Trang chính » Dịch Thuật, Giới thiệu tác phẩm, , Từ Việt ngữ Email bài này

Dịch thuật: sáng tạo hay kỹ xảo của ngôn ngữ và hoàn cảnh ra đời của một tác phẩm bằng tiếng bản xứ

 

Ngô Nguyên Dũng portrait

Hình bìa tuyển tập truyện ngắn Die Insel der Feurkrabben (Hòn Còng Lửa) của nhà văn Ngô Nguyên Dũng

 

Dịch thuật là một việc khó.

Tôi đã trải qua kinh nghiệm này, khi tôi bắt đầu nảy ý "tự biên, tự diễn, tự viết, tự dịch"; và trong bài viết này, "tự cổ động" một tập sách được tôi chuyển dịch vài trước tác của mình sang Đức ngữ. Bóng bẩy vay mượn từ ngôn ngữ bình dân, là một kiểu "tự thoả mãn tâm lý", một thách đố đo lường khả năng bản thân. May là tôi chưa phải "tự xuất bản"!

Tôi không biết, đã có ai trước tôi, vừa là tác giả vừa là dịch giả, làm chuyện này chưa. Chắc có, mà tôi chưa biết. Chỉ xin bộc bạch một điều, với tư cách là một dịch giả không chuyên nghiệp, tôi sẽ không nhọc nhằn làm việc này, nếu có người tự nguyện gánh vác thay tôi. Lẽ đương nhiên… không có ai hết!

Sẽ có người thắc mắc, khổ công làm gì không biết. Vì đâu phải vất vả dịch xong, phủi tay rung đùi ngồi đó, chờ người tới gõ cửa, đem bản thảo ra nhà in. Còn phải nhờ bạn bè bản xứ đọc và sửa lại những lỗi chính tả, câu cú cho chuẩn văn phạm và ngữ cảnh, phải tìm nhà xuất bản, phải quảng cáo sao cho có… trình độ, để khỏi trở thành người sơn đông mãi võ, bán cao đơn hoàn tán văn chương. Và nhiều thứ phải và phải khác nữa.

Ngôn ngữ Ðức không phải là tiếng mẹ đẻ của tôi, được nhiều người biết tới như một trong vài thứ tiếng khó nhơi nhất thế giới. Khi đặt chân sang đây, chưa bao giờ tôi nghĩ rằng mình có thể "sống sót" tại xứ này lâu như vậy. Cho tới lúc thời cuộc đẩy đưa, bắt tôi lựa chọn kiếp sống lưu vong. Dân Ðức trật tự, kiên nhẫn, cần mẫn và có bản tính, nếu dùng nhiệt độ kế đo lường, dám dưới mười độ. Ưu điểm của họ là đức tính thành thật, không lươn lẹo vặt vãnh. So với bản sắc Việt, khác xa. Nhược điểm của họ, theo tôi, là bản sắc dân tộc cao độ, dẫn tới khuynh hướng phân biệt chủng tộc, mà thảm cảnh tàn sát dân Do thái giữa thế kỷ 20 là thí dụ điển hình. Là một người chủng gốc da màu, muốn chen chân, tìm một chỗ đứng làm "nhân vật của đám đông" trong cộng đồng người bản xứ tại đây, không đơn giản. Trong thị trường sách in hiện nay, tìm được một nhà xuất bản đồng ý ấn hành một tác phẩm văn chương thuần tuý cho một tác giả chưa có tên tuổi trên văn đàn bản xứ, càng khó gấp bội. Biết vậy, tôi sắp xếp lớp lang thực hiện "mưu toan" văn chương của mình.

Trước tiên tôi nộp đơn gia nhập Exil P.E.N., "Trung tâm những người viết lưu vong tại các quốc gia nói tiếng Ðức" [1], là một nhánh của "Trung tâm Văn bút Quốc tế". Và được ông Hans Lindemann, nguyên phát ngôn viên của trung tâm, một tác giả biên khảo xuất thân từ Ðông Ðức cũ, ân cần giúp đỡ. Cũng là lúc tôi khởi sự chuyển ngữ truyện ngắn "Hòn còng lửa" vào năm 2005. Cái tựa truyện không thôi, đã là một thử thách. (Ngay trong giới bạn bè đồng hương của tôi, còn có người không hiểu "hòn" là cái gì, và "còng" là con gì. Cả cái tựa sách Việt ngữ còn bị xếp sai thành "cồng", là khuyết điểm trầm trọng, trông như nốt ruồi vô duyên trên một gương mặt đẹp.) Đắn đo suy nghĩ mất tới… vài ngày, tôi dứt khoát chuyển ngữ thành "Die Insel der Feuerkrabben".

Tại sao tôi chọn truyện ngắn này để bắt đầu "văn nghiệp thứ hai", tôi cũng không biết. Chỉ biết, đó là một trong ít truyện tôi ưng ý. Truyện có văn phong miền Nam và khung cảnh một làng quê miền Nam ven biển dưới thời Pháp thuộc. Cốt truyện xoay quanh hòn đảo, chỗ bầy còng lửa hội về hằng năm, "bị" tôi bắt chuyên chở một ẩn dụ chính trị, mà có lẽ ít người nhận ra. Độc giả bản xứ không am tường lịch sử và thời sự Việt nam càng khó lòng cảm nhận. Truyện bắt đầu bằng: "Oft erinnere ich mich an die monotone, gefühllose Stimme meines Vaters, als er von einer mit Schwemmerde bedeckten Insel erzählte." [2] Rỉ rả chuyển ngữ, phải mất vài tháng tôi mới hoàn tất tác phẩm văn xuôi chuyển ngữ đầu tay của mình sang tiếng bản xứ. Vỏn vẹn 15 trang sách.

Trong vai trò vừa là người sáng tạo vừa là người dịch thuật, tôi có nhiều lợi điểm. Tôi hiểu rõ những gì tôi viết. Tôi không nhất thiết bám sát văn bản gốc. Tôi tự cho mình cái quyền sinh sát, mà không ngại ai trách cứ. Ví như người thợ may sửa lại tấm áo cho những đứa con tinh thần ra đời nơi đất khách, tôi có thể cắt xén chỗ này, nới rộng chỗ kia, sao cho vừa ni tất cú pháp ngôn ngữ bản xứ.

Và quan trọng hơn cả, tôi nắm được mỗi rung động ẩn khuất giữa những dòng chữ.

Khi ông Lindemann muốn biết thêm chi tiết về "sự nghiệp văn chương" của tôi, tôi gởi bản dịch "Hòn còng lửa", sau khi được vài người bạn bản xứ sửa lại, cho ông đọc. Những lời khích lệ… ấm áp của ông sau đó qua điện thoại khiến tôi phấn khởi, tiếp tục việc làm tận dụng nhiều trí lực này.

Cùng lúc, tôi ghi tên tham dự liên tiếp nhiều khoá hội luận và phê bình bản thảo tại trường Bách khoa Bình dân thành phố, mục đích tìm hiểu phản ứng cũng như nhận xét của người bản xứ quan tâm tới văn chương và thi ca. Trong những buổi gặp gỡ này, do ông Thomas Kade hướng dẫn, thi sĩ có tác phẩm ấn hành, chúng tôi chuyền bản thảo cho nhau đọc, trao đổi ý kiến cũng như tin tức về những vấn đề liên quan tới văn chương và ấn hành. Cho các dịch phẩm của tôi, ông Kade đề nghị, không nên lạm dụng tĩnh từ và cường điệu quá độ. Với đề nghị một, tôi đồng ý có giới hạn. Với điểm hai, tôi phản đối, vì nghĩ rằng, một tác giả văn chương được phép hưởng cái quyền tối thiểu: cường điệu hoá sự kiện hư cấu. Quá độ hay không, tất cả lệ thuộc vào cảm hứng trong lúc sáng tác. Ở đây, tôi xin nhấn mạnh lần nữa, tiếng Đức "không phải là ngôn ngữ mẹ đẻ" của tôi. Lúc bấy giờ, tôi thường xuyên suy nghĩ và chiêm bao bằng Việt ngữ. Bất chợt, không rõ bắt đầu từ khi nào, mớ ngôn ngữ bản xứ rón rén vọng tiếng trong những giấc mộng tôi. Như một tín hiệu, một lời nhắn nhủ, một đốc thúc xô tôi mạnh dạn dấn thân vào cuộc thử thách. Dù được "mặc khải" hay không, văn phong dịch thuật và sáng tác của tôi bằng ngữ pháp tiếng bản xứ không bắt nguồn từ thói quen của ý thức được học hỏi và trau giồi từ nhỏ, mà là vốn liếng kiến thức sao chép từ ngôn ngữ sinh trưởng sang ngôn ngữ khoa bảng. Dịch thuật, với tôi vì vậy, không phải là quá trình sáng tạo thuần nghĩa khám phá ý tưởng mới lạ bằng những rung động của cảm hứng, mà chỉ là một bộ môn văn chương sử dụng kỹ xảo hành văn: một bản sao từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác. Kỹ xảo càng nhuần nhuyễn, tinh nhạy, bản dịch càng linh động, lôi cuốn.

Mới lạ ư? Ở thời buổi đầu thế kỷ 21, thị trường sách in, sách điện tử hỗn mang, loạn phát này hình như chẳng còn gì khả dĩ gọi là "cách tân". Mọi lối mòn trong rừng già văn chương đã được các vị tiền bối khai phá, giẫm qua. Chút mới lạ còn lại cho hậu sinh, theo tôi, chính là cái nhãn quan cá biệt của người viết về một đề tài đã cũ. Một kiểu "bình cũ, rượu mới". Hoặc, nói theo ngôn từ "hậu hiện đại", dùng thủ thuật cấy ghép từ các nhiễm sắc thể gốc, "sáng tạo" ra nhiều loài thực động vật hư cấu nhằm đáp ứng thị hiếu giới thưởng ngoạn.

Một chi tiết đáng quan tâm khác về hình thức phổ biến các tác phẩm dịch thuật: trong khi ở Việt nam, bút danh tác giả và dịch giả được người đọc biết đến gần như ngang nhau; thì tại các quốc gia Âu châu, dịch giả chỉ được nhắc tới vài dòng ngắn gọn ở trang trong bằng khổ chữ nhỏ tối đa: "Ðược … (tên dịch giả) dịch từ tiếng … (ngôn ngữ gốc)." Tiếp theo là các chi tiết về bản chính: tựa sách, tên, địa điểm nhà xuất bản và năm ấn hành của văn bản nguyên thuỷ. Có vẻ như, phần thưởng tinh thần cho công lao chuyển ngữ của dịch giả tại các quốc gia vốn tôn trọng quyền tư hữu trí tuệ không được đền bồi xứng đáng. Đã mấy ai tại đây đọc một văn phẩm dịch thuật, đoái hoài tới tên tuổi dịch giả? Vì vậy, có nên đặt dấu hỏi về cách định giá của độc giả đối với vai trò của người dịch trong môi trường văn chương dịch thuật tại các quốc gia này?

Những quan niệm nêu trên của tôi về sáng tác và dịch thuật thuần tính chủ quan. Xin quí vị dịch giả và độc giả tự chọn cho mình một giải đáp thích đáng.

*

Trong những buổi gặp gỡ hằng tháng của văn thi sĩ địa phương trong một quán sách nhỏ, ông Thomas Kade đã có lần lên tiếng về những bản dịch của tôi: "Đây là những truyện ngắn xứng đáng được ấn hành." Lời khuyến khích của ông, cũng như một vài phản ứng thuận lợi của khách tham dự các buổi đọc truyện có tôi góp mặt, là động lực thúc đẩy tôi tiến tới. Tôi nhẫn nại chuyển ngữ tiếp những truyện ngắn khác. Để rồi, sau nhiều năm cặm cụi, "Augenzeuge" [3], "Die Philosophie der Haare" [4], "Die Regenmelodie" [5], "Das Drama im Dschungel" [6], "Frühstück in New York" [7], "Nächtliche Klingel" [8], "Das Festmahl gen Himmel" [9] lần lượt ra đời. Cùng với "Das Haus der dritten Glückseligkeit" [10] "Das Stigma der Ölsardinen", ("Dấu ấn những con cá mòi đóng hộp") hai đoản văn được tôi sáng tác trực tiếp bằng Ðức ngữ, gom thành tập truyện "Die Insel der Feuerkrabben" [11].

Chặng đường đầu tiên coi như xong. Khâu kế tiếp là việc tìm nhà xuất bản. Bản tóm lược nội dung (Exposé) tập truyện kèm theo vài bản thảo gởi tới các nhà xuất bản, được tôi nắn nót hoa mỹ:

"Qua mười truyện kể, những biến động theo quá trình lịch sử đất nước Việt nam kéo dài gần nửa thế kỷ được thu gọn qua hình thức văn chương: Vào thời điểm cận kề hoàn cảnh chia đôi đất nước, "Hòn còng lửa" nhắc nhớ thời ấu thơ cô quạnh của một cậu bé tại một làng quê miền Nam, đồng hành theo những biến động văn hoá và thời sự rối loạn. Ngược lại, "Bi kịch rừng" thuật lại một sự kiện dã man xảy ra trong rừng già Việt bắc vào thời kháng chiến chống Pháp. Trong "Nhân chứng", hiện tượng vẫn thạch rơi được một vài chứng nhân tường thuật đầy tính trào lộng và cảm xúc. Với "Đệ tam khoái tửu điếm" độc giả có thể nhận thức một khía cạnh của bản sắc văn hoá Việt nam dựa theo chuyện đời của người mẹ đã một thời giúp việc trong một nhà chứa trước khi cuộc chiến Việt nam bùng nổ. Trong "Triết lý của tóc", một sinh viên Việt nam định giá lại, với nhiều ưu uất và mỉa mai, nghĩa lý và vô lý của phong trào chống đối của giới sinh viên bản xứ trong thập niên 60. Sau khi đất nước thống nhất theo chủ nghĩa xã hội, qua "Mưa ngũ cung", một diễn viên cải lương bị hoạn thuật lại cho một ký giả chuyện đời của ông với nhiều hồi tưởng bi thảm. Về làn sóng thuyền nhân tị nạn trong thập niên 80 có "Ðiểm tâm ở Nữu Ước", một chuyện tình tay ba tân thời, và "Chuông đêm" kể lại hoàn cảnh một bé trai Việt nam mồ côi qua nhãn quan của một cố vấn tâm lý người Đức với một kết thúc bất ngờ. Trong "Dấu ấn những con cá mòi đóng hộp" [12], những hoạt cảnh tại nhà ga trong hiện tại và dưới thời Đức quốc xã khơi động ký ức nhân vật chính nhớ lại khoảng đời sinh viên. Tập truyện được kết thúc bằng "Ðám tiệc lên trời", một giấc mộng trẻ thơ với những nhân vật tương phản đầy văn chương tính và thống khoái khẩu vị." [13]

Dẫu vậy, những cố gắng tự tìm một nhà xuất bản "đứng đắn" [14] vẫn không đạt được kết quả như ý. Cuối cùng, ông chủ tịch Trung tâm Văn bút, giáo sư tiến sĩ Wolfgang Schlott, khuyên tôi, để POP-Verlag, một nhà xuất bản nhỏ ở miền Nam Ðức, mà chủ nhân cũng là hội viên của Trung tâm, ông Traian Pop, gốc người Lỗ-ma-ni, lo việc ấn hành. Ông Schlott còn đề nghị, khi nào sửa xong bản thảo, gởi cho ông đọc, ông sẽ viết cho một bài tựa.

Sau vài tháng liên lạc qua lại bằng điện thư với bà thầy cò Barbara-Marie Mundt, hiện định cư tại Bồ-đào nha, rốt cuộc bản in cũng hoàn tất. Như đã hứa, ông Schlott thảo một lời tựa dài ba trang rưỡi sách, có đoạn kết như sau:

"Các văn bản dịch từ Việt ngữ mang tính thuyết phục qua phong cách thuật chuyện đa dạng, những hình ảnh thiên nhiên được chuyển thể chính xác và những dự phóng tinh tế về tiến trình chính trị. Đó là những đặc tính dẫn chứng cho kỹ xảo văn chương của một tác giả, sẽ lưu lại một dấu nhấn đặc thù qua tập truyện này như một sản phẩm phong phú của văn đàn Việt nam lưu vong." [15]

Ảnh 2

Bài phỏng vấn với tựa đề "Bầy còng lửa xâm chiếm văn học" đăng trong một nhật báo địa phương [16]

Mặc dù bản thảo đã qua tay nhiều người đọc sửa, nhưng tôi tin rằng, đây đó vẫn không tránh khỏi những khiếm khuyết vụng về. Văn chương là món ăn tinh thần. Kiểu cách nêm nếm, xào nấu chữ nghĩa của đầu bếp có hợp khẩu vị thực khách hay không, tuỳ thuộc vào khiếu thưởng ngoạn của người đọc. Trong khoảnh khắc sáng tạo, với vai trò của người viết, tôi chỉ biết phục tòng cảm hứng và những rung động vô hình của ngôn ngữ. Món lạ hương xa, đậm đà hương vị Việt tính được tôi dọn bằng dĩa, ăn bằng muỗng nỉa nơi đất lưu vong đã bày biện xong xuôi. Hạt mầm văn chương đã nứt mầm nơi đất khách. Bản gốc đã được tôi bón quén thành cây và bản ngọn, với trợ lực nhiệt tình của nhiều bạn bè và ân nhân bản xứ, đã đâm cành, giờ đây chỉ còn chờ duyên nắng, duyên mưa để đơm hoa, kết trái.

(Đức, tháng 2. 2012)

 


Chú thích:

[1] Zentrum der Schriftstellerinnen und Schriftsteller im Exil deutschsprachiger Länder.

[2] "Tôi vẫn nhớ giọng nói chẩm rãi, đều đặn, không một chút sôi nổi của cha tôi, khi ông nhắc tới hòn đảo phù sa." ("Hòn còng lửa", Văn Mới, California, U.S.A. 2002, tr. 162).

[3] "Nhân chứng", (n. tr., tr. 9), http://damau.org/archives/1960.

[4] "Triết lý của tóc," http://damau.org/archives/12427

[5] "Mưa ngũ cung", http://www.nhanvan.com/magazines/vanhoc/188/muangucung_ngonguyendung.htm

[6] "Bi kịch rừng", http://damau.org/archives/14986

[7] "Ðiểm tâm ở Nữu Ước", ("Ngôn ngữ tuyết", Quyên Book, California, U.S.A., 2006), http://damau.org/archives/14021.

[8] "Chuông đêm" (tập truyện cùng tựa, Làng Văn, Toronto, Canada, 1992, tr. 63).

[9] "Ðám tiệc lên trời", c. x. b.

[10] "Đệ tam khoái tửu điếm", http://damau.org/archives/11663

[11] "Die Insel der Feuerkrabben", POP-Verlag, Ludwigsburg, Đức quốc, 2011, www.pop-verlag.de

[12] "Das Stigma der Ölsardinen" ("Die Insel der Feuerkrabben", POP-Verlag, Ludwigsburg, Đức quốc, 2011, tr. 153).

[13] "Mit zehn Kurzgeschichten wird die fast ein halbes Jahrhundert umfassende Chronologie der Ereignisse in Vietnam belletristisch erzählt: Aus der Zeit, kurz vor der ideologischen Teilung, wird in "Die Insel der Feuerkrabben" an die einsame Kindheit eines Jungen in einem Dorf Südvietnams erinnert, begleitet von vielen verworrenen politischen und kulturellen Veränderungen. "Das Drama im Dschungel" erzählt dagegen eine grausame Begebenheit im Regenwald Nordvietnams während des Widerstandskampfes gegen die französische Herrschaft. In "Augenzeuge" wird der Fall eines Meteorsteins durch einige Augenzeugen humorvoll und einfühlsam berichtet. Mit "Das Haus der Dritten Glückseligkeit" können die Leser ein Stück kultureller vietnamesischer Mentalität durch die Lebensgeschichte einer Mutter erfahren, die in einem Vergnügungshaus vor Ausbruch des Vietnamkrieges arbeitete. In "Die Philosophie der Haare" werden Sinn und Sinnlosigkeit der Studentenbewegungen der sechziger Jahre von einem vietnamesischen Studenten, melancholisch und spitzzüngig, bewertet. Nach der Vereinigung im Sozialismus erzählt in "Die Regenmelodie" ein kastrierter Operdarsteller einem Reporter seine Lebensgeschichte mit dramatischen Rückblenden. Über den Flüchtlingsstrom der achtziger Jahre: "Frühstück in New York", eine moderne Dreieckbeziehung, und "Nächtliche Klingel", das Schicksal eines vietnamesischen Waisenjungen aus Sicht eines deutschen Seelsorgers mit einem überraschenden Ende. Mit "Das Stigma der Ölsardinen" werden Erinnerungen des Protagonisten aus seiner Studentenzeit wach, mit Aktivitäten am Bahnhof im Nationalsozialismus und heute. Der Erzählband wird mit "Das Festmahl gen Himmel", ein Kindertraum mit gegensätzlichen Figuren, belletristisch und gaumenfreudig abgeschlossen."

[14] Một nhà xuất bản không "đứng đắn" sẽ yêu cầu tác giả trả ấn phí cho việc ấn hành.

[15] "Die aus dem Vietnamesischen übersetzten Texte überzeugen durch ihre unterschiedlichen Erzählformen, ihre präzise umgesetzten Naturbilder und ihre subtilen Einschätzungen politischer Abläufe. Es sind Eigenschaften, die auf die schriftstellerischen Fertigkeiten eines Autors verweisen, der mit diesem Erzählband das reichhaltige Angebot aus der vietnamesischen Exil-Literaturszene mit einem besonderen Akzent versehen wird." ("Die Insel der Feuerkrabben", POP-Verlag, Ludwigsburg, Đức quốc, 2011, tr. 8).

[16] "Feuerkrabben erobern Literatur", Gisela Weiler, Westfälische Rundschau – Nr. 2 – RDO06, phát hành ngày thứ ba, 03.01.2012.

bài đã đăng của Ngô Nguyên Dũng


1 bình luận »

Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)
porn ficken russian porn japanese porn watch porn watch sex izle sex izle anal porn tube amateur porn watch