Trang chính » Biên Khảo, Giới thiệu tác giả, Giới thiệu tác phẩm, Nhận Định Email bài này

Một phong cách viết: La Délicatesse của David Foenkinos

 

La-delicatesse

 

Sự tế nhị, nét tế nhị… chẳng biết dịch sao cho phải, bởi vì ngay trong nguyên văn, tác giả cũng phải phân bua bằng cách chép lại cách định nghĩa trong tự điển. Có đến hai ba nghĩa khác nhau. Bởi danh từ tự nó cũng đứng rất gần biên giới. Vâng, đúng vậy, cái tế nhị là ở chỗ biết đâu là biên giới mà dừng, dừng đúng lúc đúng nơi. Quá một chút bên này, bạn thành lạnh nhạt, nhưng quá một chút bên kia thì coi chừng bạn sắp thô lỗ đến nơi. Những qui luật thành văn trong cách đối xử với người có thể dạy cho chúng ta khỏi phạm những hành động quá tệ hại, một cách chung chung. Như vậy chưa đáng gọi là tế nhị. Thật ra chẳng có qui luật, chỉ có khôn khéo từ trong tâm mà ra. Và tùy hoàn cảnh nữa. Có câu chuyện kể ở đây rằng ngày xưa xứ Pháp có vô khối các thuộc địa Phi châu. Một hôm một vì vương xứ ấy được mời thăm viếng nước Đại Pháp. Mục khoản đãi rượu chè là mục không thể thiếu. Trong tiệc cứ mỗi khi xong một món, bồi bàn lại dâng chiếc thau nhỏ để thực khách rửa tay. Vị vương chúa châu Phi tưởng được dâng nước uống ngài bèn bưng thau húp! Mọi thực khách thấy vậy, không ai bảo ai đều tuần tự bưng thau húp theo. Húp như vậy để tránh cho vương chúa kia nhận ra là mình hành động sai. Tế nhị là thế, là hành động xê dịch một chiếc bình cồng kềnh bằng thủy tinh dễ vỡ trong ngôi nhà chật chội. Chẳng có bao nhiêu không gian mà múa may!

Trong tình yêu, theo ý nhà văn, thường thì do thân xác ta quyết định hơn là tâm trí [1]. Đó là một câu nói của ông trong khi giới thiệu và giải thích về cuốn truyện mình viết với người phỏng vấn trên truyền hình. Ấy thế mà David Foenkinos (tên ông) khi viết cuốn La Délicatesse đã cho nhân vật nữ của ông chọn người tình có một vóc dáng hết sức … ingrat –thiệt “dô diên”!

Nhưng đó là chuyện sau, giờ phải bắt đầu từ chỗ bắt đầu. Đời cô Nathalie trong La Délicatesse được chia làm ba chặng: chặng đầu, cô say mê một anh chàng gặp ngoài phố tình cờ và yêu anh ta tức khắc. Theo cách mô tả của tác giả thì anh chàng François ấy thật hoàn hảo. Họ yêu nhau và làm đám cưới, sống với nhau đầm ấm, chàng đi làm, nàng đi làm (sau khi ra trường đại học kinh tế), sau giờ làm việc cùng đi chơi với nhau, thưởng thức nhạc, đọc sách, xem phim và du lịch xa gần. Một buối sáng nghỉ việc, François ra ngoài tập thể dục, anh hôn vợ, rời nhà, chạy một vòng. Cô vợ thì đang đọc sách, khi chồng chào cô để đi tập thể dục thì cuốn sách cô đọc đã đến trang 321 (cô có làm dấu), sau đó François không trở về nữa, anh bị xe tung chết. Nathalie đau đớn nghĩ rằng đời cô cũng đứt ngang ở trang 321 ấy. Nathalie bước vào chặng thứ hai của đời cô như thế, ở trang 321 cuốn sách mà cô không buồn đọc tiếp. Cô yêu chồng quá và chắc chắn rằng sau François cô không còn khả năng tái lập đời sống với một người nào khác. Cô mang tang chế vào đời làm việc, cô hoạt động tận tình với chức vụ sếp nhỏ trong một hãng do người Thụy Điển cai quản. Làm để khuây khỏa nguôi quên. Mọi người chung quanh ái ngại và tôn trọng niềm đau nơi cô. Trừ một người là ông giám đốc, sếp lớn của cô. Ông này coi như dịp may khi người chồng François của cô lìa đời là bởi, dù có vợ ông vẫn từ lâu thầm lặng thèm muốn chiếm đoạt cô.

Tác giả mô tả người Thụy Điển là những kẻ chỉ muốn rời xa quê mẹ lạnh, xám xịt, mù sương gây cho họ bệnh trầm cảm để tìm về nơi ấm áp. Chiếc bánh krispoll chỉ là một loại bánh mì dùng trong buổi điểm tâm là tượng trưng cho thành công thương mại của họ vì vậy trong phòng ông giám đôc của cô luôn luôn bày bánh krispoll mời khách. Một hình ảnh được lập lại nhiều lần nhiệm ý trào lộng. Chúng ta thấy người viết đã âm thầm dựng lên những vật chắn chung quanh cô Nathalie như cố tình ngăn cản cô tái tham dự vào đời sống bình thường của một người đàn bà trẻ đẹp và đầy sức sống. Mang nó tiêu dùng vào hoạt động nghề nghiệp, Nathalie vẫn không tận dụng được phần còn lại của tình cảm và nhục tính; nó chỉ đưa cô đến gần ông giám đốc thêm một chút. Việc thăng thưởng do ông tổ chức cho cô với lý do là cô hết lòng cùng công việc nghe ra tất yếu nhưng đàng sau nó còn che dấu lòng mong ước được đến gần Nathalie. Được khen thưởng dẫn đến việc ăn mừng. Ông giám đốc mượn cớ ấy để mời Nathalie dùng bữa. Bất hạnh thay ông thiếu mất cái tế nhị trong cơ hội độc nhất chinh phục Nathalie, và cùng lúc vô tình giúp Nathalie cái cớ để cắt đứt một cách dứt khoát những òn ỉ của ông.

Dựng đủ mọi lá chắn để ly gián hoàn toàn Nathalie ra khỏi đời sống quân bình của mọi con người trong đời mà chúng ta cho là tất yếu (thật ra nó chẳng tất yếu chút nào : chúng ta sống, cứ tưởng là bình thường nhưng đang chịu đựng những trống vắng ghê gớm! Xin bạn hãy cúi xuống nhìn mình) tác giả chuẩn bị đẩy Nathalie sang chặng đời thứ ba của cô.

Tưởng tượng bạn là kẻ sáng tạo. Làm thế nào chuyển cuộc sống thụ động của Nathalie sang chủ động? Làm thế nào để Nathalie dẹp được chế độ tang chế đang duy trì trong cô chuyển sang chế độ tự do tích cực, kiểu “người dân làm chủ” đời mình? Hết hợp tác xã nông nghiệp, hết công đoàn lãnh đạo? Khó nhé! Bạn tưởng tượng phải có sự xuất hiện của một ông Brad Pitt hay George Clooney, cộng với hiểu biết, cộng với lãng mạn, cộng với tài ba, cộng với hào hoa chải chuốt và cộng với… tế nhị. Anh chàng Markus, một nhân viên dưới quyền cô, người Thụy Điển, không hề có mảy may nào những của quí báu ấy. Anh ta chỉ có tuổi trẻ. (Lợi thế!) VÀ (tôi gõ chữ hoa đấy chứ chẳng nhầm đâu) lòng không tin nơi mình lẫn nơi người. Thế gian đãi kẻ thiệt thà. Hoàn cảnh có cái đặc biệt của nó, Nathalie (đúng ra là tác giả) đã nghĩ vậy : tang tóc gồm trong nó hai sức mạnh đối nghịch, một sức mạnh tuyệt đối đẩy đến sự cần thiết phải đổi thay và một kéo níu bệnh hoạn bắt ta trung thành với quá khứ [2] Nhưng cái nghị lực được mang ra đốt đi trong công việc sở vẫn còn quá thừa, thừa ấy không dùng được trong công việc mà phải dùng vào điều khác. Có cô bé mới được thu nhận vào sở và được đặt duới quyền quản trị của Nathalie, cô bé Chloé. Cô này lóc chóc (dấu hiệu của thanh xuân), lắm mồm, dùng cô sếp như cái lỗ tai để cô đổ vào những tâm tình vụn giữa cô với người bạn trai và thỉnh thoảng, tỏ ra ngạc nhiên thấy Nathalie vẫn còn ôm chặt quá khứ đau buồn. Chính thứ lý lẽ trẻ con ngớ ngẩn ấy lại có hiệu quả ngược giúp Nathalie thỏa hiệp dần với hiện tại. Ý thức sống với hiện tại dần được tái tạo.

Cũng đúng vào lúc cô “thấy” Markus lần đầu mặc dù anh ta là một trong sáu người phục vụ dưới trướng cô từ lâu nay. Markus gõ cửa phòng sếp xin được trình bày về một hồ sơ mà anh có trách nhiệm hoàn thành. Tới đây thì tôi cảm thấy bất lực dùng ngôn ngữ kẻ thuật chuyện vì chắc là nó “dô diên” lắm. Thôi thì chép lại lời nhà văn vậy:

Có người gõ cửa. Một cách kín đáo chỉ bằng hai ngón tay, không hơn. Nathalie giật nẩy mình làm như những giây phút vừa qua khiến cô tin cô là kẻ duy nhất trên cõi đời. Cô bảo : “Mời vào! ” và Markus bước vô. Đó là người đồng nghiệp gốc Uppsala, một thành phố của Thụy Điển không được nhiều người chú ý đến. Ngay người dân Uppsala cũng áy náy : tên thành phố họ đọc lên nghe như một lời xin lỗi. Nước Thụy Điển chiếm một tỷ suất người tự tử cao nhất thế giới. Cách tránh tự tử là di cư sang Pháp, chắc Markus nghĩ vậy. Anh ta có ngoại dáng gần như xốn mắt nhưng người ta cũng không thể nói là anh ta xấu. Cách ăn mặc của anh ta thì có cái gì hơi đặc biệt. Người ta không rõ anh ta có nhặt lại áo quần của ông nội anh, ở Emmaüs, hay tìm chúng nơi các quán bán quần áo cũ. Tấc cả y phục họp lại ít thuần nhất.

“Tôi vào trình cô về hồ sơ 114”, anh ta bảo. Với cái dáng kỳ cục của anh coi bộ anh còn muốn thêm vào bằng câu nói ngu xuẩn như thế sao? Nathalie không buồn làm việc hôm nay. Lần đầu sau thời gian khá lâu. Cô cảm thấy gần như tuyệt vọng : đáng ra cô nên đi du lịch, chẳng hạn ở Uppsala. Cô quan sát Markus bất động. Anh ta thì nhìn cô với vẻ thán phục. Đối với anh, Nathalie điển hình cho thứ nữ giới không xúc phạm được, cộng với ao ước huyễn hoặc mà có ngưòi cảm thấy khi đứng trước cấp trên chiếm vị thế thượng phong. Cô bèn quyết định tiến về phía anh, đi chậm, thật chậm. Người ta gần như có đủ thời giờ đọc hết một cuốn truyện trong cái bước tới đó. Dường như cô ta không muốn dừng lại, nên gần đến nổi sát mặt Markus, gần đến nỗi mũi họ chạm nhau. Anh chàng Thụy Điển ngưng thở. Cô ta muốn gì vậy? Anh ta không có thời giờ lâu hơn để đặt câu hỏi ấy trong trí, bởi cô đã ôm hôn anh ta một cách mạnh bạo. Một chiếc hôn nồng nàn, cái nồng nàn của tuổi mới lớn. Rồi bất thình lình, cô lui ra:

“Về hồ sơ 114, chúng ta sẽ xét sau.”

Cô mở cửa mời Markus bước ra. Điều đó anh ta thực hiện một cách khó khăn. Anh ta là Armstrong trên mặt trăng. Chiếc hôn ấy là bước lớn của nhân loại. Anh ta đứng sững một lúc lâu trước văn phòng. Phần Nathalie thì đã quên bẵng điều mới vừa xảy ra. Hành động của cô chẳng dính dáng gì với chuỗi các hành động khác trong đời cô. Chiếc hôn ấy là biểu hiện của một tình trạng vô chủ bất ngờ trong hệ thần kinh cô, điều mà ta có thể gọi là hành vi vô cớ.” (La Délicatesse, trang 74)

Đừng tưởng đoạn vừa qua đã là cái chốt cửa mở ra chặng thứ ba của đời cô Nathalie; không, cửa vẫn còn đóng, nếu bạn tiếp tục giả đò làm người viết cuốn sách bạn sẽ thắc mắc dài dài muốn làm thế nào cho hai đứa nó xáp gần hơn nữa. Nhà văn đời nay có cách viết hơi …ngang ngược nhưng rất có duyên. Ở cuối đoạn tôi vừa dịch trên đây, David Foenkinos cho xuống hàng, đánh dấu chéo, ngụ ý một chương khác sẽ mở ra. “Chương sách” tiếp chỉ gồm cái tựa và hai giòng:

Sự phát minh ra tấm thảm.
Có vẻ khó biết rằng ai đã phát minh ra tấm thảm. Theo tự điển Larousse, tấm thảm chỉ là tấm lót sàn mà người ta bán từng thước một.
Đây là một lối mô tả đã cho thấy vẻ bần hàn về sự hiện diện của nó
.

Không quen đọc các tác giả trẻ ở Tây phương, bạn sẽ lấy làm khó chịu khi thấy cách chuyển mạch kỳ cục. Không đâu. Chính tâm trạng hoang mang của Markus sau khi nhận chiếc hôn “không tốn tiền” (gratuit) của Nathalie đấy : anh ta đang nhìn xuống chân mình!

Cũng như trong đoạn tiếp sau, vẫn còn mô tả tâm trạng hoang mang của Markus khi về đến nhà. Anh ta bối rối tột độ đến không biết dùng con số nào để mở cửa phòng. Với đời sống ngày nay chúng ta phải ghi trong bộ nhớ nhiều con số : số điện thoại di động, số thẻ tín dụng ngân hàng, số mật để vào internet, số an sinh xã hội… gặp khi bấn loạn thì hết biết. Cuối cùng nhờ có một người cùng chung cư vào nên may quá, Markus vào theo. Chấm dứt đoạn này, tác giả cẩn thận xuống hàng mở ra đoạn khác với chỉ một giòng chữ: “dưới đây là mật số để vào cửa chung cư” với đầy đủ những con số!

Sự tế nhị cũng có khi là những hành động bất thường ; hành động thông thường thì dễ đánh giá nhưng hành động bất thường thì đối thủ không biết phản ứng ra sao. Tâm lý của Markus ta chưa rõ nhưng với cái bề ngoài như vậy, chúng ta đều đoán rằng anh ta sẽ nhút nhát lắm. Hậu quả: anh ta sẽ làm như không có việc gì xảy ra, thậm chí trốn tránh không muốn gặp lại Nathalie chứ gì? Anh ta không nhút nhát, anh ta hồn nhiên. Như đứa trẻ con. Hồn-nhiên-như- trẻ-con có cái tế nhị của nó. Nó đụng đến những vấn nạn quan trọng nhưng với vẻ ngây thơ không ần ý. “Tôi muốn hỏi tại sao cô hôn tôi?” Nàng chẳng biết trả lời sao. Nàng cố tìm cách giải thích mà không nói được nhưng dù sao cũng phải đáp lời : “Tôi không biết” “Cô không biết ư?” “Không, tôi không biết” “Cô không thể buông trôi như vậy. Phải giải thích.”

Không có gì để giải thích cả.
Chiếc hôn ấy tựa như nghệ thuật hiện đại.

Người viết lại xuống hàng bước vào đoạn khác:

Tựa đề một bức tranh của Kazimir Malevitch:
Vuông trắng trên khung trắng (1918)
[3]

Bạn hiểu rồi chứ? Cái hôn như nghệ thuật hiện đại, chỉ là vuông trắng trên khung trắng. Ta chẳng thấy gì đâu, chẳng hiểu gì đâu.

Bắt đầu bây giờ thì tương đối dễ (tôi vẫn còn giả sử là ta đóng vai người viết để cố hoàn thành cuốn truyện). Sắp xếp cho những nhì nhằng qua lại giữa chàng và nàng cho đến lúc chàng bước hẳn vào đời nàng lúc nào mà nàng không hay. Tâm trạng của người đàn bà mất chồng ngang như vậy khiến nàng sợ hãi rằng sẽ có một kẻ khác tiến chiếm vai trò người chồng cũ một cách hùng hổ quá. (May phước cho anh chồng chết sớm nhé! Anh mà sống dài thêm thì mọi điều đẹp đẽ mà nàng cảm thấy sẽ bay tuốt mất). Nàng không định làm phụ nữ trinh liệt nhưng anh nào có tài lấn tới một cách lặng lẽ tất sẽ thắng. Kết luận, điều phải chứng minh: La Délicatesse!

*

Vào hiệu sách chọn mua ở xứ văn học này thật khó. Thấy cuốn nào cũng lấy thì khuân cả làng về nhà à? Mùa văn chương, người ta trình làng trên dưới nghìn cuốn. Bạn tưởng dựa trên một tiêu chuẩn là đủ? Tiêu chuẩn ấy là giải văn học? –Chưa chắc. Còn chuyện thẩm mỹ quan có hợp với tâm thức bạn không đã. Những giải thưởng lớn và có tiếng, như vậy vẫn chưa đảm bảo “chất lượng” (chữ này tức lỗ tai lắm nhé, nhưng mọi người đều dùng thì tôi cũng phải tập nói cho quen –tôi thích chữ phẩm chất hơn ; làm gì có lượng trong đó?). Trường hợp tôi đọc David Foenkinos vì thấy sách ông do nhà xuất bản Gallimard đảm trách. Đó là một nhà xuất bản uy tín. Ông không nhận giải Goncourt danh tiếng nhưng có hàng chục giải khác mà tôi không biết. Ông được liệt vào vòng 5 tác giả có số sách bán chạy nhất năm 2011, tổng số tiêu thụ là 700 000 cuốn. Xin đừng so sánh với sách Anh ngữ vì anh ngữ có tầm phổ biến rộng hơn nhiều. Cuốn tôi có là một cuốn bỏ túi, pocket’s book, rẻ tiền, ngụ ý con số sách còn vượt hơn con số trên kia. Khoe thế để nếu bạn thích thì xin mời.

Tôi không thích việc phóng tác thành phim những câu chuyện không tình tiết như thế, nhưng người em David là Stéphane đã chót mang lên màn bạc cuốn sách của ông anh rồi. Bạn có thể xem phim để “bớt” phải bỏ công đọc cuốn sách, nhưng tôi thì cố chấp lắm, chẳng thèm xem phim đâu!

 

Tác giả David Foenkinos giới thiệu tác phẩm La Délicatesse (Gallimard: 2009)

À quên, trong sách, hình như David cũng đã có “ý đồ” làm thành phim. Có một đoạn nhỏ trong truyện ông đã viết dưới hình thức ấy (trang 67).

Vài hàng về tác giả: David Foenkinos sinh năm1974, học văn chương tại đại học Sorbonne, cùng lúc học âm nhạc và là giáo sư dạy tây ban cầm. Cuốn Délicatesse là tác phẩm thứ tám của ông. Ông nhận được khá nhiều giải thưởng văn chương và mới đây cuốn sách này khi quay thành phim đã được chọn khen về cách phóng tác từ truyện sang phim.


[1]c’est le corps qui décide, non l’esprit

[2] Nguyên văn : “Il y a dans le deuil une puissance contradictoire, une puissance absolue qui propulse tout autant vers la nécessité du changement que vers la tentation morbide à la fidélité au passé”

[3] Carré blanc sur fond blanc, một bức tranh rất nổi tiếng của Malevitch vẽ năm 1915, sau vẽ lại năm 1918

bài đã đăng của Đặng Đình Túy


1 bình luận »

  • Tran Mong Tu viết:

    Một cách “Điểm Sách” rất hay. Nhận xét thêm vào rất thông minh và dí dỏm.

    Thanks/tmt

Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)