Trang chính » Biên Khảo, Chuyên Đề, Dịch Thuật, Màu Da và Ngôn Ngữ, Phỏng vấn Email bài này

Hai Hướng Nhìn của Janus: Da Màu phỏng vấn nhà văn Ngô Nguyên Dũng

 

janus-vatican1

Tượng thần Janus nhìn hai phía tại viện bảo tàng Vatican
Janus
trong huyền thoại La Mã tượng trưng cho những khởi đầu và thay đổi, cánh cửa, thời gian và ly biệt
Janus có hai mặt, một mặt hướng về phía Đông (quá khứ), mặt kia hướng về phía Tây (tương lai)

 

(1) Thưa anh, bài tiểu luận “Dịch thuật: sáng tạo hay kỹ xảo của ngôn ngữ và hoàn cảnh ra đời của một tác phẩm bằng tiếng bản xứ” đưa ra những chi tiết rất thú vị về quá trình một nhà văn di dân tự dịch văn của mình, đồng thời cũng tự tìm những phương tiện thích hợp để phổ biến sách cho chính mình. Trong bài anh nói đến “bản sắc dân tộc cao độ” của người dân Đức và cũng nhận định rằng: “Là một người chủng gốc da màu, muốn chen chân, tìm một chỗ đứng làm ‘nhân vật của đám đông’ trong cộng đồng người bản xứ tại đây, không đơn giản.” Thưa anh, theo như anh nhận xét, người Đức chắc không có một truyền thống văn chương diaspora, post-kolonialen, hoặc về các giống dân thiểu số (ethnische)?

Để trả lời câu hỏi này của Bích Thúy, trước tiên tôi xin được lạm bàn đôi điều về những khác biệt giữa bản sắc dân tộc Đức đối với bản sắc một vài dân tộc khác.

Mãi cho tới thế kỷ 19, đế quốc Đức mới khởi sự đi tìm thuộc địa. Trễ quá! Vì các vùng đất béo bở đều “bị” các quốc gia láng giềng Anh, Pháp, Hoà-lan, Ý, Tây-ban-nha, Bồ-đào-nha, v.v… phỏng tay trên mất rồi. Chỉ còn lại vài tiểu quốc ở châu Phi. Vì vậy có thể nói, lịch sử Đức quốc không có một quá trình đi tìm thuộc địa “huy hoàng”. Và, người Đức có ít “kinh nghiệm”, va chạm cũng như tiếp xúc, với các giống dân da màu. Tôi cho rằng, chính vì lý do này, họ không có một ý thức hướng ngoại phóng khoáng, vượt ngoài biên cương quốc gia. Từ đó, có thể kết luận, dân Đức không có ý niệm rõ rệt về “chủ nghĩa hậu thực dân” (Post-Kolonialismus).

So sánh với Hoa kỳ là một quốc gia hợp chủng, thì nước Đức là một dân tộc thuần chủng. Những xung đột trong một xã hội thuần chủng phải thường xuyên cọ xát, chung đụng với truyền thống văn hoá và tín ngưỡng dị biệt của các giống dân thiểu số là điều khó tránh. Suy rộng, tôi e rằng, trong khi ở hợp chủng quốc Hoa kỳ chỉ có nạn kỳ thị chủng tộc, thì ở Đức còn có thêm tệ trạng kỳ thị người ngoại quốc. Đa số người Đức không chấp nhận một xã hội đa văn hoá. Trong khi dân Đức có khuynh hướng dễ dàng chấp nhận người ngoại quốc cùng màu da và tín ngưỡng, thì đối với di dân lao động Thổ-nhĩ-kỳ hoặc các giống dân gốc ả-rập hay trung đông theo Hồi giáo với những đạo luật hình sự khắt khe (Scharia), đặc biệt đối với nữ giới, và truyền thống triệt để giao phó vai trò rường cột cho nam giới trong gia đình cũng như ngoài xã hội, người Đức đặc biệt e dè, nặng nề thành kiến. Họ đòi hỏi các thiểu số sắc tộc sinh sống tại đây hội nhập vào xã hội, văn hoá Đức. Nhưng họ quên rằng, hội nhập là một tác động thoả hiệp song phương. Cộng đồng di dân có thể hội nhập vào xã hội Đức, nhưng không thể bắt buộc họ chối bỏ bản sắc, tín ngưỡng và những sinh hoạt truyền thống. Những vấn nạn chủng tộc này bắt nguồn từ hai phía, mà bản tính tự mãn hẹp hòi, thiếu tính thoả hiệp của cả đôi bên là nguyên nhân chính.

Riêng với cộng đồng di dân Việt Nam ít oi tại đây, ngoại trừ một vài hành động khủng bố của thiểu số “Tân-Đức-quốc-xã” đối với người da màu thường xảy ra tại các tiểu bang thuộc Đông Đức cũ, có thể nói, người Việt được giới truyền thông đánh giá như một “thiểu số thầm lặng”. Thế hệ thứ hai hội nhập tốt, tỷ số giới trẻ đỗ đạt ngang ngửa, đôi khi vượt hẳn giới trẻ bản xứ. Có điều tôi không dám khẳng định, với bản tính tự hào dân tộc cao, nhiều tỵ hiềm và hay chỉ trích của dân Đức, rằng họ có sẵn sàng công nhận một thế hệ di dân á đông sinh trưởng tại đây là người Đức? Tôi e rằng, không.

Từ những nhận định chủ quan nêu trên, bàn qua lãnh vực văn học, tôi có thể khẳng định, Đức quốc không có truyền thống văn chương “hậu thực dân” hoặc “hậu thuộc địa”, lại càng không có truyền thống văn chương “di dân” (Diaspora). Theo tôi biết, có vài nhánh văn chương của di dân Thổ-nhĩ-kỳ, di dân người Đông Âu gốc Do thái, v.v…, nhưng không thể gọi đó là “truyền thống văn chương” của dân tộc Đức. Cho tôi gọi đó là những nhánh “văn chương biệt lập” (Ghetto-Literatur).

Dẫu vậy, cũng không thể nói, người Đức không quan tâm tới văn chương mang tính “hương xa” (tạm dịch từ exotic hay exotisch) có xuất xứ từ các quốc gia thuộc “thế giới thứ ba”. Không rầm rộ, không gây ra một trào lưu, nhưng có. Ở điểm này, tôi thấy khác với khiếu thưởng ngoạn văn chương của người Việt. Trước 1975, cá nhân tôi chưa hề nghe ai nhắc tới, cũng như chưa thấy tác phẩm văn chương nào của các tiểu quốc láng giềng như Nam-dương, Căm-bốt, Ai-lao, Thái-lan, v.v… được dịch sang Việt ngữ. Chúng ta nên giải thích hiện tượng này như thế nào đây? Là một sơ suất của văn học Việt nam hay là một dạng thái khác của ẩn tính phân biệt chủng tộc?

(2) Từ phương diện một nhà văn di dân tự túc, anh đã tự tìm những môi trường thích hợp để phổ biến tác phẩm của mình, như việc gia nhập Exil P.E.N., chọn những người mentor như ông Hans Lindemann và ông Thomas Kade, ghi tên tham dự liên tiếp nhiều khoá hội luận và phê bình bản thảo tại truờng Bách khoa Bình dân thành phố mà người Mỹ ở đây gọi là quá trình “workshop,” và kiếm nhà xuất bản cũng là một hội viên của Exil P.E.N., và cuối cùng anh đã thành công. Ngoài ra, anh có người đại diện (literaturagent) hoặc một editor để giúp anh trong công việc phổ biến bản thảo của mình hay không? Theo anh, thì ngoài những phương tiện mà anh đã khai thác, một nhà văn di dân có nên kiếm một agent hoặc một editor?

Ngoài những chi tiết tôi đã nêu ra trong bài tiểu luận, tôi không có chủ đích tìm một người hoặc một “đại lý tiếp thị văn phẩm” (Literaturagentur) cũng như một “người xuất bản” (Editor), vì một lý do rất dễ hiểu: khả năng tài chính và kinh nghiệm ít oi của tôi không cho phép tôi “mạo hiểm”. Ông Thomas Kade đã nhiều lần khuyên nhủ chúng tôi, phải hết sức thận trọng trong vấn đề này, vì con buôn văn nghệ đầy rẫy khắp nơi. Tôi xin mượn lời khuyên của ông để chuyển tới các bạn văn khác.

(3) Trong cùng thời gian sửa soạn Die Insel der Feuerkrabben, anh có sáng tác hoặc đóng góp vào thẳng những sinh hoạt văn chương Đức trong thành phố anh hiện cư ngụ, như một cách tạo résumé?

Tôi có đóng góp truyện ngắn trong một vài tuyển tập thơ văn (Anthologie) cho Exil P.E.N. [1], cho “tuần lễ sách” của thành phố Bern [2], cho quí san Matrix của nhà xuất bản POP [3] , [4] và thơ cho Hierreth-Verlag. Tôi cũng từng gởi thơ văn tham dự các giải văn chương tại đây, nhưng không đạt kết quả khả quan.

(4) Xin anh cho biết thêm về dư luận địa phương hoặc trong dòng chính về Die Insel der Feuerkrabben? Tấm hình thứ 2 anh gửi cho bàiDịch thuật: sáng tạo hay kỹ xảo của ngôn ngữ” chụp một trang báo địa phương có tít “Feuerkrabben Erobern Literatur” (“Bầy Còng Lửa Xâm Chiếm Văn Học”) như vậy chắc dư luận và sự tiếp đón Còng Lửa đã khả quan, nồng hậu? Độc giả Đức nghĩ gì về những câu truyện Việt Nam “đậm đà hương vị Việt tính được tôi dọn bằng dĩa, ăn bằng muỗng nĩa nơi đất lưu vong”?

Không như Bích Thuý phỏng đoán, tôi không nghĩ rằng,dư luận và sự tiếp đón Còng Lửa đã khả quan, nồng hậu.” Bài báo phỏng vấn tôi nhân dịp quyển sách ấn hành là một kết quả tình cờ. Người phỏng vấn, bà Gisela Weiler, cũng là một trong những tham dự viên trong khóa hội luận và phê bình bản thảo tại trường Bách khoa Bình dân có tôi tham dự. Bà còn là nhân viên bán thời gian cho một nhật báo địa phương, tờ Westfälische Rundschau, và cũng là một trong nhiều người đã giúp tôi sửa lỗi ngữ pháp các bản dịch. Khi sách xuất bản, tôi ký tặng bà một quyển, đồng thời hỏi xin bà giúp tôi quảng cáo sách trong tờ báo bà đang cộng tác. Bà vui vẻ cho tôi một cái hẹn để phỏng vấn. Kết quả là có một bài “nhật trình” tường thuật ngắn gọn về xuất xứ, về vấn đề hội nhập, về tâm trạng cá nhân tôi trong cuộc sống lưu vong và hoàn cảnh ra đời của quyển sách.

Khi sách in xong vào tháng 9 năm 2011, tôi viết điện thư tới bạn bè đồng hương và bản xứ, nhờ cổ động. Các học viên bản xứ trong các lớp Việt ngữ do tôi phụ trách cũng giúp tôi phổ biến tác phẩm trong vòng bạn bè, đặc biệt những người quan tâm và có thiện cảm với đất và người Việt nam.

Một vài phản ứng của người đọc, tôi biết được, hoặc im lặng hoặc tương đối thuận lợi. Thí dụ, có người cho rằng, ngữ pháp dịch thuật của tôi “khác lạ”, vì vậy có được “bản sắc”. Tôi chỉ mong rằng, “bản sắc” ấy chính là văn phong, là cá tính văn chương trong bản gốc đã được tôi chuyển sang Đức ngữ. Là người tự dịch tác phẩm văn chương của mình sang một thứ tiếng học hỏi tại trường ốc, thú thật, tôi khó lòng nhận ra “văn chương tính” của câu cú bằng ngôn ngữ khoa bảng.

(5) Ở Đức, môi trường xuất bản qua e-book có phải là một môi trường lý tưởng cho một nhà văn di dân? Dân Đức hiện có nhu cầu e-book cao như ở Mỹ không anh? Ở đây, nhiều nhà sách đã bị đóng cửa vì họ không thể cạnh tranh với giá rẻ của amazon, đồng thời qua sự thịnh hành của các loại máy e-readers dùng để đọc e-books hiện đang xâm chiếm vùng đất của sách in.

Theo như tôi biết, thị trường sách điện tử (e-book) tại Đức không phổ biến rộng rãi và đuợc những con mọt sách hưởng ứng nhiệt tình như ở Mỹ. “Die Insel der Feuerkrabben” cũng được quảng cáo qua hình thức sách điện tử trong amazon. Nhưng có ai hỏi mua hay không, tôi không biết.

Hình thức sách in vẫn được dân Đức ưa chuộng. Thống kê năm 2010 cho biết, sách điện tử chiếm vỏn vẹn 0,5 phần trăm tổng số tiêu thụ sách [5]. Tiên đoán cho năm 2015, con số này có thể lên tới 6,3 phần trăm [6]. Vẫn còn quá ít. Điều này cho thấy, trong trường hợp này, bản tính dân Đức vẫn còn bảo thủ. Trong số đó, có tôi.

(6) Người Mỹ trong thời đại hậu thuộc địa theo tôn chỉ politisch korrekt thường e ngại khi thảo luận về thị hiếu độc giả trước những vấn đề exotic.  Giới độc giả hoặc thích được cuốn hút, hoặc bị dị ứng bởi loại văn chương có sắc thái khác lạ với văn hóa giòng chính, do đó sẽ có cái nhìn lệch lạc về những nhân vật và đề tài không thuộc về  “giòng chính,” và sẽ cô lập hóa văn chương di dân mãi mãi trong biên giới “kẻ lạ.” (Ngày nay, thơ của Baudelaire, như bài “À Une Malabaraise”  và bài “L’Invitation Au Voyage” có lẽ sẽ bị chỉ trích là đề cao thuyết exoticism, còn được nhà phê bình Edward Said gọi là orientalism). Anh nghĩ đây có là một vấn đề cho một nhà văn di dân ở Đức hay không? Nói cách khác, trong quá trình phổ biến những tác phẩm của mình, anh nhấn mạnh tính chất exoticism hay universal, hoặc cả hai, trong những truyện ngắn của mình?

Các truyện ngắn trong Die Insel der Feuerkrabben được tôi chọn lựa, trước tiên, theo sở thích cá nhân, sau đó, theo tiến trình thời gian như một giai đoạn lịch sử rút ngắn từ thời Pháp thuộc cho tới sau biến cố 1975, như tôi đã trình bày trong phần tóm lược tập truyện [7]. Tôi không chú tâm nhiều vào tính “hương xa” (exotic) hoặc “toàn cầu tính” (tạm dịch từ universal) của văn bản. Nhưng, ông Thomas Kade có nhắc tôi, nên để ý chuyển dịch một vài truyện có diễn biến xảy ra tại Đức. Tôi hiểu ý ông. Và đó là nguyên nhân ra đời của những “Die Philosophie der Haare”(“Triết lý của tóc”), “Frühstück in New York”(“Điểm tâm ở Nữu ước”), v.v… Coi như một thoả hiệp, một nhịp cầu văn chương nối liền quê nhà với đất khách.

Tôi không thể xác định mức độ nhạy cảm của người Đức về những đề tài văn chương nói trên. Mặc dù họ cũng có quan điểm “chính trị phải phép” (politisch korrekt), nhưng họ không tự động ném những đề tài có mùi vị “hương xa” vào xó xỉnh văn chương “kẻ lạ”, một khuynh hướng văn chương rạch cạn, ao tù không có điều kiện đổ ra sông dài, biển rộng. Chỉ riêng bút danh của tôi đã tiết lộ phần nào nội dung quyển sách. Tôi có thể hình dung được phản ứng của độc giả Đức khi nhìn cái bìa sách và cái tên tác giả “không biết đọc ra sao”: chỉ một thiểu số cầm lên lật xem cái người Á châu này viết gì trong đó, và một thiểu số của thiểu số tò mò mua về đọc thử.

Với tôi, nối kết giữa người viết và người đọc là động tác một chiều: chủ động dẫn tới phản ứng, không có trường hợp ngược lại. Hành trang của một nhà văn lưu vong, bất cứ ở đâu, lúc nào cũng lỉnh kỉnh vấn đề. Quán hàng xén của người “khách trú” bừa bộn, ngổn ngang trăm nỗi. Với tôi, nỗi niềm của ông ta “hương xa” hay “toàn cầu tính” không phải là vấn đề hàng đầu, mà là khả năng truyền đạt bằng phuơng tiện dịch thuật. Tôi nghĩ rằng, khả năng này tỷ lệ nghịch và có thể triệt tiêu tất cả các vấn đề quấn quýt kèm theo.

(7) Không hiểu anh có ý định dịch tiểu thuyết Núi Đoạn Sông Lìa sang tiếng Đức? Nếu anh cũng có ý định dịch tiểu thuyết này, có phải đây là một loại tiểu thuyết mehrgenerationenhaus như Buddenbrooks của Thomas Mann, hoặc như những tiểu thuyết về những gia đình miền Nam bị suy sụp sau Nội Chiến Hoa kỳ của Faulkner?

Núi Đoạn Sông Lìa là một tiểu thuyết đậm nét “hương xa”. Đúng vậy, ý định của tôi khi khởi sự truyện dài này (được đăng nhiều kỳ trong nguyệt san Làng Văn trước đây. Chưa xong thì tờ báo đình bản) là phác hoạ hoàn cảnh một gia đình trung lưu miền Nam vào thời điểm hỗn mang, chính trị tối sáng, dẫn tới hiệp ước chia đôi Việt nam hai miền quốc cộng. Truyện được tôi hư cấu với nhiều chi tiết huyễn hoặc, hoang tưởng, lồng trong bối cảnh thiên tai tại một xứ nhiệt đới. Nhưng, quan trọng hơn cả, qua đó tôi có ý đưa ra một thủ đoạn của người cộng sản Việt nam sau khi ký kết thoả hiệp tập kếp: ra chỉ thị cho những người tập kết ra Bắc tìm cách cưới hỏi hoặc tằng tịu với phụ nữ miền Nam, nhằm cấy mầm huyết thống cho mục đích chính trị và chiến lược về sau.

Truyện khá dài, còn thiếu đoạn kết. Và tôi cũng chưa biết tôi có đủ kiên nhẫn và khả năng dịch thuật hay không. Tiện thể, cho tôi nhỏ nhẻ thốt lời… hỏi thăm tới các dịch giả uyên bác hơn tôi tại Đức: “Quí vị nào rảnh và giàu hảo tâm, xin vui lòng liên lạc! Đa tạ.”

(8) Trong các những truyện anh đề cập trong tuyển tập Die Insel der Feuerkrabben, có 5 truyện đã xuất hiện trên Da Màu từ năm 2006 cho đến nay. Thúy rất thích truyện “Triết lý của tóc” và Nhân Chứng vì thấy trong hai truyện này văn phong trau chuốt, tượng hình, và có nhiều tính chất thử nghiệm từ cách cấu trúc quan điểm tâm lý của từng nhân vật. Một đoạn trong “Triết lý của tóc” tả nhân vật chính, “Nhiều lúc chàng có cảm tưởng sờ mó được nỗi cô đơn.”

Có lẽ các truyện ngắn của anh chịu ảnh hưởng từ điện ảnh?  Trong “Triết lý của tóc,” Vận tưởng tượng hình ảnh đoàn tàu hỏa đi xình xịch vào đêm đen của góc căn phòng tắm “rộng một cách vô lý.”  Thúy nghĩ chắc anh đã xem phim Zentropa của Lars Von Trier, hoặc Le Locataire của Roman Polanski? Và Nhân Chứng tuy trào lộng, làm người đọc nghĩ đến phim Rashomon của Kurosawa?

Tôi chưa xem Zentropa, nhưng có xem Le Locataire Rashomon. Tôi còn nhớ như mọi chuyện mới xảy ra tuần trước: phim Lã-sanh-môn (Rashomon) chiếu tại rạp Mô-đẹc (Modern) ở đường Trần văn Thạch, bây giờ đổi tên là gì, tôi không biết, gần chợ Tân Định, lúc trước cấm trẻ em dưới 18 tuổi. Ba má và chị hai tôi đi xem, nhưng đám lóc nhóc còn lại, trong đó có tôi, không được tháp tùng. Ấm ức vô cùng.

Nhận xét của Bích Thúy đúng năm mươi phần trăm. Nhân Chứng là một thử nghiệm kiểu Việt Nam của tôi lạm bàn về chân lý và tính không theo triết lý Phật giáo chịu ảnh hưởng Lã-sanh môn, tôi được xem sau này ở Đức. Còn Triết lý của tóc là một cách giải toả những bức bách của cá nhân tôi trước nhãn quan thiên vị, tả khuynh một chiều về chiến tranh Việt Nam của giới trẻ phương Tây trong thập niên sáu mươi của thế kỷ hai mươi. Là âm bản những oan hồn một dân tộc nhược tiểu bị dương bản của giới trẻ và giới truyền thông “mù con mắt tả” bức tử trong cuộc đọ sức giữa chủ nghĩa tư bản và cộng sản ở chiến trường Việt Nam.

(9) Anh nói rằng Hòn Còng Lửa (Văn Mới xuất bản lần đầu năm 2002 tại Hoa kỳ) mang “Cốt truyện xoay quanh hòn đảo, chỗ bầy còng lửa hội về hằng năm, ‘bị’ tôi bắt chuyên chở một ẩn dụ chính trị, mà có lẽ ít người nhận ra. Độc giả bản xứ không am tường lịch sử và thời sự Việt nam càng khó lòng cảm nhận.” Thưa anh, tại sao “ẩn dụ chính trị” này lại khó nhận ra, ngay cả trong thành phần độc giả Việt? Từ phương diện chuyển dịch truyện sang tiếng Đức, không hiểu có phần giới thiệu/diễn giải bối cảnh lịch sử từ chính dịch giả và tác giả?

Biết đâu chừng, “ẩn dụ chính trị” trong truyện ngắn Hòn Còng Lửa đã được một số độc giả… giải mã mà tôi chưa biết.

Câu hỏi này của Bích Thúy bắt tôi bối rối, vì tôi không có thói quen giải thích ý nghĩa những gì tôi viết. Nếu đó là một “ẩn dụ”, tôi càng không muốn. Trong trường hợp này, có hai giả thuyết: Một là tôi vụng viết, không truyền được ẩn ý giữa những hàng chữ tới bạn đọc; hai là tôi “lặn” khéo đến nỗi độc giả “bắt” không được, “nhìn” không ra?

Thật ra, cũng không có gì khó cảm nhận lắm đâu. Tôi vẫn tin ở thẩm quan văn chương tinh tế của độc giả gốc da màu. Còn độc giả da trắng, tôi không chắc. Thôi thì như vầy đi! Bao giờ truyện ngắn “Hòn còng lửa” được giới thiệu tới quí độc giả Da màu, nếu có ai thắc mắc, xin cho biết, tôi sẽ liệu cách trả lời. Bằng không, cứ… để vậy, coi như một… nghi án của văn chương lưu vong. Bích Thuý đồng ý không?

Die Insel der Feuerkrabben không có lời giới thiệu cũng như diễn giải bối cảnh lịch sử của dịch giả. Bây giờ tôi mới nhận ra, đó là một thiếu sót.

(10) Anh nhận định trong bài “Dịch thuật, với tôi vì vậy, không phải là quá trình sáng tạo thuần nghĩa khám phá ý tưởng mới lạ bằng những rung động của cảm hứng, mà chỉ là một bộ môn văn chương sử dụng kỹ xảo hành văn: một bản sao từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác.” Thưa anh, có thật sự người dịch “sao” lại, hay là phải tạo lại từ tiếng Việt sang tiếng Đức? Sự khác biệt như thế nào, xin anh cho một vài thí dụ cụ thể từ một (hoặc vài) văn bản của anh.

Tôi ưng ý câu hỏi này của Bích Thúy, ví như một căn phòng có nhiều cánh cửa khép hờ. Chỉ cần đẩy nhẹ, cửa sẽ mở ra cõi không gian bí ẩn bên ngoài kích động tính khai phá.

Là kẻ sắm hai vai, vừa là tác giả vừa là người dịch, trong tấn tuồng văn chương đa dạng, rối rắm, tôi không phải là trường hợp tiêu biểu để trả lời rốt ráo câu hỏi này của Bích Thúy. Nhưng thú thật, trong khi chuyển ngữ những tác phẩm do chính tôi sáng tác, tôi chỉ tìm cách “sao dịch” lại, càng sát càng tốt, từ tiếng Việt sang tiếng Đức. Tâm thức “sáng tạo” của tôi trong khoảnh khắc ấy, tự động khép kín. Nếu phải tìm tòi, suy nghĩ; thì ý thức ấy thuần tính kỹ thuật, không phải khám phá. Vì vậy tôi chuộng cụm từ “kỹ xảo” hơn, vì nó nói lên được cách thức dụng ngữ khéo léo, tinh tế của dịch giả. Tôi không cho rằng, trình độ dịch thuật của tôi đã đạt được kỹ thuật ấy, vì có nhiều đoạn hiểm hóc, khả năng của tôi không đủ chuyển ngữ, tôi… đánh vòng.

Chẳng hạn:

“Meine Heimat lag an der mit frischem Schlamm angeschwemmten Küste, wo die Mangroven sich schlängelnd angesiedelt hatten. Dahinter lag ein Wäldchen mit dünnen tropischen Myrtenheiden- und Mangroven-Bäumen, um die sich viele Legenden rankten. Nicht einmal ich wagte es, allein dorthin zu gehen.” [8] (1).

Hoặc:

“Aber nein, wer hätte denn schon einen schwierigen Weg ausgesucht, nicht wahr, Herr Reporter? Einmal war ich entschlossen, den Novizenregeln zu folgen. Ich konnte aber die alltäglichen Sutren nicht einmal auswendig lernen, wie dann die Shuramgama-
oder Lankavatara-Sutra? Ich erinnere mich an jene Zeit, wo ich jedes Mal, wenn ich die Texte dieser Mantras rezitierte, in Gelächter ausbrechen musste. Nichts war zu verstehen! Offen gesagt, würde Buddha von mir sehr enttäuscht sein. Aber man hat die Sutren nicht in unserer Sprache geschrieben …”
[9] (2).

So với bản Việt ngữ, bản dịch (1) không bám sát, nhưng ý nghĩa không mất. Trích đoạn bản dịch (2) tương đối sát, nhưng tôi đành bỏ câu tiếng Phạn “Nam mô bà già bà đế” trong bản chính, vì không biết phải dịch ra sao cho đúng, thay vào đó là câu “… wenn ich die Texte dieser Mantras rezitierte…” (có nghĩa: “… khi tôi tụng bài kinh này …”). Dù vậy, vẫn không thể cho rằng tôi đã “sáng tạo” một văn bản mới, hoàn toàn khác với bản gốc.

Cho tôi được ví von: Bản văn gốc giống như một đứa trẻ được sinh ra và dạy dỗ bằng ngôn ngữ mẹ đẻ; về sau nó được mẹ nuôi chỉ bảo thêm nhiều ngôn ngữ khác. Đứa trẻ ấy có thể sử dụng thông thạo nhiều thứ tiếng, nhưng nó chỉ có thể rung động hoàn toàn và thật sự khi được chuyện trò, kể lể bằng ngôn ngữ sinh trưởng. Mẹ ruột là người sáng tạo cả hồn lẫn xác; còn mẹ nuôi chỉ là kẻ mở rộng tầm kiến thức, hoàn toàn không dự phần vào tiến trình thành hình bản sắc của đứa trẻ.

Tôi hy vọng, tôi đã trả lời phần nào thoả đáng những câu hỏi của Bích Thúy. Với bài phỏng vấn này Bích Thúy đã đưa ra nhiều đề tài đáng thảo luận, tạo phần linh động cho ngành văn chương dịch thuật từ Việt ngữ sang ngoại ngữ, nhằm góp mặt vào sinh hoạt văn chương bản xứ. Cám ơn Bích Thúy và Ban biên tập Da Màu.

Da Màu chân thành cám ơn anh Ngô Nguyên Dũng. Mến chúc anh nhiều thành công trên con đường văn chương “xâm chiếm” giòng văn hóa Đức.

Trân trọng.

Đinh Từ Bích Thúy
Thay mặt BBT Da Màu


[1] "Zuhause nur im Wort" ( POP-Verlag, Ludwigsburg, 2009).

http://www.pop-verlag.com/10_07_2009.htm

[2] "Grenzerfahrungen" (Geest-Verlag, Vechta, 2009).

[3] http://www.pop-verlag.com/edition-matrix/2_2010_20.htm

[4] http://www.pop-verlag.com/edition-matrix/2_2011_24.htm

[5] http://www.golem.de/1103/82194.html

[6] http://www.pwc.de/de/technologie-medien-und-telekommunikation/e-books-in-deutschland-der-beginn-einer-neuen-gutenberg-aera.jhtml

[7] Xem "Dịch thuật: sáng tạo hay kỹ xảo của ngôn ngữ và hoàn cảnh ra đời của một tác phẩm bằng tiếng bản xứ".

[8] "Die Insel der Feuerkrabben", POP-Verlag, Ludwigsburg, 2011, tr. 11.

"Quê tôi nằm ven biển tân bồi. Bờ phù sa non là dải rừng mắm dài ngoằn ngoèo. Sâu thêm là chéo rừng tràm èo uột. Sâu thêm nữa là cánh rừng đước âm u, rập rợn những chuyện kể hoang đưòng. Chưa lần nào tôi dám một mình đặt chưn vô đó." ("Hòn còng lửa", Văn Mới, California, U.S.A., 2002, tr. 163).

[9] "Die Insel der Feuerkrabben", POP-Verlag, Ludwigsburg, 2011, tr. 65-66.

"… Mà thôi, đâu có ai tìm đường cong mà đi, phải không ông ký giả? Ngày xưa, đã có lần tui rắp tâm thọ sa-di đó chớ, nhưng học mấy bài kệ còn chưa thuộc tì nói gì tới chú Lăng Nghiêm, Lăng Già. Tui còn nhớ, hồi nẳm, mỗi lần đọc tới đoạn: ‘Nam mô bà già bà đế’ là tui phì cười, hổng hiểu gì ráo. Nói ra, chắc Phật buồn tui lắm, nhưng mà họ viết mấy bài chú không phải bằng tiếng nước mình…" ("Nhân chứng", Văn Mới, Văn Mới, California, U.S.A., 2002, tr. 25).

bài đã đăng của Đinh Từ Bích Thúy


1 bình luận »

  • Trần Đăng Khoa viết:

    “Trước 1975, cá nhân tôi chưa hề nghe ai nhắc tới, cũng như chưa thấy tác phẩm văn chương nào của các tiểu quốc láng giềng như Nam-dương, Căm-bốt, Ai-lao, Thái-lan, v.v… được dịch sang Việt ngữ.”

    Đây là bi kịch của các dân tộc nhược tiểu, luôn luôn bị thu hút về “chính quốc”, quên mất người láng giềng nghèo khó. Hãy so sánh số người Việt nói tiếng Anh, Pháp và người Việt nói tiếng Khmer! Ai người Việt nói tiếng Khmer? Các anh lính giải ngũ, các cô gái ăn sương,vài người buôn hàng,…

Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)
porn ficken russian porn japanese porn watch porn watch sex izle sex izle anal porn tube amateur porn watch