Trang chính » Bàn Tròn: Chính trị, Biên Khảo, Chuyên Đề, Dịch Thuật, Phụ Nữ & Giới Tính, Sang Việt ngữ Email bài này

Quyền Làm Người (Phần 2)


♦ Chuyển ngữ:
0 bình luận ♦ 22.02.2012

 

 

women-protest

 

Hôm tôi ngồi với Cecile Richard ở khách sạn Washington cũng là sinh nhật của cô. Richards sinh năm 1957. Cả cuộc đời cô là lịch sử của Đảng Dân chủ ở nửa sau thế kỷ hai mươi. “Tôi xuất thân từ một gia đình với những phụ nữ độc lập và mạnh mẽ,” cô nói. Bà nội của cô, Eleanor Richards, là Chủ tịch Liên Hiệp Các Nữ Cử tri Texas. Mẹ cô-bà Ann Richards-có một sự nghiệp chính trị lâu dài ở Texas. “Mẹ tôi cũng giống như những bà mẹ khác của những năm 50-60,” Richards nói, “Chỉ khác một điều là bàn ăn nhà tôi là ‘nơi sắp xếp danh sách các đơn vị bầu cử’”

Richards lớn lên ở Dallas, nơi cha cô-ông David-làm luật sư lao động. “Ba mẹ tôi kể như chống lại tất cả mọi sự,” cô nói. “Ba mẹ tôi tham gia tất cả các phong trào nào về đến thị trấn của chúng tôi.” Lúc chưa biết đi cô đã ngủ trong xe khi ba mẹ cô lái xe đi dự các cuộc họp của các Đảng viên DC trẻ. Khi mẹ cô đi làm thiện nguyện ở tổng hành dinh của NAACP ở Đông Dallas, ngồi vô phong bì cho vòng đua tranh cử thống đốc bang năm 1958 thì ba cô chăm sóc cô. Năm 1961, cả nhà dọn đến sống ở Washington hết một năm khi David làm việc cho Ủy ban Dân quyền. Mẹ cô thuê người giữ trẻ tới nhà mỗi tuần một lần để bà có thể đến hành lang thượng viện theo dõi tình hình. Lúc Cecile được mười một tuổi, cô đã lần đầu tiên được xem cha mình tranh biện vụ án đầu tiên của ông trước Tòa Tối cao. Bữa tiệc khiêu vũ đầu đời của cô là năm cô 12 tuổi, trong một buổi dạ vũ quyên góp cho Liên hiệp các Nhân công Nông trường tổ chức ở VFW[1]. Suốt trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam, cha cô bảo vệ những người không chịu đầu quân để phản đối chiến tranh. Khi Cecile học lớp bảy, cô đã bị gửi lên văn phòng Ban Giám hiệu vì đã đeo băng tay màu đen để phản đối chiến tranh. Cô nói, “Đó là lần đầu tiên tôi đã, như một người trẻ tuổi, đứng lên vì điều mình tin tưởng.”

Lúc bà Margaret Sanger qua đời, năm 1966, thì Richards mới chín tuổi. Năm sau, Alan Guttmatcher biên tập một quyển sách có tựa là “Để Phá Thai Được Hợp Pháp Hóa Ngay”. Là một thực tập sinh trong những năm hai mươi, Guttmatcher đã chứng kiến một phụ nữ chết vì phá thai không đúng cách. Ở Mount Sinai ông đã thực hiện phá thai cho tới khi bệnh viện yêu cầu phải ngưng. Những luật cho phá thai tự do vào những năm sáu mươi và nửa đầu những năm bảy mươi đã được thúc đẩy bởi các bác sĩ và luật sư, và được các giáo sĩ ủng hộ. Khoảng giữa 1967 và 1970, một số cấm đoán đối với phá thai đã được gỡ bỏ ở Alaska, Arkansas, California, Delaware, Georgia, Hawaii, Kansas, Maryland, New Mexico, New York, North Carolina, Virgian, và Washington. Thống đốc Ronald Reagan đã ký luật California[2]. Cho tới 1970, Dịch vụ Tư vấn Của các Giáo sĩ về Phá thai, vốn đã được thành lập để giúp phụ nữ tìm được những bác sĩ có thể thực hiện phá thai an toàn, đã cung cấp dịch vụ này tại hai mươi sáu tiểu bang.

Phụ nữ đã không tham gia nhiều lắm vào cuộc đấu tranh giành phần thắng này. Betty Friedan đã lên tiếng kêu gọi ủng hộ luật tự do phá thai tại một cuộc họp của Tổ Chức Quốc Gia vì Phụ Nữ năm 1967; nhưng thực sự các nhà hoạt động nữ quyền đã chỉ bắt đầu nỗ lực tham gia từ năm 1969-năm thành lập nhóm đòi quyền phá thai NARAL, tại một hội thảo ở Chicago trong đó Friedan tuyên bố, “Không thể có tự do và bình đẳng, không thể có quyền làm người và sự tôn trọng trọn vẹn cho phụ nữ khi chúng ta chưa được khẳng định và yêu cầu quyền được kiểm soát cơ thể và quá trình sinh sản của chính chúng ta.”

Năm 1972 khi Cecile Richards đang học trung học, Sarah Weddington-một luật sư 27 tuổi, người đã nhận tư vấn cho một dịch vụ có liên quan tới ngừa thai và phá thai-tiến hành tranh cử vào hệ thống lập pháp của Texas. Luật sư này đã tuyển Ann Richards-một bà nội trợ bốn con-vào để phụ giúp chiến dịch tranh cử. Mấy chị em Cecile được giao việc dán nhãn lên mấy cái cản xe. Sau khi Weddington thắng cử, Ann Richards được tuyển làm trợ lý văn phòng. Sarah Weddington là một trong những luật sư đã cãi cho Jane Roe trong án lệ Roe chống lại Wade.

***

Đa số mọi người khi đọc đến giai đoạn lịch sử này của nước Mỹ cũng sẽ đều giơ cao hai tay. Bất luận bạn đang nghĩ gì về quyền lực, những điều sắp kể tới đây thật là khủng khiếp. Một dấu hiệu cảnh báo sớm: mười tháng sau vụ Roe, Guttmacher mô tả việc ông đến bệnh viện Brigham và Phụ nữ ở Boston để thuyết trình, và rốt cuộc chỉ gặp một người phản đối mặc chiếc áo choàng dùng trong phòng mổ loang đầy những bệt sơn đỏ, miệng kêu khóc “Đồ sát nhân!” Guttmacher viết trong tờ Reader’s Digest rằng, “những ai đang phản đối và những người ủng hộ tự do phá thai có chung một mục tiêu—đó là giảm thiểu toàn bộ số vụ phá thai,” thông qua những phương cách ngừa thai tốt hơn, an toàn hơn, rẻ hơn; bởi vì, ông thấy rằng, “mỗi một vụ phá thai đều nói lên một thất bại nào đó về y khoa hoặc về xã hội.” Điều này khiến ông nhận được cả núi thư chửi bới đầy căm ghét. Ông đã qua đời không lâu sau đó.

“Trừ khi vụ án Roe chống Wade được đảo ngược lại, còn thì chính trị không bao giờ khá lên nổi,” bình luận viên tờ Times David Brooks đã viết như thế; và khẳng định, “Quan tòa Harry Blackmun đã vô tình gây ra nhiều thiệt hại cho nền dân chủ của chúng ta hơn bất kỳ người Mỹ thế kỷ 20 nào. Khi ông và các đồng nghiệp của ông ở Tòa Án Tối cao ban hành quyết định cho vụ án Roe và Wade, họ đã thiết lập nên cái vòng xoay chính trị cứ luẩn quẩn xoay tới rồi lại xoay lui, làm nhiễm độc đời sống công chúng hơn bao giờ hết.” Nhưng Linda Greenhouse và Reva Siegel –cả hai đều dạy ở trường Luật Yale—đã tranh luận rằng đây là kiểu kể chuyện truyền thống muốn quay lui bánh xe lịch sử. Trong một bài báo đăng trên tờ Yale Law Journal tháng sáu vừa qua, họ đề nghị rằng những gì xảy ra sau vụ Roe không phải là hệ quả của quyết định của tòa, mà là do các nhà hoạch định chiến lược tranh cử tổng thống của ĐCH đã nỗ lực định nghĩa lại Đảng—trước khi có vụ Roe. Theo giả thiết của họ thì, nếu có một kẻ tội đồ thì người đó không phải là Harry Blackmun, mà là Richard Nixon.

Năm 1969, trong tác phẩm “Đa số Cộng hòa Đang Tăng”, nhà hoạch định chiến lược của Nixon-Kevin Phillips đã đề xuất một kế hoạch nghiền nát Liên minh Tân Điều đình của phe DC bằng cách tuyển dụng người miền Nam và có đạo (Catholics) vào ban vận động tranh cử cho ĐCH. Lúc đó đa số đảng viên DC, kể cả Edward Kennedy, đều đã lên tiếng phản đối phá thai. Cố vấn của Nixon đã khuyên ông nên coi lại vị thế của ông đối với phá thai và KHHGĐ. Năm 1970, năm Nixon ký Chứng thư số Mười[3], Bộ Quốc Phòng đã phê duyệt chính sách cho phép các bác sĩ ở các căn cứ quân đội trong một số trường hợp có thể được thực hiện phá thai. Năm 1971, Patrick Buchanan viết một bản ghi nhớ đề nghị Tổng thống đảo ngược chính sách ấy, như một phần của chiến lược nhằm bảo đảm là George McGovern (ứng viên mà Nixon muốn tranh cử với) sẽ thắng Edmund Muskie trong bảng đề cử của phe DC. Quan sát thấy là phá thai là “một vấn đề đang nóng, và là chuyện nhạy cảm đối với người công giáo,” Buchanan viết, “Nếu Tổng thống công khai chống phá thai, như thể điều đó là một việc xúc phạm đến những nguyên tắc đạo đức của chính ngài,…thì chúng ta có thể ép Muskie phải chọn giữa nhiều triệu ủng hộ viên theo đạo công giáo với đám bạn tự do của ông ta ở mấy tờ New York Times và tờ Washington Post.” Một tuần lễ sau đó, trong một tuyên bố gửi tới Bộ Quốc Phòng, Nixon đã mượn ngôn ngữ của nhà thờ Thiên Chúa giáo để nói về “niềm tin cá nhân (của ông-Nixon) đối với việc vinh danh đời sống con người-kể cả đời sống của những bào thai chưa chào đời.”

“Sự thiên vị giành cho những tôn chỉ của đạo Công Giáo là chính sách tốt” một nhà hoạch định chiến lược của Nixon viết trong “Phân Hóa Phe Dân chủ”-một bản ghi nhớ gửi cho H.R. Haldeman năm 1971: “Đó là sự cân nhắc chọn một trong hai, nhưng nó để lại cho chúng ta phần bánh lớn hơn.” Khi một ủng hộ viên Nixon phản đối đường lối chính trị này, Buchanan vẫn giữ vững. Khi được hỏi liệu Nixon có trở lại vị thế ủng hộ phá thai ban đầu của ông hay không, Buchanan đã chế diễu một cách mỉa mai: “Ông ta lại muốn mất sự ủng hộ của người Công giáo để có được cái gì nào, Betty Friedan chắc?”

Phá thai không hề là chuyện tranh cãi của các đảng phái cho tới khi phe Cộng Hòa làm cho nó trở nên như vậy. Vào tháng sáu năm 1972, một thăm dò của Gallup cho biết 68% đảng viên Cộng Hòa và 59% người của đảng Dân Chủ đồng ý rằng “quyết định có phá thai hay không chỉ nên thực hành bởi chính người phụ nữ và bác sĩ của bà ta.” Năm mươi sáu phần trăm người Công giáo cũng nghĩ như thế. Blackmun đã kẹp bài báo của Washington Post viết về kết quả thăm dò này vào hồ sơ vụ án Roe của ông.

Tháng mười một năm 1972, Nixon tái đắc cử. Tám ngày sau khi Tòa Án Tối Cao ban hành quyết định về án lệ Roe, vào tháng giêng năm 1973, một tu chính quyền-được-sống được gửi tới Quốc hội. “Điều này gây ra những vấn đề có tính chiến lược thực sự,” một chủ tịch tiền nhiệm của KHHGĐ nói trong một cuộc phỏng vấn, “bởi vì tới mức độ mà bất cứ ai trong chúng ta cũng chiến đấu để giữ nó bên ngoài hiến pháp, thì KHHGĐ sẽ bị dán nhãn là vị-phá-thai. Phu nhân của Gerald Ford và vị Phó của ông ta, Nelson Rockerfeller, đã ủng hộ quyền phá thai. Năm 1976, năm mà Quốc hội thông qua Tu chính Hyde, Ann Richards lần đầu tiên chạy đua vào Văn phòng Chính phủ và Cecile lúc đó còn đang học ở Brown. Cô đi làm kiểm soát sinh đẻ cho mình ở một dưỡng đường KHHGĐ tại Providence.

Vào cuối những năm bảy mươi, các nhà hoạch định chiến lược của đảng CH Richards Viguerie và Paul Weyrich, đã tuyển dụng Jerry Falwell vào một liên minh được dựng lên để đưa những người bảo thủ về kinh tế và xã hội ngồi lại với nhau trong một chương trình nghị sự “vì-gia-đình”; họ định tập trung vào các quyền đồng tính luyến ái nam, quyền tự do tính dục, tự do cho phụ nữ, tu chính về các quyền bình đẳng, chăm sóc trẻ em và giáo dục giới tính. Weyrich nói rằng phá thai “nên là điều mấu chốt trong chiến lược tổ chức của họ, bởi vì đó là vấn đề có thể làm phân hóa đảng DC.” Falwell đã thành lập tổ chức Đa Số Mô Phạm năm 1979; đến năm 1982 Paul Brown-sáng lập viên của Liên Hiệp Sự Sống Hoa Kỳ-đã nói mỉa là, “Năm năm trước đây Jerry Falwell thậm chí còn không biết đánh vần chữ ‘phá thai’ nữa là…”

Richards tốt nghiệp trường Brown năm 1980. Năm 1988 bà mẹ cô đã có một bài diễn văn gây chú ý tại Hội Trường Dân Chủ Quốc Gia. Hai năm sau đó, Cecile—lúc này đã lập gia đình và đang mang thai đôi—trở về Texas để phụ giúp chiến dịch tranh cử chức Thống đốc bang của mẹ cô với Clayton Williams—một chàng cao bồi của đảng Cộng Hòa chuyên môn nói chuyện tiếu lâm tục tĩu và đã nói về đối thủ của mình là ông chỉ muốn “lôi đầu bà ta ra mà đá rồi kéo lê trong bùn đất.” Trong những tháng cuối cùng của cuộc tranh cử, Cecile ngồi ở bàn giấy với thiết bị theo dõi thai quấn quanh bụng. Mẹ cô, một ngôi sao đang lên của đảng Dân Chủ, đã đánh bại Williams.

Trước năm 1979 Quốc Hội Hoa Kỳ không hề có đường lối rõ rệt của đảng phái về vấn đề phá thai, nhà khoa học chính trị Greg Adams đã nhận định như thế trong một nghiên cứu về tình hình bầu cử quốc hội qua các thời kỳ trong lịch sử. Và điều có sự chia rẽ giữa đảng Dân Chủ và Cộng Hòa cũng chỉ chia đôi đất nước một thập kỷ sau khi nó xuất hiện trước quốc hội. Adams báo cáo là, trong số các cử tri, thì “cho tới những năm cuối thập niên 80, người của phe Cộng Hòa thường ủng hộ phá thai nhiều hơn phe Dân chủ.”

Trong khi đó phong trào chống phá thai ngày càng trở nên hung tợn và bạo lực hơn. Năm 1985 các nhóm người phản đối Vì Sự Sống đã tụ tập la hét chống đối tại 80% các dưỡng đường cung cấp dịch vụ phá thai. Linda Gordon trong sưu tầm lịch sử của cô về phong trào kiểm soát sinh đẻ đã tổng kết giai đoạn khoảng giữa 1977 và 2001 như sau: “3 bác sĩ, 2 nhân viên hành chánh, 1 bảo vệ dưỡng đường, và 1 người gác cửa đã bị sát hại. Ngoài ra còn có 17 mưu toan ám sát, 41 vụ đặt bom, 165 vụ tấn công phóng hỏa, 82 âm mưu đặt bom hay phóng hỏa, và 372 vụ xâm nhập các dưỡng đường.”

Năm 1983, KHHGĐ đã đưa thêm vào bộ phận pháp lý cuả nó một chi nhánh, do Roger Evans cầm đầu, để quản lý số vụ kiện tụng ngày một nhiều thêm. Evans đã tư vấn cho phần lớn các vụ có nội dung chính là về quyền sinh sản trong một phần tư sau cuối của thế kỷ, kể cả án lệ KHHGĐ và Casey. “Những người phản đối phá thai đã dành nhiều thập kỷ để cố làm cho việc phá thai của phụ nữ ngày càng phức tạp thêm lên bằng cách đặt ra nhiều chướng ngại trên đường đi của họ,” ông nói. “Và tôi nghĩ rằng họ đã học được rằng đó là một kiểu tiếp cận rất kém hiệu quả; nó giống với tra tấn hơn.” Thế nhưng cũng đã có ảnh hưởng: ngày càng có ít nơi nhận làm dịch vụ phá thai hơn, khiến KHHGĐ ở nhiều nơi trên đất nước này trở thành đơn vị duy nhất cung cấp dịch vụ đó. Cho tới hôm nay, hơn một phần tư số vụ phá thai ở Mỹ là được thực hiện tại các đơn vị của KHHGĐ.

Năm 1994, Cecile Richards làm việc cho chiến dịch tái tranh cử của mẹ cô, đấu với George W. Bush. “Tôi không bao giờ quên cái năm 94 đó,” Richards nói, trông có vẻ trầm uất. Cô nhớ có lần cô đi phân phát những truyền đơn bầu cử, “và tôi không sao hiểu nổi những phản ứng mà tôi nhận được lúc đó. Đó là phản ứng hung hãn từ công chúng mà dĩ nhiên sau đó chúng tôi đã phát hiện ra là Ralph Reed và Đồng Minh Thiên Chúa Giáo đã tác động được một nhóm cử tri từ Đảng Cộng Hòa, không nhiều, nhưng rất, rất hăng. Kỳ đó Bush thắng.”

Cecile Richards thành lập Hệ Thống Tự Do Texas năm 1995 để phản đối phe Thiên Chúa Giáo khuynh hữu. Sau đó, cùng với Ellen Malcolm-một sáng lập viên của Danh sách EMILY, cô giúp thành lập Lá Phiếu Hoa Kỳ, để theo dõi những cải cách nhằm gia tăng lượng cử tri và bảo vệ quyền lợi cử tri. Lúc ấy cô đã có ba con. Trước khi làm cho KHHGĐ cô làm phó giám đốc của Chủ tịch Hạ Nghị Viện Nancy Pelosi.

***

Đứng quanh hồ nước lấp loáng ánh nắng trước điện Capitol, trông họ giống như một đàn chim hồng hạc. Kể từ khi chiến dịch vận động Nhận Thức về Ung Thư Vú của Susan G. Komen dùng những chiếc nơ màu hồng, thì màu này trở thành màu của sức khỏe phụ nữ. (Quỹ Komen đã bị tấn công, vì họ ủng hộ KHHGĐ; cả tổ chức Nữ Hướng Đạo Sinh cũng bị, với cùng lý do). Sáu trăm thành viên KHHGĐ đã tới Washington để nhóm họp thanh niên và hội nghị thượng đỉnh về chính sách thường niên của tổ chức. Đó là ngày vận động. và đó cũng là ngày giới trẻ-chủ yếu là nữ-đứng trên mấy con đường bao quanh khu đồi Capitol với những chiếc áo màu hồng có giòng chữ “Tôi về phe KHHGĐ” và quần soọc ngắn, để lộ những đôi chân khẳng khiu.

Lúc đó là tháng sáu, và trong những điều xảy tới cho KHHGĐ đang có cả tốt lẫn xấu. Rick Perry đã ký một quyền lập pháp đưa Texas vào danh sách các tiểu bang muốn tự tiến hành tính toán cho mình sau khi Quốc hội thất bại trong việc bãi bỏ ngân quỹ giành cho KHHGĐ. Thế nhưng nhiều luật bãi quỹ ở tiểu bang lại có vẻ như sẽ thất bại trước bộ máy tư pháp. Một luật ở Indiana cấm các tổ chức KHHGĐ ở đó nhận ngân sách từ Medicaide đã bị chặn lại bởi một vị thẩm phán tòa liên bang, bà Tanya Walton Pratt. “Tiểu bang không hề có toàn quyền để truất bỏ các nhà cung cấp dịch vụ có hiệu quả cho Medicaide,” bà nói, và còn thêm là, “Không hề có cáo buộc nào cho thấy KHHGĐ ở Indiana là không hiệu quả, hay là nó đã cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe không phù hợp, hay không chính xác.”

Bên ngoài tòa nhà văn phòng Rayburn House trên đại lộ Độc lập, đàn hồng hạc đang xếp hàng chờ khám xét an ninh, họ đưa túi xách qua máy quét kim loại và tự hỏi, không biết cái rào cản có gắn còi báo động không. Vào giữa những lần gõ cửa mấy vị đại diện của mình, họ tụ tập ở quán cà-phê trong tòa nhà, chống cùi chỏ lên quầy, hớp từng ngụm nước nhỏ. Ở giữa chốn ra vào của đám đàn ông vốn chỉ mặc com-plê màu xám và xanh đậm, màu áo hồng khiến họ trông như những cánh hoa.

Amelia Jones vừa mới tốt nghiệp trung học ở Boise. “Ở Idaho không hề có giáo dục giới tính, trừ một vài lần có chương trình về tiết dục,” cô nói. Cô là một phần tử của một chương trình giáo dục giới tính có tên Tuổi trẻ Hiểu biết. Tôi hỏi họ đã có gặt hái được chút thành quả nào trong việc đi gõ cửa như vậy không. Jennifer Whitney, một Tổ Chức viên Hiện trường đến từ nhóm Lá Phiếu KHHGĐ Tây Bắc phá lên cười. “Đoàn Đại biểu Quốc hội của Idaho có tỷ lệ chống là 100%,” cô nói. “Nhưng, cô thêm, “KHHGĐ lại nhận được tỷ lệ ủng hộ cao hơn ở bộ phận lập pháp tiểu bang.” Lauretta Mary Campell mới tốt nghiệp Đại học Idaho. Cô biết những người sử dụng bao cao su (saran wrap) để tránh thai. Cô bắt đầu làm tình nguyện viên cho KHHGĐ năm năm trước đây, sau khi dự một buổi họp của sinh viên, và cũng đã đi tới dưỡng đường để được ngừa thai. Cô với anh bạn định sẽ lập gia đình với nhau, nhưng “bây giờ chúng tôi chưa thể có con được, cô nói. “Năm ngoái tôi kiếm được năm trăm năm mươi đô la, mà với bốn chỗ làm cả thảy.”

Liên Hiệp KHHGĐ Hoa Kỳ là tổ chức phi lợi nhuận 501(c)(3); mùa xuân năm ngoái, lúc đang bị khốn đốn vì làn sóng chỉ trích, nó có thêm được cả triệu ủng hộ viên mới. Nó cũng đã nhận được nhiều nguồn tài lực giúp hỗ trợ cho cuộc chiến trên mặt trận chính trị và pháp lý để chống trả lại các đối thủ vốn rủng rỉnh hầu bao. KHHGĐ vừa là người cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe, vừa là kẻ vận động hành lang. Vũ khí vận động của nó, Quỹ Hành Động Vì KHHGĐ, đóng góp cho các ứng cử viên chính trị thông qua cả một PAC[4] vốn đã được thành lập từ năm 1998, lẫn một super PAC mới khởi động năm ngoái. Những lời phê bình trên cả hai mặt trái và phải cho rằng hai nhiệm vụ ấy-chăm sóc sức khỏe và hoạt động xã hội-là có mâu thuẫn với nhau. Richards thì thấy chẳng có mâu thuẫn gì: “Chúng tôi càng có nhiều bệnh nhân thì sự hỗ trợ cho chúng tôi càng lớn mạnh, và sự hỗ trợ đó càng lớn mạnh thì chúng tôi lại càng có nhiều bệnh nhân hơn.”

Những thanh niên vận động hành lang đến từ Idaho hy vọng sẽ gặp được đại biểu của họ, Raul Labrador, một tân đảng viên CH, người mới được đưa lên bởi Ủy Ban Quốc Gia Vì Quyền Được Sống, và là người đã tiến hành tranh cử bằng cách tấn công đối thủ của mình về việc đã nhận bảo trợ từ KHHGĐ. Họ muốn nói ông hãy ủng hộ KHHGĐ. Họ được tiếp nhận bởi một người trợ tá, người đã tiếp đón họ nồng hậu nhưng sau đó lại nói, “Nghe nè, chúng tôi cần phải làm những gì mà các cử tri đã bỏ phiếu cho chúng tôi vào đây muốn chúng tôi làm, và họ lại không muốn những điều này.”

Trong khi đó, ở một phòng đại biểu quốc hội tiếp dân nằm phía trên quán cà phê ấy 3 tầng lầu, Charmaine Yoest và tám đại biểu QH thuộc ĐCH đang chuẩn bị một cuộc họp báo. Tuần lễ trước đó, Liên Hiệp Những Người Mỹ Vì Sự Sống đã công bố một báo cáo có tên “Vụ Điều Tra Tổ Chức KHHGĐ”. Điều cáo buộc chính được nêu trong đó là, mối liên quan giữa số tiền từ liên bang mà KHHGĐ đã nhận được với số vụ phá thai đã được thực hiện trong các dưỡng đường của KHHGĐ cho thấy tiền công quỹ đã được sử dụng bất hợp pháp, như là để đổi chác.

Yoest, vốn là một người mẹ năm con, là người đôn hậu, dễ mến và thông minh, là tiến sĩ Chính trị học ở University of Virgina; với luận án tốt nghiệp là khảo sát chính sách nghỉ làm sau khi sinh và sự công bằng giới tính trong giới hàn lâm. Việc làm đầu tiên của cô sau khi ra trường là ở Tòa Bạch ốc Reagan. Sau đó cô làm việc cho Hội Đồng Khảo Sát Gia Đình. Hiện cô đang phục vụ cho ban điều hành Danh Sách Susan B. Anthony. Cô đã từng làm cố vấn cho chiến dịch tranh cử Tổng thống của Mike Huckabee. Tổ chức AUL-Liên Hiệp Những Người Hoa Kỳ vì Sự Sống, cũng như Quỹ Hành Động KHHGĐ, là một tổ chức “phi đảng phái”, một danh từ mà cho tới nay đã không còn mang chút ý nghĩa nào.

Nhân viên của Yoest đã giăng lên một bích chương to cỡ năm và mười phút mỗi bề có hình bìa của báo cáo. Chris Smith của New Jersey đã mang đến những bích chương của chính ông. Renee Ellmer của North Carolina đã gọi điện đến buổi họp báo để đặt mua. “Vấn đề hôm nay là, Liệu tiền đóng thuế của người Mỹ có nên được dùng để phá thai hay không?”, cô nói. Yoest gọi KHHGĐ là “tên khổng lồ phá thai”. Thế nhưng Hạ nghị sĩ Smith mới là diễn giả hùng hồn nhất. “Cứ mỗi chín mươi lăm giây lại có một em bé qua đời trong các dưỡng đường của KHHGĐ,” ông ta nói. Và rồi khi nói về các cô gái trẻ, là thành phần mà ông cho là khách hàng chủ lực của KHHGĐ và về những đứa bé đã “bị đâm và cắt đầu” ở các dưỡng đường KHHGĐ, ông ta khựng lại trong giây lát, rồi có vẻ như bị lẫn lộn ông nói: “Đứa bé đó, rồi đứa bé khác … cả hai đều là trẻ con.”

Ở bất cứ vị thế nào, bạn sẽ thấy có nhiều sự việc đang diễn ra tại thủ đô Hoa kỳ được nhân danh trẻ em. Không ai biết được những gì sẽ sắp xảy ra. Chuyện Chứng thư số Mười có bị bãi bỏ, hay KHHGĐ bị bãi ngân, hay không, thì điều đó cũng chẳng phải là do ai đó trong Quốc hội đã có một cuộc thảo luận thành thực, cảm thông, và nhân nhượng về những quyền hiến định của bất kể ai khác.

***

Căn nhà mặt tiền ở số 46 đường Amboy ở Brooklyn nay không còn nữa. Thay vào đó là một tòa nhà bị niêm đóng, và, ở góc dường là một tiệm bán điện thoại di động. Ngay tại dưỡng đường KHHGĐ, cách đó một con phố, những vách tường của phòng chờ treo đầy những bích chương của tổ chức: “Tôi dự định sẽ làm mẹ một ngày nào đó. Từ đây cho tới lúc đó tôi dùng thuốc ngừa thai.” Có tất cả năm phòng khám, một phòng xét nghiệm, một phòng chụp siêu âm, năm phòng tư vấn, hai phòng phá thai, và, trong góc là một phòng hồi sức.

Kate Steinle, một y tá, đeo kính và mặc áo choàng của nhân viên phòng thí nghiệm. Trên bàn cô có một cái chặn giấy hình dạ con. “Vai trò của tôi ở đây là giúp phụ nữ tự lo cho chính họ,” cô nói. Cô đặc biệt thích làm việc với mấy trẻ gái. “Cô gái này, tôi đã gặp rồi, tôi khám tổng quát cho cô ấy, rồi cổ sẽ ngồi đó . Tôi để cô ta ngồi như vậy một lúc, rồi thì cổ sẽ bắt đầu nói. Cô hỏi rất nhiều về quan hệ tình dục giữa cô với anh bạn trai, những điều mà cô lo lắng và cứ mãi thắc mắc liệu như vậy có bình thường không.” Cô ta không sao hết.

Ngày tôi viếng thăm dưỡng đường Brooklyn cũng là ngày Winscosin được chọn để bãi ngân KHHGĐ. Tôi hỏi Steinle xem cô nghĩ gì về điều đó. Cô nói, “Ở xứ này có nhiều loại người khác nhau,” rồi thở dài, cô thêm, “Chúng tôi cứ ở đúng vị trí mình.”

Và đây là nơi chúng ta đang ngự trị. Những đảng viên Cộng Hòa đã thiết lập nên chính những chương trình KHHGĐ liên bang mà các nghị viên đảng Cộng Hòa cùng với các ứng viên tranh cử TT của đảng ấy đang hùng hồn cam kết sẽ giải thể. Những người Cộng Hòa đã làm cho phá thai trở thành một vấn đề mang tính đảng phái—họ đã nhào nặn các cuộc vận động tranh cử TT của phe Cộng Hòa khiến cho tự nó đóng khung quanh vấn đề này—thế nhưng phe Dân Chủ đã để cho đảng của họ bị định nghĩa bởi vấn đề này. Và, bao lâu mà KHHGĐ còn bị buộc chung với Đảng Dân Chủ, mà thực ra nó cũng khó lòng có lựa chọn nào khác, thì tương lai của nó sẽ cứ ba chìm bảy nổi—các dưỡng đường của nó sẽ cứ nay đóng mai mở cửa—tùy theo thế lực của đảng này. Đa số người của cánh tả, hạ vào trạng thái nhút nhát dè dặt sau hậu quả khủng khiếp và bạo động của Roe, nay đã ngưng nói về các quyền công dân, về nạn nghèo đói, về các chuẩn mực đạo đức, về sự bình đẳng, giới tính, và thậm chí về lịch sử; và do đó đã nhường quyền nói về những điều này cho cánh hữu. KHHGĐ là tổ chức cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe, do đó có lý do chính đáng để nói về sức khỏe phụ nữ. Thế nhưng, ngay cả bên ngoài cuộc chiến này, thì “sức khỏe” cũng đã trở nên khái niệm đại diện cho các giá trị phóng khoáng về tình nhân loại của chúng ta. Điều này hoàn toàn chưa đủ.

Trong khi đó, cho dù các cử tri có bị chia rẽ về vấn đề phá thai, chừng nào KHHGĐ còn là mục tiêu, Đảng Cộng Hòa vẫn lợi nếu họ duy trì cuộc tấn công, bởi một chiến dịch chống lại việc cung cấp dịch vụ cho người nghèo bằng quỹ liên bang là chuyện nhóm Tea Party cũng đắc lực ủng hộ. Trong tháng chín, Cliff Stearns, một đảng viên Cộng Hòa đến từ Florida và chủ tịch của chi nhánh Điều Tra Tổng Thể của Ủy ban Thương Mại và Năng Lượng Nghị Viện đã tiến hành cuộc điều tra mà Yoest đã chủ xướng.

Ngày bắt đầu cuộc điều tra, Richards gọi đó là có động cơ chính trị, Yoest nói rằng đó là “một bước tiến lịch sử để tránh chuyện bắt ép người dân Mỹ có đóng thuế phải tiêu chi phí cho dịch vụ phá thai .” Richards và Yoest là những “Chiến Binh Lạnh” trưởng thành trong thời sau khi Chiến tranh Lạnh đã bắt đầu. Họ không biết gì về một thế giới không có nó. Họ không thể nhớ nổi nó đã bắt đầu như thế nào. Và họ cũng không thể tưởng tượng được nó sẽ kết thúc ra làm sao.

Máy vi tính của Steinle báo hiệu có thư. Cô tỳ người về phía trước để nhìn vào máy của mình. Phòng lab mới gửi tới kết quả xét nghiệm của một bệnh nhân đang ngồi chờ ở phòng đợi. “Chỉ gặp họ chút thôi, rồi tôi sẽ trở lại ngay,” cô nói, rồi mất hút sau cánh cửa. Lát sau cô trở lại, gần như hụt hơi, nhưng vẫn mỉm cười.

Một số bệnh nhân đến gặp cô để khám định kỳ hằng năm; một số khác đến do một vài bất thường nào đó trong cơ thể. Đa số họ đều không được chăm sóc sức khỏe ở đâu khác. “Có một phụ nữ Hồi giáo đến đây với người chị,” Steinle kể, “Cô ta chưa hề quan hệ tình dục bao giờ. Cô có thắc mắc về cơ thể mình, vì có lần tình cờ được nhìn thấy người chị lõa thể, cô ta nhận thấy mình không giống chị. Tôi bèn nói, ‘Để khám cái đã,’ Và tôi thấy cô ta ổn, mọi thứ đều ổn. ’Cô ổn mà,’ tôi nói. Thế là cô ấy thở phào nhẹ nhõm.” Steinle ngồi rút người sâu vào ghế, “Cô ấy đã canh cánh điều ấy trong mười năm, với nỗi sợ là mình sẽ không bao giờ gần gũi được với ai cả.” Mười năm. Nỗi chờ đợi quá dài.


[1] VFW: Veterans of Foreign Wars-Hội Cựu Chiến binh Các Cuộc chiến ở Ngoại quốc

[2] Ronald Reagan, đắc cử Tổng thống năm 1980, là vị TT đầu tiên của nước Mỹ công khai mạnh mẽ bày tỏ ý chống phá thai. (nguồn: plannedparenthood.org)

[3] Tittle X: trong bộ luật Dịch vụ Sức khỏe Công cộng, trong đó các biện pháp tránh thai trở nên khả dụng đối với mọi người bất kể thu nhập, và ngân sách được cấp cho các chương trình giáo dục và nghiên cứu về các biện pháp tránh thai.

[4] Political Action Committee: Ủy Ban Hành Động Chính Trị

Năm 1969, trong tác phẩm “Đa số Cộng hòa Đang Tăng”, nhà hoạch định chiến lược của Nixon-Kevin Phillips đã đề xuất một kế hoạch nghiền nát Liên minh Tân Điều đình của phe DC bằng cách tuyển dụng người miền Nam và có đạo (Catholics) vào ban vận động tranh cử cho ĐCH. Lúc đó đa số đảng viên DC, kể cả Edward Kennedy, đều đã lên tiếng phản đối phá thai. Cố vấn của Nixon đã khuyên ông nên coi lại vị thế của ông đối với phá thai và KHHGĐ. Năm 1970, năm Nixon ký Chứng thư số Mười

bài đã đăng của Jill Lepore


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)