Trang, một chi bộ Lào trong Đảng vẫn có hi vọng tuân phục dài lâu. Với xứ Cambodge thì tình hình phức tạp hơn. Có một bộ phận lớn dân Khmer trên đất Việt dễ ngưỡng vọng về cố quốc và vẫn được Phnom Penh nhắc nhở đòi hỏi, từng gây nên một phần chậm trễ trong việc người Nhật trao trả Nam Bộ cho Việt Nam. Tuy nhiên đám dân ấy với vị trí gần biển, dưới quyền cai trị của người Pháp lại tỏ ra năng động hơn dân chính quốc nên có nhiều nhân vật lãnh đạo nổi bật. Sơn Ngọc Thành từng làm Thủ tướng Cambodge thời Nhật rồi chống đối Sihanouk hồi sau. Kim Trang gốc Trà Vinh với tên Yeng Sari là Phó thủ tướng Kampuchia Dân chủ sau 1975. Sơn Ngọc Minh là con bài thất bại của Việt Nam trong hội Genève. Tuy nhiên cũng vì cái thế bên lề Khmer Krom mà họ bị dân chính quốc loại trừ (Sơn Ngọc Minh) hay không mấy tin tưởng (Ieng Sary), chưa kể việc sau này bị thanh trừng vì xuất thân trong hàng ngũ Việt (Pol Sovan, Heng Somrim).

Sự thất bại khi tấn công xuống vùng đồng bằng khiến những người chỉ huy nhận ra, sẽ có lợi hơn khi tấn công trên vùng rừng núi, gần với trọng tâm xuất phát, với liên hệ viện trợ, đánh ở những nơi lực lượng Pháp yếu ớt, phần lớn là của những thủ lãnh thiểu số. Các chiến dịch Tây Bắc thành công, giải phóng một vùng rộng lớn dẫn đến ý định đánh thông qua Lào, đe doạ một nước yếu mà người Pháp vẫn phải có trách nhiệm bảo vệ. Thế là có tiền đồn Điện Biên Phủ với chiến thắng vang danh kết thúc ngày 7-5-1954, trận đánh quyết định dẫn đến những kí kết ở Hội nghị Genève 21-7-1954.

Chiến tranh Đông Dương / Việt Nam với khởi đầu của nó là sự giành giật chủ quyền dân tộc / tái chiếm thuộc địa nhưng với bản chất các bên đối nghịch, và theo đà biến chuyển trên thế giới, cuộc chiến đó nay đã trở thành quốc tế hoá một chừng mực sâu đậm. Cho nên khi khuynh hướng xung đột trên thế giới dịu đi thì cơ may hoà bình mới được thấy thực hiện. Stalin chết (3-1953) có ông Tố Hữu khóc than, tiếng khóc thống thiết che lấp nước mắt của nhiều nhân vật danh tiếng khác, nhưng N. Khrutchev lên thay thế, lại chủ trương Chung sống hoà bình. Tháng 7-1953, Hiệp định đình chiến ở Triều Tiên / Đại Hàn kí kết, chứng minh sự bế tắc của tranh chấp bằng súng đạn. Do đó, Hội đồng Hoà bình Thế giới, cánh tay chiến lược của Liên Xô trong cuộc đấu tranh với thế giới tư bản, ra nghị quyết kêu gọi giải quyết hoà bình vấn đề Đông Dương (10-9-1953). Cho nên qua gợi ý phỏng vấn của một tờ báo Thuỵ Điển (26-11-1953), thật dễ hiểu về việc Chủ tịch Hồ Chí Minh đồng ý giải quyết bằng thương lượng. Ngày 8-5-1954, Hội nghị Quốc tế về chấm dứt chiến tranh ở Đông Dương khai mạc tại Genève với đại diện 9 nước, về phía Đông Dương là hai chính phủ Dân chủ Cộng hoà và Quốc gia Việt Nam cùng đại diện các Vương quốc Lào, Cambodge. Không có mặt các thủ lãnh Issala và Issarak.

Ngày 21-7-1954, các hiệp định đình chiến ở Đông Dương được kí kết. Phía Cambodge, “Chính phủ Sơn Ngọc Minh của chúng ta” (Khmer Tự do / Issarak) biến mất trên chính trường quốc tế, nhưng phe Pathet Lào (với các Chiến sĩ Tình nguyện quân Việt Nam) được hưởng hai tỉnh Sầm Nứa và Phong Xa Lỵ, dựa thế vào tây bắc Bắc Bộ, là một mối đe doạ chiến tranh có lẽ chưa được nhận ra. Phía Việt Nam, theo gương Triều Tiên, chia hai bộ phận, lấy vĩ tuyến 17 làm giới hạn. Phía Bắc là của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, phía Nam thuộc quyền quản trị của phe Quốc gia và quân đội Pháp với quy định sẽ có việc Pháp rời khỏi Đông Dương. Có đặt những giới hạn thời gian về từng vùng tập kết với hạn cuối là 300 ngày. Việc chia hai đất nước đã gây nên những xúc động trong các phái đoàn Việt Nam và nơi các biểu lộ riêng tư. Không thấy có xuất hiện bên ngoài rõ rệt nơi Thủ tướng Phạm Văn Đồng nhưng có những giọt nước mắt của Bộ trưởng (Quốc gia) Trần Văn Đỗ, cùng tiếng sáo rền rĩ của người Huynh trưởng Hướng Đạo Võ Thành Minh khóc than cho việc chia cắt.

Thật ra nhìn ở khía cạnh quân sự, Hiệp ước Đình chiến đã cứu nước Pháp khỏi một thảm bại lớn lao hơn, và may mắn tạo ra tư thế cho một chính quyền Quốc gia thành hình có đất đai, có một hình tượng lịch sử không thể xoá nhoà dù là cuối cùng vẫn phải thất bại nhục nhã. Trong những ngày tháng trước khi kết thúc chiến tranh, quân Pháp tuy mở chiến dịch Atlante lấn át vùng Tự do Liên khu V nhưng Luang Prabang, Vientiane bị uy hiếp, quân Liên khu IV đã đánh chiếm vùng Trung Lào, quân Liên khu V lần đầu tiên bỏ đồng bằng tiến lên Tây Nguyên làm chủ gần nửa vùng cao nguyên này rồi còn lấn qua Đông Miên, Hạ Lào. Ngay trên vùng Nam Bộ dễ bị kềm kẹp, các vùng giải phóng cũng nống ra, cả trên vùng biên giới, đe doạ vương quốc Cambodge.

Lịch sử chính thống vẫn cho là người Việt nắm quyền chủ động trong chiến tranh, điều hành đất nước nhưng chắc lúc này các người lãnh đạo đã thấy ra áp lực Thiên triều cũ. Một chút ngờ nghệch lí tưởng, cùng nhu cầu thúc bách trong tranh chiến khiến những mâu thuẫn không nổ bùng, giúp cho những người lãnh đạo Việt Nam giữ trọn vẹn uy tín với dân chúng trong công cuộc cứu nước đang trên đà thành công thấy rõ. Nhưng dù không có những tiết lộ vào lúc đương thời, vai trò điều hợp, phá vỡ những bế tắc từ phía CHND Trung Hoa thật đã hiển hiện rõ rệt trong hội nghị. Trung Quốc vừa mới thoát khỏi chiến nạn Triều Tiên, chưa được vào Liên Hiệp Quốc nhưng là lần đầu tiên có mặt trong một hội nghị quốc tế, phải chứng tỏ sức nặng của mình mà vẫn thấy không còn đủ sức làm một cuộc “… viện Việt” như là đã Chống Mĩ viện Triều. Vì thế trong cuộc họp trù bị cho phe mình, Chu Ân Lai đã tuyên bố “không thể viện trợ thêm cho Viẹt Nam nữa” nếu chiến tranh mở rộng. Rồi cũng nói rõ với các phe ở Genève là ông ta đến không phải để bênh vực Việt Minh. Vì thế phái đoàn VN DCCH ngậm đắng nuốt cay khi Chu gạt bỏ các đồng chí chư hầu Issarak, Issala/ra sang một bên, và họp riêng với Thủ tướng Mendès France về việc chia cắt Việt Nam.

Sự chia cắt, dù bị phản đối, kêu khóc nhưng cũng là một hiện thực lịch sử kéo dài đến 20 năm, với những biến động chưa từng có, không dễ gì bị xoá bỏ. Sự chia cắt đó đã tạo ra 2 chính quyền mà danh xưng rối rắm, nhiều sắc màu từ tinh thần phe phía và nhu cầu đổi thay thích ứng khiến phải đòi hỏi một sự chính danh gọn ghẽ, cần thiết cho một tóm gọn ngắn. Chính quyền “tay sai Mĩ nguỵ” phía dưới vĩ tuyến 17, được chẽ ra thành Mĩ Diệm, Mĩ Thiệu bởi Miền Bắc, vẫn thường tự xưng là Chính phủ Quốc gia, tiếp nối quyền lực của chính phủ Bảo Đại trong ý nghĩa pháp lí mượn từ chữ État của Pháp ngữ, nhưng thông thường có ý nghĩa là “đối kháng với Cộng sản”. Và vì tình trạng tranh chiến suốt 20 năm vận mệnh của nó nên từ Quốc gia có thể dùng chung cho hai giai đoạn mang tính pháp lí là Đệ nhất và Đệ nhị Cộng hoà. Phía bắc vĩ tuyến 17 chỉ có một chính quyền Dân chủ Cộng hoà, thường không bằng lòng khi được gọi là cộng sản mà chỉ muốn là dân chủ nhân dân / xã hội chủ nghĩa trong văn từ chính trị sang cả. Tuy nhiên ở đó rõ ràng được lãnh đạo càng lúc càng sít sao bởi một đảng Cộng Sản với nhiều tên, như con cắc kè đổi màu, bởi bản chất, muốn ứng biến tuỳ tình thế. Tên đương thời là đảng Lao Động Việt Nam, cuối cùng sau 1975 lấy tên Cộng Sản Việt Nam đúng với ước muốn dai dẳng triền miên, có bộ phận ẩn nấp chiến thuật phía Nam mang tên đảng Nhân Dân Cách Mạng dưới một Mặt trận Giải Phóng, nhưng rõ ràng tất cả chỉ là sự nhẫn nhịn cấp thời có tính toán trên con đường tranh chiếm quyền lực, nên gọi họ là Cộng Sản cũng không phải là một sự bỉ báng, dù cái tên rút gọn: Việt Cộng, lâu dần cũng mang ý nghĩa đó.

Kết quả rút quân hoàn tất tháng 5-1955 với hàng triệu người di cư vào Nam đem lại cuộc xáo trộn dân số lớn nhất, đầu tiên sau nhiều thế kỉ. Vì sự liên hệ với thế giới Tây phương, vì tính tổ chức chặt chẽ của người Công Giáo, vì yếu tố chống Cộng được nêu lên làm thế cân bằng cho tuyên truyền về tính “nhân dân” của chế độ DCCH nên cuộc di cư 1954-55 được khai thác rầm rộ về khía cạnh tôn giáo, che lấp hẳn những thành phần khác, vốn cũng đông không kém nhưng không nổi lên vì lẫn lộn trong những chuyến tàu chở người của Pháp, hay trốn chạy theo các phương tiện riêng, kể cả đi vòng lên xứ Lào. Đặc biệt có thể kể trường hợp Trần Đình Long, người đã từng hãnh diện dưới thời thuộc địa viết báo kể chuyện 3 năm thụ huấn trường Đại học Liên Xô, thời phe phái thành công chưa làm được gì đã bị Quốc Dân Đảng (?) giết (1946), gia đình bị đồng chí bỏ rơi nên theo dòng di cư vào Nam (và rồi đi Úc tiếp theo sau 1975). Ba trăm ngày tập kết cuối cùng quanh Hải Phòng cũng là thời gian để những người chưa biết mặt cộng sản mà kịp đủ nghe về cảnh đấu tố ở vùng “tự do”, có dịp tuôn chạy – hay lại đủ cho sự dằn vặt phải rời bỏ quê cha đất tổ để lủi thủi trở về xóm làng quen thuộc, chịu đựng một tương lai u tối không ngờ tới. Tuy tính “Công Giáo” của cuộc di cư đã được nêu thành chiến lược chống Cộng để mong có thành công trên một vùng đầy ước vọng hướng về kháng chiến, nhưng rốt lại cũng là yếu tố đổ vỡ khiến một thành phần trong cuộc, khi thấy gió đổi chiều, lại lo tìm đường thoát về phía họ đối kháng. Chưa kể rằng chính sự tuyên truyền rầm rộ về thành phần di cư ưu tú khiến cho hệ thống gián điệp Miền Bắc tung người đi theo, luồn sâu leo cao trong chính quyền Miền Nam với sự yểm trợ ngây thơ của các cha đạo, cứ tưởng mình đang bênh vực con chiên, tôn giáo của mình!

Số người tập kết ra phía Bắc thật là nhỏ, một phần vì chính phủ kháng chiến không có phương tiện di chuyển họ, phải nhờ tàu Ba Lan – đúng là không thể nhiều và lớn như tàu Pháp, Mĩ. Tuy không có dân chúng đi theo, họ cũng không thể nuôi ăn cho số cán bộ hành chính (chưa kể đảng viên) nên dựa vào tiêu chuẩn quy ước chiến tranh lập ra với nước lớn, họ chừa lại một số lượng nhân viên lớn, cho lẩn vào các thành phố lớn, đổi vùng, hay chỉ giản dị là bị bỏ rơi, tự lo tìm đường thoát trong tình thế mới với lời dặn dò vuốt đuôi: “Đi vinh quang, ở anh dũng!” Với thực tế nhập nhoà đó, người cầm đầu Đảng ở địa phương đã có cơ sở để chuẩn bị tiếp tục chiến đấu ngay từ khi Hiệp định được kí kết.

Bản tuyên bố cuối cùng của Hiệp định có đặt vấn đề hiệp thương hai miền và bầu cử thống nhất đất nước hai năm sau (1956). Tuy nhiên rõ ràng đó là một bản văn kí “cho rồi việc” chứ không ai tin tưởng vào sự thực hiện. Ở thế thắng, chính phủ HCM vẫn nhắc nhở đến Tổng tuyển cử nhưng ở thế thua kém, chính phủ Cộng hoà luôn luôn tìm cách bác bỏ, và từ đó là điểm tuyên truyền “chống Mĩ Diệm”: Ngô Đình Diệm phá hoại Hiệp định Genève, lời kết tội ngớ ngẩn thấy cả ở những trí thức chống đối hồi sau, rất lâu. Người tập kết được thu nhận cho toan tính tiếp nối có thể là cả thành phần thanh niên thành phố, như các nhóm học sinh Sài Gòn đầy mơ mộng, mang ảo tưởng giống cha anh lớp trước. Học sinh các trường Kiến Thiết (vùng Bàn Cờ), Huỳnh Khương Ninh (vùng Tân Định) chuyền tay nhau dưới gầm bàn lời kêu gọi ra “khu”, theo một âm mưu “bắt trẻ đồng xanh” đào tạo cho ngày quay lại, như Võ Phiến thấy ra, nhại theo nhan đề dịch của sách Mĩ. Nhưng những người vốn là chỉ bị lôi vào cuộc chiến thì thấy chuyện ở lại, trở về nơi sinh sống quen thuộc trước kia là chuyện bình thường. Hành động tự nhiên đó giúp chính phủ Kháng chiến khỏi bị mang tiếng bỏ rơi người hợp tác mà còn mở hướng trong thầm kín, là “cấy” / cài đặt lực lượng quấy đảo, kết tập vào hồi sau. Điều này rõ rệt nhất là đối với trí thức vùng Nam Bộ / Sài Gòn.

Tính cách nhiệt thành hơi ngây thơ của trí thức, như đã nói, thật ra cũng là bởi giáo dục Pháp gây nên, từ nền giáo dục họ tận hưởng hoặc ngay chính ở nước Pháp, hoặc tuy là ở thuộc địa nhưng cũng là dành cho / để đào tạo tầng lớp trên của xã hội. Vẫn tiếp tục như điều chỉ xảy ra ở Paris, nhà chính trị ở Sài Gòn cũng thấy dễ dàng chuyển hướng: Hồ Hữu Tường, cựu đảng viên Đệ Tứ, ra sức cổ động một chủ thuyết mới vượt trên chủ nghĩa tư bản và cộng sản, mang tên Trung Lâp Chế, nhằm cứu nhân loại khỏi cảnh Thế chiến thứ Ba – lại cũng như những hoang tưởng đồng dạng mà khác phe phái của những người cùng thời đại! Trở về lại thành phố, vẫn trong không khí “Tây” quen thuộc, dựa trên địa vị, công việc xưa, tài sản có sẵn, những người “kháng chiến” tiếp tục hành nghề cũ, mở tiệm thuốc, khám bệnh, làm báo, hay chỉ giản dị là ngồi không thu lúa ruộng, vọng tưởng về kháng chiến… Rồi bởi không khí quen thuộc, với giá trị xã hội không sa sút đó, họ tham gia chính trị chống đối một cách có khi thật là tự nhiên. Các ông Thiếu Sơn, Trịnh Đình Thảo (khôn ngoan còn là chức sắc Cao Đài) từng dựa thế của đảng Xã Hội Pháp; ông Nguyễn Hữu Thọ tiếp tục thản nhiên hành nghề luật sư, đòi hỏi Hoà bình để cho người Cộng Sản có ưu thế. Nguyễn Bảo Hoá có vì phong trào Hoà bình mà bị tù đày thì vẫn có thể tiếp tục làm báo, viết tiểu thuyết như từng là tác giả Tô Nguyệt Đình của Bộ áo cà sa nhuộm máu. Bà Phạm Thị Yên, Bí thư chi bộ trí thức Sài Gòn Chợ Lớn, ra khu với sự thoả mãn nhìn thấy thần tượng độc nhãn Nguyễn Bình, rồi trở về mở tiệm thuốc tây to lớn nuôi ông chồng Trần Bửu Kiếm tiếp tục chiến đấu… Cả những người không chịu đựng nổi, hay bị xua đuổi khỏi chính quyền Việt Minh, khi luồn lọt về Thành cũng tự coi mình như là người kháng chiến thất thế, theo trào lưu chống đối mà co rút làm “người trùm chăn”, với ngầm ý khinh miệt quyền bính nơi mình ẩn núp.

Những người đó hãnh diện với công việc cứu nước, vì nhân loại của mình mà không thấy chỉ là thành phần được thúc đẩy của một lớp người nấp lánh khác, ít học nhưng tự cho là ưu tú hơn, xứng đáng hơn với vai trò lãnh đạo của thời đại. Đó là các đảng viên, có khi là những đảng viên gốc địa chủ, tư sản được cấp tiền để ở lại “tranh đấu trong lòng địch”, trốn tránh trên bìa rừng, bưng ruộng, thật ra cũng là một cách thanh trừng nhẹ nhàng mà còn có chủ đích là đăt người vào thế tự cứu để lập công cho Đảng. Đó là trường hợp cụ thể của ông Tỉnh uỷ Bình Định gốc địa chủ, chung đụng với người Bana trong 20 năm, trở về với vinh quang mà lạc lõng trong thay đổi của tình hình, thật thà kể lại công tích bằng hồi kí Ở lại với dòng sông (Côn). Bảo tàng Chứng tích Chiến tranh ở Thành phố Hồ Chí Minh nay đã hãnh diện phô trương chính sách đó trên những bức hình hoành tráng. Từ âm mưu đó mà tiếp theo cụm từ Tập kết đương thời đã có từ Quần kết ít người biết: (tưởng) đi rồi (nhưng thật ra là lòn) trở lại. Quyết định quần kết chứng thực ở cấp cao chỉ được biết rõ sau hơn hai mươi năm chiến thắng, được ông Võ Văn Kiệt kể ra để ca ngợi cấp trên mình: Ông Lê Duẩn ban ngày tổ chức tiễn đưa lên tàu cho mọi người thấy, rồi ban đêm lén lút tụt lại với vài tiểu đoàn thiện chiến. Lịch sử cũng từng có chuyện những biến động nhỏ gây ra sự sụp đổ mang tính đại cuộc, chuyện những nhân vật cấp thấp đẩy đưa các tay oai võ trùm trời miễn cưỡng nhảy vào lên tiếng múa may, nhưng mãi cho đến nay, hình như chưa thấy ai công nhận rằng tình hình bùng nổ mang tính thế giới ở Việt Nam, kéo dài cả đến “cuộc chiến Đông Dương lần thứ Ba” có phần là do sự bướng bỉnh của một nhân viên hoả xa Đông Dương cũ. Trực tiếp nghe doạ cắt viện trợ, các ông Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp… có thể phải chịu khuất phục ở Genève nhưng làm sao điều đó tác động được đến ông Bí thư Xứ uỷ chúa vùng trên mảnh đất xa tít, đang thấy hừng hực khí thế chiến thắng xung quanh mà lại bảo phải chịu buông xuôi, bỏ rơi tất cả?

Đệ nhất Cọng hoà và Mặt trận Giải Phóng

Những người khóc than cho sự chia cắt Việt Nam, không tin ở tính chất giới tuyến nói là tạm thời để an ủi, như trong các bản văn kí kết, những người đó thật cũng có đủ thực tế trước mắt để tin về một cuộc chia cắt vĩnh viễn: Giới tuyến quân sự ngăn cách chỉ có một chiều ngang trên 40 km có con sông vẽ nên rành rẽ, các đối phương chính thức thì một bên có một cường quốc nguyên tử bậc nhất không tranh cãi, cho dù còn ra vẻ lẩn khuất nhưng vẫn là lù lù trước mắt mọi người, bên kia là một tập đoàn vừa tạo chiến thắng có tính cách tượng trưng toàn cầu nhưng cũng vừa được có kinh nghiệm thực tế thấm thía về giới hạn đàn em của mình.

Cho nên trong cuộc chiến chống cộng trên bình diện mới của thế giới, người Mĩ thay thế người Pháp là điều không tránh khỏi. Thủ tướng Ngô Đình Diệm của Quốc gia Việt Nam tổ chức trưng cầu dân ý lật đổ Quốc trưởng Bảo Đại (23-10-1955), thành lập nền Cộng hoà (26-10-1955) cho có dạng ứng hợp với tình hình mới. Sự mệt mỏi sau chiến tranh cũng như thời gian tạm thời thi hành các kí kết, cho phép ông Ngô Đình Diệm tập trung quyền lực bị phân tán trong các giáo phái, quân giang hồ, đảng phái sứ quân… đẩy được người Pháp hậm hực ra đi. Tất nhiên là vẫn có bàn tay người Mĩ trong sự tạo dựng chế độ mới: Họ tung tiền mua chuộc giáo phái, tập đoàn chính trị, gởi cố vấn yểm trợ, huấn luyện quân đội, mở trường hành chánh quản trị… Nhưng cho dù phải chịu đựng sự công kích về một “chế độ thực dân kiểu mới” như được rao giảng về phía người đối kháng thì chính quyền Cọng hoà vẫn có những người của dân tộc, địa phương, gắn bó một chừng mực với vùng đất họ sinh ra và lớn lên, thành thật tin tưởng phải bảo vệ nó, không như biểu tượng của một chính nghĩa thì cũng là một chốn nương thân, nơi cuối cùng để sống còn không ô nhục mà những người tự cho là lãnh đạo dân tộc, đất nước đã không chừa cho họ. Đó là những người lúc đầu vì sự phân đôi thế giới thành ra có chỗ để tự sắp mình ở hàng ngũ chống Cộng, một thứ Cộng đang thắng thế, nên mang một vẻ tập họp hỗn độn, ngoài lí tưởng cấp thời là chống Cộng, còn là một ý thức mơ hồ về việc xây dựng một nền tảng chính trị dân chủ Tây Phương mà trong cụ thể còn phải được người Mĩ có khi cầm tay chỉ dẫn, qua các cố vấn trong bóng tối hay các phái đoàn công khai. Sự yếu đuối, èo uột, những khuyết điểm của chế độ thường được phô bày, nhìn xét theo định kiến như là độc nhất xấu xa riêng biệt của một phía, là đáng tủi hổ, phải được bài trừ, tiêu diệt. Hình ảnh đó chỉ sẽ được điều chỉnh khi người ta thấy được những kẻ thay thế mang đến những khuôn mặt mới mà rộn ràng như hồn ma cũ.

Dù sao thì Tổng thống Ngô Đình Diệm cũng thừa hưởng được một tập thể quân đội mang tính phi chính trị, nên khi tước quyền (9-10-1954) tướng cầm đầu Nguyễn Văn Hinh của người Pháp thì ông có lực lượng quân sự để trị phe anh chị Bình Xuyên ngay bên trong Sài Gòn (5, 9-1955), trị giáo phái Hoà Hảo (Ba Cụt 1956), phe Đại Việt li khai (Ba Lòng, Quảng Trị 1955) sau khi điều đình không được. Gần một triệu người di cư được thu xếp vào những vùng trống (khu Trù Mật, Dinh Điền 1957) tuy tránh được những xung đột nhỏ với địa phương nhưng lại trở thành những tập nhóm riêng biệt mà với ý thức tự trị từ hồi còn người Pháp, họ trở thành không hoà nhập với địa phương. Thêm với những lời tuyên truyền về vai trò dân Chúa trong việc chống Cộng, họ trở thành những kiêu dân, ít nhiều gì cũng gây ra những biến động về sau làm sụp đổ chế độ mà chính họ muốn bênh vực, chống đỡ.

Sự chuyển giao quyền lực của Pháp cho Sài Gòn khiến một bộ phận nhân viên thuộc thành phần thiểu số cảm thấy thất thế, mặt khác cũng mở đường cho tham vọng nên có những Mặt trận Giải phóng riêng rẽ cho người Chàm, người Cao nguyên, người Khmer Krom, được Sihanouk và Việt Cọng lợi dụng lôi kéo: Cambodge với nhóm dưới quyền trung tá Chàm Les Kosem thuộc tập đoàn sống ở Miên; Mặt trận Giải Phóng Dân Tộc Cao Nguyên (1955), 1958 có danh hiệu Bajaraka (Bahnar, Jarai, Rade, Kaho). Việt Cộng có I Bih Aleo, người Rhadé, chủ tịch Uỷ ban Dân Tộc Tây Nguyên Tự Trị. Vấn đề Cao nguyên Trung phần / Tây Nguyên chưa nổi bật nhưng cũng cho thấy những dao động từ đồng bằng đưa lên trong vụ một thanh niên Cao Đài ám sát hụt Tổng thống nhân chuyến kinh lí Ban Mê Thuộc (1957).

Những phương cách hành động để thu hút, hay “trị” quần chúng của người Cộng Sản được phe Quốc gia / Cộng hoà sử dụng cũng có hiệu quả, bởi vì người quốc gia tuy phải sử dụng theo cách bắt chước nhưng lại thực hiện được dễ dàng, có khi tự nhiên vì xuất phát cùng một tâm thức dân tộc. Tổng thống Ngô Đình Diệm được đón chào nhiệt thành nhất, đến mức làm ông phải ngạc nhiên, là ở những vùng chính quyền kháng chiến cũ. Những người bày vẽ các cuộc đón chào ấy tuy là cán bộ kháng chiến “giác ngộ” / “hồi đầu lập công” nhưng đám dân chúng đã được huấn luyện trong tám chín năm về một thần tượng cầm đầu đất nước nên dễ dàng ồ ạt phất cờ, chen lấn nhìn mặt ông Tổng thống. Họ chỉ cần chuyển ý niệm “ra đi tìm đường cứu nước” qua lời ca “bao nhiêu năm từng lê gót nơi quê người” là thấy sung sướng, thoả mãn với một hình ảnh cao vời để được yên tâm trong cuộc sống. Ngay trong cuộc đảo chính đầu tiên 1960, người xướng suất cũng dụ quân dưới quyền là về “cứu Tổng thống”, cứu giá!

Nhưng kết quả dễ thương của lối “dụ”, trở thành hình ảnh khủng khiếp khi người ta bắt chước lối “trị” của đối phương. Chưa kể những ân oán giang hồ riêng lẻ của các nhóm đảng phái quốc gia với Cộng sản / Việt Minh, càng xưa càng thấm đậm oan thù (Đại Việt ở Quảng Trị và Quốc Dân Đảng ở Quảng Nam). Các phái đoàn kiểm soát quốc tế không thể nào áp dụng được điều khoản “cấm không được trả thù” chỉ vì nếu chỉ nhắm vào quá khứ, sự việc đã không giản dị, huống là những người cán bộ Cộng hoà từng trong kháng chiến chui ra đã biết về những toan tính của những kẻ đổi vùng, thay tên đổi họ, sống hợp pháp chờ cơ hội chiếm chính quyền. Và thế là chuyện giết người quay trở lại, cả oan cùng không. Đối xứng với Tố khổ của phong trào Cải cách Ruộng đất thì có Tố Cộng, vạch mặt chỉ tên những người nằm vùng, lẩn trốn, cả trước khi có luật 5/57 đăt Cộng sản ra ngoài vòng pháp luật, khiến ông Lê Duẩn thấy không còn dễ dàng luồn lọt trong bưng rạch dù mênh mông nhưng đã mất đến 90% tổ Đảng, nên phải luồn rừng về Bắc (1957) để lại ông Phạm Hữu Lầu đau yếu (1906-1959), bám trụ làm “Quyền Bí thư” cho đất Thành Đồng. Truyền thông, sử gia ngoại quốc có thể tìm ra rất nhiều chứng cớ về việc tra tấn, tù đày người cựu kháng chiến để an tâm về việc buông bỏ liên minh nhưng chính người Cộng sản la lối để chận tác hại mà cũng phải công nhận, ví dụ Đoàn Công tác Đặc biệt Miền Trung / “Mật vụ Miền Trung” đã làm họ hao tốn cán bộ đến mức độ tê liệt hoạt động như thế nào. Ông Bí thư Tỉnh uỷ Bình Định cũng thú nhận hầu hết các …uỷ, uỷ ông đẩy xuống đồng bằng đều bị mất tăm. Người ngoại quốc không biết cách đánh nhau theo truyền thống khu vực, thấy thật đúng là tàn nhẫn, ghê tởm nhưng ở đây, đó là chuyện thường ngày ở xã. Kẻ trên đà thất bại để tiếng chê cười, bị người đương thời xa lánh, khinh ghét trong lúc người thắng trận lấn lướt che lấp, đến khi bị tiết lộ thì hoặc dễ dàng có kẻ bao che, hoặc để rồi theo với thời gian, chuyện lúc đó đã trở thành quá khứ, chỉ là chuyện kể lịch sử cay cú hay chỉ để làm quà cho nhau nghe.

Nhưng như đã thấy, Việt Nam Cộng hoà mang danh vị của một tổ chức chính quyền theo lối dân chủ Tây Phương nên không thể điều hành theo lối làm việc khuất lấp, dù họ có cố gắng che giấu những việc khuất lấp hay vì bất lực không đủ quyền ngăn chận. Sự yếu ớt căn bản của một chế độ như vậy dễ bị khoét sâu đến mức không cứu vãn được, trong khi kẻ địch vừa lợi dụng được tính công khai của các hình thức chính phủ, quốc hội có sự dòm ngó của truyền thông quốc tế xoi mói… lại vừa có một đoàn thể cố kết không mang tên Cộng Sản / Lao Động mà là Cách Mạng Nhân Dân, tên nào thì cũng có thể làm “cách mạng” trị người theo kiểu truyền thống hoặc tân tiến: Mang súng đi thu thuế kiểu “ủng hộ”, ám sát cán bộ xã, nhà giáo bằng dao rựa cán cuốc, theo cách được một học giả ngoại quốc khen là “có chọn lựa”. Hăng say với nhiệt tình cách mạng, họ không cần biết đến các điều ước quốc tế, như khi viên bí thư huyện uỷ Thủ Đức Nguyễn Văn Chẳng bắt giết (15-10-1961) Đại tá Hoàng Thuỵ Năm, trưởng phái bộ VNCH trong Uỷ hội Quốc tế. Đất đai thu hồi rộng lớn theo hiệp định còn rất nhiều khoảng trống quyền lực, thế mà lại được cai trị bằng những viên chức xuất thân thành phố, thị trấn, mang những nguyên tắc cai trị sách vở thời bình, chưa kể là còn xa lạ (của phái đoàn Đại học Michigan dạy!), không chút nào ứng hợp với thực tế. Còn chỗ trống diẹn địa nên có chỗ cho những người cựu kháng chiến trốn nấp. Còn chỗ trống cho các giáo phái li khai giữ được quân, không theo Cộng nhưng với thời thế rồi cũng biết phải theo bên nào mạnh hơn. Thế mà ngay chính từ nội bộ của chính quyền vừa tạo dựng cũng bắt đầu có sự phân hoá.

Là người của thời đại chính trị mới, Ngô Đình Nhu, người lèo lái chính sách của nền Đệ nhất Cộng hoà, hiểu rõ được cái thế bấp bênh của một chính quyền dựa vào sự ủng hộ của ngoại quốc và những tập họp phân tán nay đầu mai đánh, nên tự thấy phải lập một đảng riêng, đi tìm quần chúng ủng hộ chính quyền. Đó là đảng Cần Lao vốn được thành lập từ 1953 với tên Công Nông Chánh Đảng, nay được chính quyền hoá với thủ lãnh là ông Cố vấn Ngô Đình Nhu, chứa đựng một triết thuyết mang tính xã hội có dáng liên kết mơ hồ với thuyết Nhân vị Công giáo Tây Âu, nên cũng thường được gọi là đảng Cần Lao Nhân Vị. Đảng của người cầm quyền thì tính xu phụ tất thấy rõ. Chưa kể nền tảng Công Giáo từ đó làm tăng sự a dua đã đào sâu khía cạnh tôn giáo khác biệt, gây tác hại lớn về sau. Cho nên nhật báo Cách Mạng Quốc Gia không thể nào có được sự kềm thúc như của tờ Nhân Dân phía Bắc. Các tạp chí văn hoá như Sáng Tạo, Bách Khoa, Quê Hương, Hiện Đại… khác với tờ Học Tập phía Bắc (sau 1975 là Tạp chí Cộng Sản) không dám dấn thân sâu vào chính trị nên chỉ có tác dụng tiêu cực về mặt chống đỡ cho chế độ, không bõ với việc công nhận được sự yểm trợ tài chính sít sao của chính quyền hay người Mĩ. Sự kiện cải cách ruộng đất kinh hoàng phía Bắc được dân di cư đưa vào và công bố trên sách báo, như của ông Hoàng Văn Chí, vẫn không mảy may làm xáo động dân tại chỗ để đảng mới có thể đi tìm quần chúng.

Thế mà từ các hành động thanh trừng Cộng sản chính thức ở thôn quê, hay còn né tránh ở thành thị, việc lập đảng của chính quyền đem đến một tính cách đoàn ngũ hoá mà dân thành thị vốn quen buông thả chưa từng chứng kiến sự ràng buộc xoi mói, nên lại gây ra những phản ứng bước đầu làm lung lay chính quyền ngay ở thành phố, nơi cơ sở quyền lực được tập trung. Thế là từ ngữ “độc tài” được đưa ra thêm với “gia đình trị” mang dáng vẻ mới, được xướng suất bởi nhiều thành phần chống đối lẫn lộn cũ mới mà ở giai đoạn này lại vẫn vướng víu nhiều với tàn dư của người Pháp để lại trên thủ đô nước Cọng hoà vốn là thủ phủ Nam Kì cũ. Về mặt chính trị, đó là nhóm Caravelle đưa tuyên ngôn chỉ trích chính quyền từ một nhà hàng sang trọng, như dấu hiệu tiêu biểu tính cách của nhóm, đầy những người khoa bảng thuộc địa, do đó có đáp ứng từ bên ngoài hơn là ảnh hưởng đến dân chúng trong nước. Về mặt quân sự đó là cuộc đảo chính thất bại 1960, tuy báo hiệu sự xuất hiện của quyền bính quân sự mới nhưng những người xướng suất rõ ràng là một bộ phận quân nhân cũ, thời Pháp / Quốc gia. Cuộc đảo chính thường được nêu danh với những người cầm đầu khác nhưng chủ xướng là trung tá Nguyễn Triệu Hồng âm mưu với các chính khách đối lập bị gạt ra rìa (Hoàng Cơ Thuỵ, Phan Quang Đán), lại vẫn có dáng của “gia đình” – chưa kể là “di cư” xa lạ. Ngay cả các nhân viên trí thức cựu kháng chiến trở về Thành, bỏ ra đi tự nguyện hay thoát từ ngục tù, thuộc các nhóm “tiền Mặt trận” cũng có thể liệt vào “thành phần Pháp để lại” không oan uổng tí nào.

Và dù không thuộc hàng trí thức cao, những người ẩn lánh khác ở quận huyện, thị trấn nhỏ cũng là “thành phần của Pháp” để lại vì tuy đã rời xa trong kháng chiến mà vẫn mang tâm tình cũ. Với tính cách người toàn quyền điều hành Đảng tại chỗ, gắn bó thêm với địa phương vì chiếm được người tình của một thuộc viên làm vợ lẽ, ông Xứ uỷ Lê Duẩn hiểu rõ tình hình, biết rằng sức mạnh kháng chiến nơi này còn nằm trong uy tín, khả năng kĩ thuật của tầng lớp trí thức, tư sản, địa chủ, không chừa cả sự tham gia của những lãnh tụ tôn giáo, nên đã đồng ý ngăn chặn không cho thi hành cải cách ruộng đất ở Nam Bộ. Cuộc hôn nhân kia chỉ cần sự chấp nhận của người trong Đảng, một thuộc thành phần cao cấp ở địa phương (Phạm Hùng, Giám đốc Công an Nam Bộ), một như dấu ấn của trung ương (Lê Đức Thọ), chứng thực trên cấp cao, lần đầu, về sự thao túng quyền uy của Đảng vượt trên luật pháp quốc gia khiến bà Lê Duẩn II bị bỏ rơi trên đất Cảng, thèm thuồng cảnh êm ấm của vợ chồng người, phải luồn lọt trở về đất địch, ẩn nấp giữa xứ bùn lầy kinh rạch quen thuộc. Còn thấy giấy tờ (3-1979, hồi tố) ông chứng nhận kết nạp đảng viên “riêng” cho Cao Triều Phát (1889-1956), đồng ngũ ngày xưa với đạo Tưởng, đại địa chủ, Chánh Đảng trưởng Đông Dương Lao Động Đảng (1926), đương kim Giáo chủ hệ phái Cao Đài li khai ở Bạc Liêu, người từng làm “Anh Cả” của hơn bốn ngàn tín đồ Minh Chơn Đạo, đơn độc chống Tây (4-1946). Không có một bằng cớ nào rõ rệt hơn về tinh thần Cứu cánh biện minh cho Phương tiện chuyển sang ý định Lừa dối với Bất cứ giá nào. Thật ra, dối trá không chỉ là tâm bệnh cá nhân mà ngay trong căn bản lí thuyết đã mở đường cho thể chế hoá. Từ chỗ say mê lí tưởng, nhiệt thành tạo dựng sự Đổi đời, họ cho rằng việc phá vỡ bất cứ khuôn khổ cũ nào cũng là hợp lí, rồi nhân đà có quyền lực, họ trở thành kẻ Muốn làm gì thì làm mà có khi không tự ý thức được.

Sự thao túng kia thực hiện được cũng vì khả năng trung ương không đủ với tầm tay xa tận phía nam, và do đó những người kháng chiến ở đây – và quần chúng liên hệ, như đã nói, chỉ biết một khung cảnh kháng chiến Chín năm, thời gian định hình cho một danh xưng, một hoài niệm riêng biệt toàn vùng, tạo thành một niềm kiêu hãnh mạnh mẽ vừa mang tính lí tưởng dân tộc bao trùm, vừa có tính địa phương co cụm. Và cũng như ở mọi ước mơ chưa thành hình, sự thôi thúc chiến đấu được nâng đến tầm cao khi chính bản thân họ bị đe doạ với chế độ Cọng hoà sơ khởi khiến họ phá ngục tù, trở về chốn cũ, đào vũ khí chôn giấu, tự cứu bằng cách mở rộng kềm kẹp trong xóm làng, thực hiện những cuộc ám sát các viên chức xã, đầu mối đe doạ an ninh bản thân, và phá trường học, giết thầy giáo, tiêu diệt từ trong trứng nước đầu mối tạo đe doạ trong tư tưởng. Bộ phận tuyên truyền đem những hình ảnh sử dụng hồi Chín năm áp dụng cho kẻ thù mới, khai thác mọi khía cạnh sơ hở của đối phương, như chỉ từ một sơ suất về vệ sinh ăn uống của nhà thầu Phú Lợi đã biến thành một chủ trương tàn ác đầu độc tù nhân rộng lớn của chính quyền, mở màn cho các chiến dịch chống đối gây căm thù. Luật 10/59 xử tử người chống đối bằng cái máy chém của người Pháp để lại, được diễn giảng bằng hình ảnh “kéo lê máy chém…” ghê rợn khiến vật chứng còn được đem ra trưng bày trong Bảo tàng Chứng tích chiến tranh bây giờ. Họ phát huy kĩ thuật tranh chiến không có ở những cả những đơn vị quân đội Cộng hoà “làm việc quân dịch trong thời bình”. Và thế là bắt đầu của phong trào gọi là Đồng Khởi (1960), sau này vẽ vời riêng biệt ở Bến Tre cho bà goá “nữ tướng” Tư lệnh phó Quân đội Giải phóng, Nguyễn Thị Định, dẫn đầu Đoàn quân Tóc dài “ôm hè giựt súng” đám Dân Vệ (thành lập 1956) xóm làng bà con, phải lúng túng như tình cảnh các cậu lính Quốc gia đứng trước đám đàn bà, con nít la ó giành giật con bò, bao lúa của ông tỉnh uỷ Bình Định chăm chút, cất giấu rủi ro bị phác giác!

Cái trò chơi nhỏ đó nằm trong sự liên kết trùng trùng xếp đặt sẵn sau ngày 27-7-1954, đến lúc này trở thành mối nguy không che giấu cho chế độ, dẫn đến sự chấm dứt một giai đoạn Cộng hoà, đẩy chiến tranh địa phương lên tầm mức liên vùng, quốc tế. Ông Lê Duẩn thấy mình thênh thênh trên đường sự nghiệp giải phóng bằng bạo động được ông vẽ ra từ tháng 6-1956 trong Đề cương Cách mạng Miền Nam. Tháng 9-1960, Đại hội đảng Lao Động họp, chính ông đọc Báo cáo chính trị rồi được bầu làm Bí thư Thứ Nhất. Và ngày 20-12-1960, trong vùng căn cứ Tây Ninh, ở một loại “biên khu” / vùng trống quyền lực, với đất Cambodge, Tây Nguyên sau lưng, Mặt trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam ra đời.

Hà Nội, Sài Gòn, rồi Huế

Ngay cả khi không có những biến động phù trợ tiếp theo thì một tướng từ chiến trường về như ông Lê Duẩn hẳn vẫn có tiếng nói vượt trội hơn các người cầm chính quyền ở Hà Nội, nơi không còn bị súng đạn đe doạ nữa. Ít nhiều gì những người này cũng chờ đợi hưởng thụ mà lại phải loay hoay trước tình thế tự bản thân vốn không có chút kinh nghiệm nào về việc quản trị một vùng đất to lớn, lại được trao trong cảnh hoang tàn, đổ nát. May thay, tình thế tuyệt vọng của các đồng chí ở Miền Nam không những đã cứu vãn danh dự họ mà còn mở lối đưa họ lên đến đỉnh vinh quang mới.

Quân đội Pháp và quân phụ lực của họ khi rút đi đã không chịu để lại thứ gì nằm trong tầm tay họ. Không mang đi được thì phá huỷ, như đơn vị nào đó đã giật sập ngôi chùa Một Cột… Có lời đồn đãi “Chúa đã vào Nam” lôi cuốn người đi, đồng thời với việc cài đặt người ở lại phá hoại của người Mĩ, đã bắt đầu nhìn thấy mình phải nhúng tay sâu hơn ở khu vực này. Chính quyền kéo về đồng bằng (tiếp quản Hà Nội 10-10-1954) thì rừng núi hở kềm kẹp, các toán “phỉ” nổi dậy, ở biên giới Đông, Tây Bắc gì cũng có. Có phong trào “xưng vua”, “đón vua” tiếp tục truyền thống bị dằn nén cũ, và tất nhiên bị đàn áp vì đất nước độc lập đã có một ông vua không được tranh cãi rồi. Loạn xuất hiện ngay ở Quỳnh Lưu, vùng quê hương của Chủ tịch nước. Cũng nên nói thêm rằng các hiện tượng “xấu xa” này xảy ra – được đẩy qua thành tội trạng của phía Pháp và Quốc gia, lại cũng mang những dạng hình tương tự hoặc lạ đời ở phía người cầm quyền đã rời bỏ phía dưới vĩ tuyến 17. Các toán quân tiếp thu được cán bộ nằm vùng xúi giục dân chúng gàn trở đóng quân, có khi mắng chửi “Việt gian”, hẳn là để nuôi tin tưởng cho đám quần chúng còn lại về sự hiện diện của mình, mà “thu hoạch” không ngờ lại là gây ra những cuộc bắn giết, tạo thêm hận thù mới, kết tập quần chúng hồi sau. Lạ lùng nhất là chuyện lập nghĩa trang liệt sĩ ở khuôn viên sân vận động (thay vì xác ngưới là súng ống đạn dược!), ngay giữa thành phố Quy Nhơn, để khi chính quyền mới cho dời đi thì có biểu tình, phản đối, kiện thưa…

Trong tình trạng quản lí lãnh thổ mà không đủ lực, chính phủ phải nhờ Hồng quân tiếp thu đảo Bạch Long Vĩ khi quân Pháp rút đi ngày 16-5-1955, để được trao lại năm sau. Không rõ đó là chuyện định chiếm đóng mà nuốt không trôi, nên chuyển qua cách giải thích thuận thảo đầy tình đồng chí thân thương hay không nhưng dù sao một thứ tiền lệ như vậy, hẳn là đã gây cho nhận định lạc quan của chức quyền Đảng về sau, khi quân Trung Quốc chiếm vùng Hoàng Sa (nhóm Cressent) của Việt Nam Cộng hoà 1974. Trên vùng đồng bằng, “tháng 9-1954 có gần nửa triệu người bị đói”, tình thế có cơ nguy như năm 1945 nếu không có viện trợ cấp tốc của Liên Xô để mua gạo từ Miến Điện qua. Ấy thế mà công cuộc cải cách ruộng đất vẫn tiến hành tiếp trên vùng “giải phóng”, trước sự chứng kiến của đám học sinh Miền Nam vừa đến, lần đầu thấy cảnh mắng chửi, đánh đập, xử tử người. E. Karnow trách ông Hồ sao không lo chuyện thực tế lúc bấy giờ là vấn đề kinh tế mà lại theo đuổi ý thức hệ vạch sẵn. Rõ ràng hào quang ông Hồ còn vướng víu trong đầu óc nên ông học giả không biết rằng ông Hồ đã lạc hậu ngay từ khi nắm được chính quyền. Ông vốn được đào luyên để tổ chức cướp chính quyền, nhờ chiến tranh giúp cho khả năng cầm quyền không bị phơi bày, tạo thêm một hình tượng thần bí rồi sẽ được các đồng chí, đồ đệ o ép, bồi đắp thành người Khai sáng cho quyền lực họ đang nắm giữ. Trong tình hình mới, ông chỉ có thể viết sách Sửa đổi lề lối làm việc (1947) mà lấy từ văn của Mao Trạch Đông, ý của Lưu Thiếu Kì. Cuốn Giấc ngủ mười năm (1949) cho thấy xã hội ông ra tay xây dựng, dắt dẫn dân nước như là của một huyễn tưởng được mớm từ xa. Hoang tưởng trở thành cuồng tưởng khi các đồng chí cố vấn Trung Quốc của ông mở đường, chỉ lối cụ thể trong cách thức thi hành cải cách ruộng đất mà ông nêu điển hình phải xử trí trong vụ trị tội bà Cát Hanh Long. Người Cộng sản thường gán nhãn hiệu “chế độ thực dân kiểu mới” cho Sài Gòn, cho tất cả các nước Đông Nam Á mà không thấy rằng chính họ mới là kiểu mẫu hoàn hảo nhất của chế độ ấy, với cả một chính quyền địa phương toàn tâm toàn ý thực hiện một chủ thuyết từ nơi xa (được phản tỉnh thú nhận là mang đầu óc “giáo điều”), đề xướng bởi những cường quốc mang tính bành trướng không che giấu.

Ngày 20-7-1956, đợt V cải cách và là đợt cuối cùng, được chấm dứt trên 6 triệu dân ở 20 tỉnh và hai thành phố. Cuộc “cách mạng” ruộng đất kinh hoàng đó kéo dài qua thế kỉ XXI mà vẫn chưa được công khai tổng kết, chỉ được tiết lộ theo lời các chứng nhân trốn chạy, với sự ồn ào của sách báo, tuy cũng khuấy động được phản ứng bên trong gây ra một tình hình sửa sai, có vài giọt nước mắt của Chủ tịch, sự lùi bước của Tổng bí thư nhưng không làm suy suyển quyền lực của Đảng, đủ để cho những lãnh tụ về sau vẫn đầy tự tin nơi quyền bính của mình. Sử chính thống đổ thừa né tránh về “sự áp dụng giáo điều kinh nghiệm ‘giai cấp chống giai cấp’ của nước ngoài (?!) vào hoàn cảnh nước ta” nhưng sau sửa sai, ruộng đất bị tịch thu không được hoàn trả, sự đàn áp tư sản vẫn tiếp tục, hệ thống hợp tác xã được xây dựng, siết chặt thêm quyền lực trên nền nếp Khủng bố Nhà nước đã thành hình. Sửa sai chỉ là một dịp củng cố thành tích. Từ đây người dân thấy rõ thực trạng họ phải chịu đựng dưới những người lãnh đạo “dân tộc” nên có dịp thì tuôn chạy không cần phải ai hô hào, xúi giục. Còn những người có chút suy nghĩ xa hơn thì giật mình không hiểu tại sao con người – không phải chỉ một vài cá nhân, bộ phận, lại có thể đối xử tuyệt tình, tàn ác với nhau như thế, giống như là cái ác vẫn nằm sẵn bên trong (người Việt?) chỉ cần được gợi nên, thúc giục là bung ra, hoành hành!

Cán bộ Cộng sản vẫn được khen là xuất thân từ quần chúng nên dễ dàng “trị” được khối quần chúng lớn lao ở nông thôn. Họ gặp khó khăn hơn ở thành phố với phong trào chống đối của văn nghệ sĩ trí thức tham gia trong các báo Nhân Văn, tập san Giai Phẩm, Đất Mới, được gọi chung là phong trào Nhân Văn Giai Phẩm. Những người này chống đối sự lãnh đạo của Đảng, đòi được tự do trong văn nghệ đúng ra với những lời lẽ, ý tưởng có khi vẫn còn là những cầu xin, né tránh búa rìu… Lạ lùng thay, đây cũng là dấu vết để lại của người Pháp, được gợi nhớ theo sự tiếp thu các thành phố lớn với sinh hoạt mới hôm qua còn nằm dưới quyền họ. Có thể nói đây là nội loạn trong một chế độ “dân chủ nhân dân” mà có dư hưởng của thời thuộc địa. Đó là sự phản kháng của Phan Khôi, “tây” hơn bất cứ nhà nho nào khác. Đó là phản kháng của Trần Dần chủ trương nhóm Dạ Đài, người tiếp nối dòng thơ ảnh hưởng Pháp sau Xuân Diệu, Huy Cận, loại siêu thực, siêu siêu gì đó mà Hoài Thanh chưa kịp viết trong tác phẩm của ông. Đó là sự gắng gượng nhớ lại những bài học trong các ngôi trường Pháp, các nơi đào tạo cũ của các ông Nguyễn Mạnh Tường, Đào Duy Anh, Trần Đức Thảo… Lại cũng trùng hợp với sự lưỡng lự, thụt lùi trên thế giới của các bận đàn anh ý thức hệ: Khrutchev tố cáo Stalin làm nảy nở những phản kháng của các đàn em Hungary (nhóm Petofi), Ba Lan, có Mao Trạch Đông chiêu dụ, mời gọi “trăm hoa đua nở…”

Nhưng trăm hoa chưa nở bao nhiêu thì đã sớm tàn, Suvlov lật đổ Khrutchev, Ba Lan, Hungary nổi dậy bị đàn áp, Nhân Văn Giai Phẩm cũng không tránh được số mệnh dành sẵn cho mình trên vùng đất có sự tuân phục ngàn đời (Nhân Văn bị cấm 15-12-1956). Người người tố cáo nhau để chạy tội hay tâng công, tránh né nhau, cả khi với một người đã chết, như khi Yến Lan đưa đám Phan Khôi bị cho là khùng điên. Một toà án được mở ra trị tội những tên gián điệp chống đối Nguyễn Hữu Đang, Thuỵ An, ông chủ Nxb. Minh Đức Trần Thiên Bảo, với cả một nhân vật tình cờ liên luỵ làm ngơ ngẩn các học giả quen tìm sự chính xác. Trần-Dần-nhà-thơ tú tài, chê quan chức văn nghệ Tố Hữu chưa-có-đíplôm viết vè lục bát, bị đày đoạ mà vẫn tha thiết ước mong thượng cấp thương tưởng ngó lại. Trần Đức Thảo trở thành người trích văn lãnh tụ to nhỏ; Đào Duy Anh lầm bầm với “thời kì Đồ đểu”. Chỉ có thoát nạn là người đàn bà qua đường, phê phán linh tinh Nguyễn Đình Thi: “Thằng lào mà lịnh thế?” may mắn không được tới tai công an! Tình hình đó tạo thành một khuôn mẫu phát biểu mới ngay trong đời sống hàng ngày: “Báo cáo đồng chí, anh/chị…” mà Lady Borton (bản dịch 2006) rất lâu về sau còn nhận ra. Và thi sĩ Anh Thơ theo thói quen, chào người trên diễn đàn ở Paris: “Nhờ ơn Bác và Đảng…”, bình thường như trong các khẩu hiệu về sau: “Mừng Xuân, mừng Đảng” đặt Đảng ngang hàng với Đất Trời! Ngay cả các lãnh tụ đương quyền xuất thân phú quý (Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng…) cũng phải nín lặng, “đầu hàng Giai cấp” để giữ địa vị, mở đầu cho đường hướng thực tế xuyên suốt về sau là viện dẫn Lênin “không (được) chao đảo”, nắm chặt quyền uy có sẵn, sử dụng ngôn từ văn hoa bí hiểm hoặc tự mình nghĩ ra, hoặc từ vô số kẻ thuộc quyền sáng tạo tung hô, để trị số đông mang thói quen tuân phục vì không có cách nào khác hơn là phải tuân phục. Sự sụp đổ không dạng hình của đất nước kéo dài mãi về sau chính là bởi sự mất tự tin, mất định hướng của tầng lớp cầm quyền mới đó. Tính chất lạc loài đó khiến cho xứ sở thời độc lập sẽ không tìm đâu ra một dạng hình quốc gia tiêu biểu mà các nước khác trong vùng còn giữ được: nét biểu trưng “phong kiến” thì đã bị xoá sạch, khó có thể trở lại, còn mẫu hình xã hội chủ nghĩa thì cũng rõ là trên đà tan rã, muốn bắt chước tư bản thì ngập ngừng để lại sa vào vết trượt phiên thuộc ngàn năm cũ, chỉ còn đường lối vơ vét, dương oai như với xứ sở thời xưa nào, cứ tưởng là đã qua…

Lí thuyết mácxít lêninnít là danh nghĩa, đường hướng Mao Trạch Đông mới dắt dẫn được sự việc cụ thể nên chủ trương hợp tác hoá phải mang các danh hiệu thi đua Đại Phong trong nông nghiệp… Ba Nhất trong quân đội… Bắc Lí trong giáo dục… giống với các phong trào ở phương Bắc. Cái khung hành chính mà người Pháp để lại, được quản trị bởi những ông làng mới đang lúng túng với những vấn đề họ không thể nào giải quyết nổi, càng lúc càng phải phức tạp hơn, có chìu đảo lộn lớn hơn nếu tình hình yên bình tiếp nối, trong khi đó thì tiếng kêu cứu từ Miền Nam xa có đại diện Lê Duẩn ở ngay thủ đô đã giúp các lãnh tụ Đảng trở lại thời loạn li quen thuộc.

Sử chính thống cho thấy ngay sau Genève, không có hoạt động tích cực nào ở khu vực Miền Trung bỏ lại chỉ vì sự đàn áp hiệu quả của chính quyền mới nơi này. Chỉ còn lại Nam Bộ sau Đề cương của Lê Duẩn, Xứ uỷ quyết định “tích cực lập các đội vũ trang bí mật, xây dựng căn cứ ở rừng núi”. Chính quyền xã ấp nhà nước co lại vì các cuộc ám sát, các đơn vị vũ trang Việt Cộng bạo dạn tấn công các đơn vị lẻ, lấn vào các thị trấn nhỏ (quận lị Dầu Tiếng), đánh trụ sở Cố vấn Mĩ MAAG ở Biên Hoà (25-10-1958), chen vào các cuộc biểu tình hợp pháp ở thành phố lớn đòi dân chủ, hoà bình, thống nhất (Kỉ niệm Quốc tế Lao động 1-5-1958, 1960 ở Sài Gòn – Chợ Lớn). Tình hình rối loạn đó khiến chính phủ Ngô Đình Diệm tuyên bố đặt đất nước trong tình trạng chiến tranh (tháng 3-1959), ban bố Luật 10-59 “kéo lê máy chém khắp Miền Nam…” Đồng thời Hà Nội quyết định thay đổi chính sách, chủ trương “cách mạng Miền Nam cần có Mặt trận dân tộc thống nhất riêng” để chống đế quốc và tay sai. Đại hội Đảng lần thứ III tháng 9-1960 có Lê Duẩn vừa được làm Bí thư thứ Nhất, xác định là “Đại hội xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Miền Bắc và đấu tranh thống nhất nước nhà”. Đầu 1959, đoàn Vận tải Quân sự Trường Sơn gọi tắt là Đoàn 559 được thành lập mở đường, đến cuối năm đưa 542 cán bộ, 1 667 súng và quân dụng khác vào Nam. Năm sau, có 51 tấn vũ khí đạn dược cho Khu V (Miền Nam Trung Bộ). Thế là có Đồng Khởi, có Mặt trận Dân tộc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam. Và người Mĩ chen vào chính tình Đông Dương, riêng biệt Việt Nam, càng lúc càng đậm nét hơn.

Tính chất yếu ớt của chính quyền Miền Nam không phải chỉ vì thể chế cộng hoà lựa chọn mà còn vì thành phần tập họp và tình thế quy tụ của nó nữa. Đã nói về các giáo phái, đảng phái mà chính phủ phải lo hối lộ, mua chuộc, diệt trừ, các hành động đưa thêm rắc rối vì thu thập thêm thành phần bất khả tín, tạo thêm an toàn cho những tập họp chống đối còn vị trí, địa vực để ẩn náu làm loạn tiếp… Người hăng hái chống Cộng là gốc từ xa, tuy có thể gọi là thành phần tinh hoa của tầng lớp trên ở Miền Bắc nhưng lại đến đóng đô trên thành phố hừng hực lửa kháng chiến, chưa kể có sự tồn tại của một loại tâm thức giáo phái hội kín khác biệt, đồng thời với cả sự buông thả sinh hoạt của nơi này do tính chất khai thác thuộc địa và ý thức dân chủ người Pháp để lại. Thế là ông Tổng thống phải tìm một ông cựu Đốc phủ sứ làm Phó, phải chia quyền cho những người địa phương, gây bất mãn nơi những người từng ủng hộ mình, lúc nào cũng vẫn thấy chưa được đền bù đủ. Vấn đề Nam Bắc không được công khai mà vẫn sôi sục. Muốn bắt chước cải cách ruộng đất để ve vãn nông dân thì lại chừa cho địa/điền chủ đến cả hàng trăm mẫu. Điền chủ mất đất không bằng lòng đã đành mà nông dân lâu nay vẫn cày cấy, thu hoa lợi ruộng rẫy của ông chủ nằm ở thành phố, tất nhiên cũng không bằng lòng nốt, trong lúc những người xúi giục họ chống đối không báo trước là sẽ thu đất làm hợp tác xã một khi chiến đấu thành công. Chưa kể trường hợp những người nhận đất bị trừng trị không thương tiếc.

Tất nhiên không cần kể sự đe dọa trùng trùng của người cộng sản địa phương và xa tận Hà Nội, đầy mưu lược, không khi nào chịu dừng lại khi chưa chiếm được chính quyền trọn vẹn. Người cộng sản đã hành động đúng với tính cách của một lớp người làm chính trị chuyên nghiệp độc nhất ở xứ này. Họ theo một chủ thuyết hướng về tương lai chống đế quốc tư bản, cụ thể là người Pháp – rồi Mĩ, nên dễ dàng chịu sự lựa chọn vô thức đẩy về phía Trung Quốc có sức nặng cả tỉ người, mang truyền thống đồng văn mà có dạng mới, che lấp quá khứ thiên triều cũ. Trong lúc đó sự lựa chọn của những người chống Cộng là phải đứng về phía bị thù ghét đó, cụ thể là nằm ở thành phố với những sinh hoạt, thể chế vốn dễ được khai thác để xô đẩy, đánh đổ từ bất cứ ai muốn chống đối. Như đã nói, điểm được tuyên truyền nổi bật lúc đầu của sự thành lập chính quyền Miền Nam là công cuộc di cư gần một triệu người, gọi là của người Công Giáo Miền Bắc. Và một ông Tổng thống Công Giáo cũng dễ dàng được lựa chọn hơn, không những vì có sự giới thiệu của Hồng y Spellman mà còn thấy là quen thuộc với cả chính quyền Mĩ đồng giáo tuy khác tông. Thế là quá khứ chống đối tôn giáo lại nổi lên trong hình trạng mới, dữ dằn hơn đến nỗi người cầm đầu chết như súc vật, khiến làm sụp đổ không phải một chính phủ mà cả một chế độ, tàn tạ cả một vùng đất mang biểu tượng “xấu xa”.

Trong vụ xung đột Phật Giáo Công Giáo bùng nổ năm 1963, chính phủ đương thời có gắng gượng phân trần về tính không thiên vị của mình nhưng những diễn biến cuối cùng đã cho thấy người cầm quyền không thấy ra tính chất căn bản của vấn đề. Chứng cớ là sự việc không dừng lại khi chính phủ Ngô Đình Diệm sụp đổ, có những “chính phủ Diệm không có Diệm”, và Miền Nam vẫn có một ông Tổng thống Công Giáo khác, còn phe Phật Giáo thì sẽ đầy dẫy người Cộng sản hay thiên Cộng từ quần chúng đến tu sĩ. Trước nhất, ngay từ bản thân, người nắm quyền cao cấp không thể nghĩ ra một cách điều hành chính quyền nào khác, bên ngoài nền giáo dục họ thụ nhận, không thể tìm đồng minh tin cậy nào khác hơn những người đồng đạo. Cho nên Albert Phạm Ngọc Thảo, tiểu đoàn trưởng kháng chiến, với tính cách con chiên về đầu Giám mục Ngô Đình Thục, làm tỉnh trưởng Bến Tre, bình định quê hương Nguyễn Thị Định, bị đồng đội ganh ghét mà vẫn leo cao, làm đảo chính qua lại. Cố vấn Ngô Đình Nhu chỉ có thể nghĩ ra sự xây dựng một chủ nghĩa xã hội Công Giáo mà sự mượn danh thuyết Nhân vị của E. Mounier là một bằng cớ, chưa kể những bài viết hồi còn lận đận. Lí thuyết Nhân vị lại được tổ chức dạy viên chức ở Vĩnh Long, giáo khu của Ngô Đình Thục, anh Tổng thống. Những toán quân tiếp thu các vùng “Tự do” là quân Bùi Chu Phát Diệm, để trong trại quân râm rang lời đọc kinh đêm khuya, mờ sáng, nghe như ở những nhà thờ di động. Và lẽ tất nhiên các sĩ quan đến liên lạc với nhà thờ, tu sĩ địa phương để giữ an ninh, truy nã Việt Cộng… Hàng cứu trợ Công Giáo Caritas mời gọi người ùn ùn nhận lãnh từ các nhà thờ. Cho nên dân chúng biết tìm nơi đâu là chốn an thân, no ấm. Đó là cách truyền đạo thời có thể gọi là hỗn loạn. Còn bình thường thì nhân viên chính quyền cũng biết phải tiến thân bằng cách nào. Cả đến dân chúng, chưa bị động đến an ninh bản thân, chưa thấy phải cầu cạnh ai mà nghe ông Tổng thống “Xin Ơn Trên che chở” thì dù không bị ép buộc, cũng thấy cuốn hút theo thứ tâm tính hướng thượng dễ hiểu của con người. Đây là chuyện đã xảy ra khắp nơi, khi người châu Âu đi tìm Thế giới mới. Rủi ro là điều này xảy ra ở nơi còn một trung tâm phản kháng tôn giáo xưa cũ, ở xứ Huế, vào lúc có người Cộng sản sẵn sàng khai thác biến động, vào thời đại cả thế giới theo dõi tin tức với người Mĩ đang loay hoay tìm cách giải quyết một vấn đề toàn cầu trên khu vực Đông Nam Á họ phải be bờ, ngăn chận.

Ngoài Tây Nguyên đến lúc này chỉ vừa mới nổi rõ trong biến động với các toán quân xâm nhập sâu vào vùng biên giới, Miền Nam có hai khu vực nhân văn rõ rệt, thừa hưởng từ quá khứ thuộc địa gần và triều đại xa: Sài Gòn của Nam Kì thuộc Pháp và Huế của Trung Kì vướng víu nhà Nguyễn lây lất. Sự cách biệt rõ rệt, lại có lấn lướt tự nhiên đến mức người em út Tổng thống – “Út (ăn) Trầu” – vẫn sống ở Huế chăm sóc mẹ già, mà với thời đại mới trở thành điểm tụ hội của quyền hành địa phương, có lực lượng chống Cộng riêng đầy kiến hiệu và tất nhiên, ác ôn: Đoàn Công tác Đặc biệt Miền Trung, có mặt cả ở Sài Gòn vào thời điểm đàn áp khốc liệt nhất. Huế với họ Nguyễn chủ vùng, chủ nước bốn trăm năm cũng là trung tâm của Phật Giáo còn đầy năng động. Ý thức được tính địa phương là quan trọng nên Tổng thống lúc thường nói giọng Nam trên đài phát thanh, ngày xung đột nổ bùng đã hiệu triệu dân Huế bằng giọng núi Ngự sông Hương! Cho nên điều có thể gọi là lấn lướt – có ý thức hay chỉ là được xu phụ, của Công Giáo, đến Huế là gặp phản ứng. Mạnh mẽ vì chính quyền Ngô Đình Diệm đang chao đảo.

Chiến tranh đưa một lớp người có quyền lực lên vũ đài chính trị, đó là các sĩ quan quân đội với tột đỉnh là các tướng lãnh quen chỉ huy người nên không chịu ai chỉ huy mình. Còn rụt rè thì họ chịu sự xúi bẩy của người thân thuộc ở các đảng phái thất thế, như trường hợp cuộc đảo chính bất thành 11-11-1960, như hai sĩ quan không quân ném bom Dinh Độc Lập 1962. Như là những hồi diễn tập cho vai trò chính thức của họ hồi sau. Ở bên ngoài, Măt trận Giải Phóng Miền Nam thành lập xong, chờ đến hơn một năm sau mới tìm ra người, rước được ông Nguyễn Hữu Thọ đang bị lưu đày, quản thúc ở Phú Yên mà đủ rộng chân cẳng để vào rừng làm Chủ tịch trang trí (16-2-1962). Chính phủ phản ứng với tình trạng suy sụp ở nông thôn bằng cách, từ tháng 7-1961, thi hành chính sách Ấp Chiến lược mượn của người Anh đưa ra bình định Mã Lai. Tất nhiên hoàn cảnh không giống nhau nên kết quả có khác, nhưng chính Việt Cộng cũng công nhận là họ gặp khó khăn nhiều tuy đã tìm hết cách lôi kéo quần chúng phản kháng, sử dụng du kích đánh phá. Họ chỉ thực hiện được khi cuộc tranh đấu của giới Phật Giáo dẫn đến việc lật đổ chính phủ.

Cũng phải nhắc rằng thời đại Giải thực sau 1945, các giá trị bản xứ tăng tiến trong đó có sự trỗi dậy của các triết lí, đạo giáo phương Đông. Miền Nam Việt Nam hưởng được sự trỗi dậy đó, và tuy còn nhiều dòng phái nhưng Phật Giáo cũng đã tập họp hội đoàn, trương cờ hiệu, tham dự làm thành phần của Phật Giáo Thế giới. Từ ảnh hưởng các nước chung quanh, ngày Đản sinh “mồng Tám tháng Tư” của Bắc Tông phải chịu lùi trước ngày trăng tròn “Rằm tháng Tư” của Nam Tông. Màu áo vàng của tăng ni trong các lễ hội lấn át các màu nâu, lam Trung Bắc Kì. Tính chất “tông đồ” do đó tăng lên, đưa sự khắc khổ coi thường bản thân lên đến cực độ. Thế mà ngày Phật Đản 8-5-1963, họ nhận được lệnh cấm treo cờ, được hiểu là cấm ở khắp nơi có người Phật tử tập họp, tuy chỉ có nghĩa là không được ở ngoài vòng các khuôn hội thờ tự. Chủ ý người đưa quyết định ra sao không rõ, chỉ thấy chính quyền sau đó gượng gạo lôi ra một Dụ số 10 có từ thời Pháp để biện minh, nhưng Phật Giáo coi đó là một hành vi ngăn cấm đạo mình vì những ngày trước đó cờ Công Giáo bay khắp nơi. Thế là có biểu tình. Nơi Phật Giáo mạnh nhất: Huế. Có người chết. Đòi hỏi tự do tôn giáo lan đến Sài Gòn, hơi ngỡ ngàng vì theo tình thế chung không thể có sự lấn át lộ liễu ở ngay thủ đô. Và cũng rõ rệt ở tính chất khu vực là có đến hai phái đoàn Phật Giáo điều đình với chính phủ, Sài Gòn và Huế. Huế cứng rắn và quá khích hơn, tất nhiên tiếng nói Huế mạnh hơn, giống như tất cả những tập đoàn quá khích nào khác. Tự ái của người cầm quyền, đòi hỏi của Phật Giáo tăng cường độ khiến đối đầu vượt ranh giới tranh chấp tôn giáo, đến chỗ không thể thoả hiệp được. Đã nói, Phật Giáo Miền Nam mang tính Nam Tông, lại của thời đại quần chúng, nên không chỉ có ngồi im niệm Phật mà còn có tung cờ biểu tình, rồi rước bàn thờ Phật ra đường hồi sau. Thế là ngày 16-6-1963, Hoà thượng Thích Quảng Đức xuất phát từ một ngôi chùa Nam Tông, ngồi tự rưới xăng thiêu giữa ngã ba đường, trước ống kính nhà báo truyền hình đưa đi khắp thế giới. Một ngọn lửa, chỉ một ngọn lửa đã thiêu cháy một chính quyền, và có thể nói, cả chế độ Cộng hoà. Những người tự thiêu tiếp sau (5-8, 16-8) ít gây tác động hơn nhưng cũng thúc đẩy quyết định của người nhà nước đánh vào các trung tâm phản đối, nghĩa là các chùa chiền, bắt nhốt sư sãi (21-8-1963), đem tình hình vượt quá khả năng tồn tại của một chính quyền còn lệ thuộc quá nhiều vào người, nước Mĩ.

Họ đã có mặt và chứng kiến, tham dự sự thành lập chính quyền Miền Nam, từng thất vọng gợi ý buông bỏ rồi cũng trở lại tin tưởng để đẩy mạnh sự can thiệp khiến không còn thấy bước lùi. Họ tăng cường sự hiện diện quân sự bằng cách chuyển đổi tổ chức MAAG / đoàn Cố Vấn Quân Viện ở đẳng cấp thấp (G: group/nhóm) lên thành MACV / Bộ Tư Lệnh Quân Viện Việt Nam do một đại tướng chỉ huy. Đến cuối 1962 đã có 11 000 quân Mĩ ở Việt Nam, không kể 400 lính của Lực lượng Đặc Biệt yểm trợ chương trình Ấp Chiến lược. Trước tình hình suy sụp ở nông thôn và sự chỉ trích gia tăng ở thành phố, họ muốn can thiệp mạnh hơn vào cơ cấu quyền bính mà họ từng tin tưởng ở những năm sáng sủa đầu thời Cọng hoà. Họ cũng thấy hợp ý với những lời chỉ trích về tính chất độc tài, gia đình trị của chính quyền vì rõ ràng là không thích hợp với lí tưởng xưa nay của nước Mĩ, của thế giới phương Tây. Suy luận theo sự nể trọng tôn giáo quen thuộc mà né tránh giới quyền lực nhà thờ, họ theo khuynh hướng thế tục đương thời để dồn chỉ trích vào Cố vấn Ngô Đình Nhu và bà vợ – về người này thì sự chống đối không phải chỉ bởi quyền hành khuynh đảo do địa vị, tính chất thân thuộc của bà gây ra, mà về phía khác cũng có phần là từ sự ganh ghét của một xã-hội-đàn-ông với ưu thế truyền thống, thường tỏ lộ trong lời mỉa mai, ví dụ về Phong trào Liên “đái” (đới) Phụ Nữ mà dân biểu Trần Thị Lệ Xuân cổ động thành lập .

Sự thất bại đã khiến cho Ngô Đình Diệm trở thành tội nhân của lịch sử trên trang sách của phe thắng – như tất cả những chuyện khác trên đời, nhưng ở vị trí một người đã đứng đầu nước thì sự can thiệp của quyền bính ngoại quốc, dù đang được nhờ cậy, cũng khó phải được ngoan ngoãn tuân theo. Cố vấn Ngô Đình Nhu – và cả hệ thống lập thành theo các thực tế lịch sử đến lúc này, là cả một nền tảng quyền bính của Tổng thống, của chế độ Cọng hoà nên không thể dễ dàng buông bỏ. Chỉ có điều là cái thế của Tổng thống càng lúc càng mong manh, không phải chỉ bởi sự lớn mạnh của Việt Cộng có sự tiếp sức từ Miền Bắc mà còn bởi lực lượng quân đội dưới tay của ông, được thời thế kết thành.

Trong những lời phê phán của các tướng lãnh Mĩ, các nhà báo ngoại quốc đương thời thường có lời chê trách tính kém hiệu quả của quân đội Cọng hoà. Trong trận Ấp Bắc đầu 1963 mà Miền Bắc coi là trận tiêu biểu đánh dấu giai đoạn chống càn quy mô lớn, đánh bại chiến thuật trực thăng vận, thiết xa vận của Mĩ nguỵ, tính chất thiếu phối hợp của các binh chủng Cộng hoà, sự rụt rè của những người chỉ huy trước một đối phương tính chuyện cùng đường liều chết, là chứng cớ thường được nhắc nhở trong chiến tranh. Tuy nhiên phải thấy, trong huấn luyện, người Mĩ cũng phạm sai lầm như người Pháp trước kia, là đào tạo một đội quân chính quy với quan niệm vận động nặng nề cồng kềnh thuộc về một nước kĩ nghệ tân tiến. Giống như chính người Mĩ, bị người của họ chê trách, là đã mang B52 thả bom trên các con đường của những người mang gùi vận chuyển vũ khí, lương thực! Về phần tinh thần, sự chê trách người lính Cộng hoà cũng là một điều thiếu nhận định thực tế. Người lính Cộng hoà chỉ làm bổn phận công dân với một chút ý thức mơ hồ về tổ quốc như trong bài ca mời gọi họ: “Đi quân dịch là thương nòi giống”. Họ là những công chức quân sự, chờ đợi đến tháng lãnh lương. Họ cầm súng, loay hoay trong 12 tháng rồi sẽ giải ngũ, chiến tranh có lan rộng thì 18 tháng, ba năm… cũng vẫn với tâm trạng chờ đợi, trong khi với đời sống tương đối yên bình ở thành phố lại có những cuộc biểu tình kêu gào chống bắt lính, trương cả băng vải “Chống lịnh tổng động viên” đi nghênh ngang giữa đường phố Sài Gòn! Ở vùng xôi đậu, họ có thể lẩn vào vùng bưng biền nhưng đó là trước khi biết mình phải trở thành du kích anh hùng diệt Mĩ nguỵ không đường thối lui!

Dù sao thì như đã nói, chiến tranh cũng khiến Miền Nam có một đội quân càng lúc càng lớn rộng, chuyên nghiệp hơn, với những người chỉ huy càng nhiều tự tín hơn với quyền lực của mình. Điều này thì cũng thấy ở các nước Đông Nam Á khác, những nơi không tạo được một hệ thống chính trị kềm giữ giới quân nhân, như Nam Dương làm đảo chính Sukarno, Miến Điện lật U Thant, giới quân nhân Thái mượn hơi Quốc vương nắm chính quyền. Nghĩa là ở Miền Nam, người Mĩ cũng thấy có thể dựa vào giới quân nhân để diệt trừ Tổng thống Ngô Đình Diệm.

 

 

PHỤ LỤC

1. Địa chủ ác ghê

Bài viết kí tên C.B. đăng trên báo Nhân Dân 21-7-1953, được đăng lại trên báo Cứu Quốc số 2459 ngày 2-11-1953, dưới bút hiệu Đ.X. Bút hiệu C.B. gần đây được giải thích là Của Bác thay cho lối giải thích Cán Bộ lúc xưa. Có thể so sánh với lối hành văn ở Đường kách mệnh để cùng xác nhận với nhiều chứng cớ khác, là bài văn chính của Chủ tịch Hồ Chí Minh viết. Bà Cát Hanh Long (có vẻ như từ tên của một thương hiệu) tên thật là Nguyễn Thị Năm, từng nuôi dưỡng che chở cán bộ, lãnh tụ CS, có hai con trai làm Chính uỷ trung đoàn và Đại đội phó Thông tin vào lúc xảy ra sự việc. Trong thời gian tiến hành giảm tô tiến đến Cải cách ruộng đất, sáu xã huyện Đại Từ tỉnh Thái Nguyên được chọn làm thí điểm, và người đầu tiên bị mang ra xử bắn là Bà Nguyễn Thị Năm. “Bà bị quy là địa chủ cường hào ác bá, bị đoàn CCRĐ xử án tử hình, Uỷ ban CCRĐ trung ương duyệt y và Ban Chấp hành trung ương đảng Lao Động Việt Nam chuẩn y” (Nguyễn Minh Cần). “Đến Bác Hồ biết là không đúng cũng không dám nói với họ. ‘Họ’ là các ông con trời đặc phái viên của Mao” (Thành Tín / Bùi Tín).

Thánh hiền dạy rằng: “Vi phú bất nhân”. Ai cũng biết rằng địa chủ thì ác: như bóc lột nhân dân, tô cao lãi nặng, chây lười thuế khoá – thế thôi. Nào ngờ có bọn địa chủ giết người không nháy mắt. Đây là một thí dụ:

Mụ địa chủ Cát-hanh-Long cùng hai đứa con và mấy tên lâu la đã:

-Giết chết 14 nông dân.

-Tra tấn đánh đập hàng chục nông dân, nay còn tàn tật.

-Làm chết 32 gia đình gồm có 200 người – năm 1944, chúng đưa 37 gia đình về đồn điền phá rừng khai ruộng cho chúng. Chúng bắt làm nhiều và cho ăn đói. Ít tháng sau vì cực khổ quá, 32 gia đình đã chết hết, không còn một người.

-Chúng đã hãm chết hơn 30 nông dân. Năm 1945 chúng đưa 65 nông dân bị nạn đói ở Thái Bình về làm đồn điền. Cũng vì chúng cho ăn đói, bắt làm nhiều. Ít hôm sau, hơn 30 người đã chết ở xóm Chùa Hang.

-Năm 1944-45, chúng đưa 20 trẻ em mồ côi về nuôi. Chúng bắt các em ở dưới hầm, cho ăn đói mặc rách, bắt làm quá sức lại đánh đập không ngớt. Chỉ mấy tháng, 15 em đã bỏ mạng

Thế là ba mẹ con địa chủ Cát-hanh-Long, đã trực tiếp, gián tiếp giết ngót 260 đồng bào!

Còn những cảnh chúng tra tấn nông dân thiếu tô thiếu nợ, thì tàn nhẫn không kém gì thực dân Pháp. Thí dụ:

-Trời rét, chúng bắt nông dân cởi trần, rồi dội nước lạnh vào người. Hoặc bắt đội thùng nước lạnh có lỗ thủng, nước rỏ từng giọt vào đầu, vào vai, đau buốt tận óc tận ruột.

-Chúng trói chặt nông dân, treo lên xà nhà, kéo lên kéo xuống.

-Chúng đóng gióng trâu vào mồm nông dân, làm cho gẫy răng hộc máu. Bơm nước vào bụng, rồi giẫm lên bụng cho hộc nước ra.

-Chúng đổ nước cà, nước mắm vào mũi nông dân, làm cho nôn sặc lên.

-Chúng lấy nến đốt vào mình nông dân, làm cho cháy da bỏng thịt.

Đó là chưa kể tội phản cách mạng của chúng. Trước kia mẹ con chúng đã thông đồng với Pháp và Nhật để bắt bớ cán bộ. Sau Cách mạng tháng Tám, chúng đã thông đồng với giặc Pháp và Việt gian bù nhìn để phá hoại kháng chiến.

Nguồn: Nhật báo Người Việt USA 12-7-2010

 

2. “Nhà thơ cũng phải biết xung phong”
(Hồ Chí Minh)

Giết, giết nữa bàn tay không phút nghỉ,
Cho ruộng đồng lúa tốt thuế mau xong,
Cho Đảng bền lâu cùng rập bước chung lòng
Thờ Mao Chủ tịch, thờ Xíttalin bất diệt.
Tố Hữu

Lôi cổ bọn chúng ra đây,
Bắt quỳ gục xuống đoạ đầy chết thôi.
Bắt chúng đứng, cấm cho ngồi,
Bắt chúng ngước mặt, vạch người chúng ra.
Xuân Diệu

3. Chút thơ phản động

Chiến khu tôi để chú khiên(g) rồi,
Chú phỉnh tôi hoài chính phủ ơi!
Thi đua sao cứ thua đi mãi,
Kháng chiến lâu dài khiến chán(g) thôi!
Vè Liên khu V (1950?)

Muốn sang làm hành chánh, muốn đánh làm công an
Muốn đánh làm công an, muốn sang làm hành chánh
Truyền ngôn Liên khu V 1950

bài đã đăng của Tạ Chí Đại Trường


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)