Trang chính » Biên Khảo, Giới thiệu tác giả, Phê Bình, Phỏng vấn, Tư Liệu Email bài này

Đầu năm Nhâm Thìn, trò chuyện về thơ cùng thi sĩ Ngu-Yên (phần 4/4)

 

 

 

LTT:

Người làm thơ có phải lúc nào cũng cô đơn không ?

NY:

Người làm thơ cần cô đơn nên cô độc.

Ví dụ như bài thơ này:

Như cây khô bơ vơ giữa mùa đông
Trơ trọi cành không lá
Như bộ xương đang cười hiu quạnh
Nhưng dấu mặt quay lưng
Thấy cô đơn trong mắt

(Đọc Dying Alone In Public của Cin Sweet Field)

Khi bảy, tám tuổi, tôi thích chơi trò đào cát. Cạnh nhà có bãi đất hoang. Buổi chiều sau khi đi học về, vào lúc trời sắp tối, tôi thường ra bãi, một mình đào cái hang nhỏ. Miệng hang bằng cở bàn tay. Đào thật sâu cho đến khi tôi thọc cả cánh tay đến quá cùi chỏ. Nằm sát đất. Nhìn vào miệng hang tối đen. Cảm giác vừa thú vị vừa sợ hãi. Có lúc cảm thấy trống vắng, trống trơn. Có lúc sợ quá, bỏ chạy về nhà.

Cảm giác này trở lại với tôi, mỗi khi ngồi một mình trong hoang vắng, lặng im. Mỗi khi lái xe xuyên bang một mình trên xa lộ, nhất là về đêm. Đã có lần vừa lái xe vừa chảy nước mắt vì thấy mình không chịu nổi sự cô đơn bao trùm đời sống. Tôi sống giữa mọi người mà sống không như mọi người. Có một sự cách biệt như vô hình xô đẩy ý nghĩ và hành động của tôi chống chỏi với người xung quanh như thỏi nam châm cùng đầu đẩy nhau. Tôi làm thơ để tự an ủi mình. Và đọc thơ tìm đồng bọn.

Cô đơn là tôi
Cô đơn là đêm
Cô đơn là ngày

Cô đơn là tôi trong nhiều lối
Cô đơn bốn mùa
Cô đơn tháng năm
Cô đơn là tôi trong dòng lệ

Cô đơn nơi đây
Cô đơn đời sống
Cô đơn là tôi cầm lấy con dao

Cô đơn nơi phán xét
Cô đơn khi đọa đày
Cô đơn là tôi sám hối

(Đọc Lonely Am I của Christina Ann Cardenas)

Tìm thấy bài thơ này, cũng là điều an ủi. Chắc cũng có nhiều người tự mình xa lạ như tôi. Điều sợ hãi nhất là từ niềm tự hào không giống ai trở thành niềm ưu tư vì không giống ai. Càng gặp nhiều người lại càng thâm thúy cô đơn. Tôi thấy thơ lên tiếng từ tâm thức cô đơn và từ vô thức cô đơn. Những giằn vặt từ hằn học, chán nản, khinh bỉ, hối hận… những trạng thái nóng, lạnh thay đổi liên tục bên trong. Nhìn từ bên ngoài như lúc buồn lúc vui, lúc hy vọng lúc thất vọng. Một người đi lạc, không phải trong sa mạc mênh mông mà trong ngôi nhà quen thuộc của mình.

Tôi lang thang như mây trời
Trôi qua thung lũng núi đồi
Chợt nhìn xuống

Thủy Tiên vàng nở hoa
Hồ nước run rẩy
Lá cành nhảy múa

Tiếp tục như sao sáng
Mấp máy giữa ngân hà
Kéo dài vô tận
Ra cửa biển khơi

Ngàn ngàn thứ chợt nhìn thấy tôi
Ngẩn đầu vui trong luân vũ

(Đọc không hết bài I Wandered Lonely As A Cloud của William Wordsworth)

Tôi cảm được nhẹ nhàng khi Wordsworth kết luận ... Which is the bliss of solitude; And then my heart with pleasure fills, And dances with the daffodils. Trái tim tôi tràn đầy sung sướng, múa theo "hồn" Thủy Tiên….Hạnh phúc của cô đơn.

Thi sĩ không phải là ca sĩ, không phải là kịch sĩ, không phải là diễn viên, không phải là người ra sân khấu, ra đám đông. Nếu có lúc phải ra tuồng, hắn đang đội cái mũ khác, vai trò khác.

Lời nói của đám đông thường chỉ làm cho thơ chết sớm. Thi sĩ sống với đám đông thường trở thành chính trị gia hoặc diễn viên và lâu ngày trở nên tệ hại trong vai hề rẻ. Khen chê phê phán bình giải đối với giá trị thơ không nghĩa lý gì nhưng có ảnh hưởng nặng nề trên tâm lý sáng tác. Nó có thể làm cho nhà thơ non trẻ hư hỏng. Có thể làm cho nhà thơ bản lãnh bị đong lạnh. Có thể làm cho nhà thơ nổi tiếng có tiếng mà không có miếng. Có thể làm cho một dòng thơ sặc sụa.

Lòng yêu thích của đám đông chính là thủ phạm đã giết chết sáng tạo. Nhà phê bình như bồi thẩm đoàn bình án theo luật đã có. Người nghiên cứu thi ca như những chứng nhân đã từng thề trên kinh thánh lương tâm và tưởng mình nói thật. Thông thường là nói thật một cách phiếm diện. Thế giới này như vậy, không riêng gì người Việt. Một nhà thơ được nhận chân giá trị, biết bao nhà thơ giá trị khác đã đi vào cát bụi.Vậy thơ hay, thơ giá trị, thơ lớn không mắc mớ gì đám đông, cho dù là một đám đông tử tế.

Lời khen thường làm người sáng tác nghĩ rằng mình đi đúng đường. Rồi không muốn đi đường nào nữa. Cứ một chiều mà đi cho dù là ngõ cụt. Lời chê thường làm người sáng tác nghĩ mình phải chọn con đường khác, hoặc chọn con đường đã từng có kẻ vinh quang bước qua. Hãy làm thơ như Bùi Giáng, như Nguyên Sa, như Thanh Tâm Tuyền, như Tô Thùy Yên…mấy ai dám chê..? Làm sao biết con đường riêng biệt vừa chối bỏ là con đường dài mang tên riêng.

Sáng tác mà quan tâm ý kiến của người khác quá nhiều thì sáng tác chỉ là trò chơi bề mặt. Mỗi ngày lên mạng dạo quanh xem thử có ai nói về mình. Nếu có ai đá động thương tích, lập tức tề hội bằng hữu, thề quyết chiến. Vì sao lời nói của người khác lại có giá trị lớn quá vậy? Có anh bạn nói rằng, đã là người ai chẳng có tự ái. Mỗi người sáng tác là mỗi trời con. Những lúc trời con gầm gừ sấm sét thì chẳng có giá trị bao nhiêu.

Ông Lý Bạch uống rượu một mình làm nhiều bài thơ để đời. Không thấy ông làm bài thơ nào uống chung với bằng hữu? Ông Nguyễn Khuyến cũng uống rượu một mình với mùa thu, làm thơ câu cá trở thành bài học trong văn chương Việt Nam. Mấy ai làm thơ với um sùm mà để lại chút gì cho nhớ? Thơ phát xuất từ cô đơn và cần sự cô độc.

Trở về với cô đơn
Mỗi trái tim là mỗi kho tàng
Bí mật và im lặng
Ý tứ, hy vọng, sung sướng, ước mơ
Vỡ òa khi tiết lộ

………………………………….

(Đọc đoạn mở đầu Evening Solace của Charlotte Bronte)

LTT:

Dường như chữ “cô đơn” này không có nghĩa bình thường?

NY:

– Không có nghĩa tự điển thì đúng hơn. Có rất nhiều chữ dùng trong nghệ thuât khác với nghĩa giáo khoa. Hỏi có mấy người thử tra tự điển tìm nghĩa những chữ đã biết từ nhỏ? Đôi lúc rất ngỡ ngàng vì chữ đó không quen.

Một hôm tôi ra biển bằng du thuyền. Mấy trăm du khách khoe da nhiều màu, diêm dúa, ăn chơi. Rượu bia thừa thải. Giai nhân không thiếu. Anh hùng không thua. Tôi đứng trên bong tàu, tầng cao, phát giác một con chim bay lẻ loi giữa mênh mông. Tôi tự hỏi, lúc mỏi cánh chim sẽ đậu nơi nào? Nhìn quanh không thấy bến bờ. Trời cao, biển cả, sóng nhồi. Cảm giác thoải mái của một mình thoát khỏi nhân gian. Nhưng rồi vẫn câu hỏi, chim sẽ đậu nơi nào? Tôi nhận ra ngoài cô độc lẻ loi, chim còn cô đơn ngàn trùng. Đối diện với gió, với sóng, với nỗi chết rình rập. Tôi cảm giác cô đơn vì quyền hạn của sinh vật không cách nào qua được quyền lực của tạo hóa để thực hiện những điều xứng đáng làm chim, làm người.

Ngay chiều hôm đó, vào lúc hoàng hôn, tôi thấy con chim mỏi cánh đậu lên lưng con cá lớn. Đàn cá bơi rầm rộ vượt sóng đi về đâu? Không ai biết. Hóa ra chim muốn sinh tồn phải họp bầy với cá. Rồi khi đàn cá lặn xuống nước, nếu chưa muốn chết, chim phải bay lên. Cô độc bay cõi khôn cùng. Chim đi cùng cá, làm sao không cô đơn?

Giữa ngàn ngàn tỷ tỷ ngàn
Tôi làm thơ
Giữa người người triệu triệu người
Tôi làm thơ
Giữa mỗi hồn cô độc
Tôi làm thơ.

( Ngu Yên)

LTT:

Bên trên anh có nhắc một giai thoại về người Mễ cùng ngồi ăn trưa với anh, có khi nào anh đọc thơ các thi sĩ vùng Nam Mỹ không?

NY:

Tôi bắt đầu Costa Rica với bài thơ To Do (today) của thi sĩ địa phương Pablo Saborio. Tôi bắt đầu với ông nằm dài dưới bức tranh lớn. Nắm sát đất dưới nghệ thuật.

Pablo-saborio

Sở dĩ bức tranh làm cho tôi chú ý vì nghĩ đến nghệ thuật chữ của người Việt. Chữ là phương tiện quan trọng để diễn tả và sáng tác nhưng không phải là phương tiện duy nhất, cũng không phải là phương tiện hữu hiệu nhất.

Chữ thành lời là phương tiện thông dụng để sáng tác thơ. Những tín hiệu thông tin khác cũng là phương tiện diễn đạt thơ. Hình ảnh, biểu tượng, màu sắc, cử động cũng là ngôn ngữ để tạo thơ. Cuối cùng, không có chữ nào, khoảng trống trong bài thơ, lại là ngôn ngữ sâu nhất, sắc nhất, biến hóa nhất để mang thơ ra ngoài giới hạn của chính nó và của nhà thơ.

Khi tình cảm tuôn trào, chữ nghĩa sẽ tràn kín bài thơ. Không kịp đào sâu vào ý tứ, không kịp chọn lựa những ẩn dụ, không kịp ghi nhận toàn diện. Ý, tứ, lời, chữ theo tình cảm chép xuống. Bài thơ thành hình trong nồng độ cảm tính. Thông thường những bài thơ này không có đời sống lâu dài. Thiếu suy tư, bài thơ khó tạo chiều sâu.

Khi suy tư quá khô, thơ mất đi phong thái thi vị mà xuất hiện như những bài văn xuôi cô đọng, xuống hàng ngắn gọn, thuyết phục như một diễn giả.

Khi lý luận quá chặt, thơ không có chỗ trống để thở. Bài thơ có chữ, lời, hình, tượng, ý tứ … nói toạc ra hết. Chẳng còn gì để nghiền ngẫm mà tìm ra "cái sáng tạo, sống lại của thơ".

LTT:

Thi sĩ có phải là người suy tư liên tục, không có lúc nào ngừng nghỉ không?

NY:

Thi sĩ là người suy tư liên tục suốt cả một đời. Tư duy từ một triết lý, một nhân sinh quan, một giáo triết nào đó để khám phá những sự việc của đời sống qua những chi tiết bình thường. Mỗi "gì" xảy ra mang đến ngạc nhiên, mang đến thú vị, mang đến thách đố trí tuệ, mang đến thao thức tình cảm…… đều có thể là một bắt đầu của một bài thơ.

Do thói quen đào sâu vào sống, dừng ngắm sinh hoạt, khám phá khía cạnh khác của "gì" mà người xung quanh không quan tâm, thi sĩ đã nuôi trong lòng một khối lượng, sức mạnh của sáng tác. Khi cảm tình vì một cái cớ "gì" khơi động, sức mạnh của khối lượng "kiến thức, kinh nghiệm, sáng kiến…." trào ra trong lời, tín hiệu của lời.

Bề sâu của bài thơ mang vóc dáng của toàn khối suy tư của thi sĩ. Những ý, tứ, lời, lẽ, ảnh, tượng, sắc…là những lớp truyền thông bận bên mgoài của những chi tiết suy tư đã tồn tại lâu ngày trong tâm hồn.

Và trong cơn say sưa, liên mang của thơ xuất hiện, trực giác nảy sinh những chỗ nhảy vọt ra ngoài lý lẽ, lý luận, hành văn, suy nghĩ… Những ý, tứ, ảnh, tượng, màu sắc….nói ngắn là những thông tin trực sinh này làm cụm từ, câu thơ, dòng thơ bị ngắt khoảng nhưng không lạc lối, tạo ra những khoảng trống trong bài thơ.

Những khoảng trống này xuất hiện bất ngờ, kể cả chủ nhân bài thơ cũng bị bất ngờ, để bài thơ hội đủ đặc tính của thi ca. Khoảng trống được cảm nhận. Khoảng trống được suy tư. Khoảng trống gây thú vị. Khoảng trống tạo mơ hồ. Khoảng trống nói lên vô vàn nét biến hoá của thơ.

Nghê thuật không thể nào chỉ nhìn xuôi. Cần phải ngắm nghiêng, lật ngửa, úp sấp và nhìn ngược. Ông Saborio nhìn từ dưới nhìn lên làm cho tôi chú ý.

Nghệ thuật là một nhận thức. Với ý nghĩa. Giá trị xuyên qua những nhàm chán vô vị của ngôn ngữ. Saborio đi tìm một lối sống thú vị hơn qua thi ca, hội họa và tạo hình. Ông không tốt nghiệp trường mỹ nghệ nào, không bằng cấp khoa bảng. Ông là kẻ lang thang qua nhiều quốc gia để ghi nhận: Một cái cây tự nó không có ý nghĩa, nó không giả cũng không thật, cây là cây. Sự thật sự giả chỉ do con người nhận xét. Không phải của vật. Ông cho rằng tiến trình của người là tiếp tục thao thức với sự hiện diện của mình, của mình đối với xung quanh, để tiếp tục truy kiếm cho đến lúc "tái sinh". Born again ở đây có ý nghĩa sự sống lại thần hồn. Đối tượng của nghệ thuật theo đuổi mục phiêu này. Nó nói chúng ta bằng hình và sắc. Nó soi sáng đối tượng đời sống và mối liên hệ với chúng ta.

rebel_residue_acrylic_modern_painting

Tranh Rebel Residue (Dư Âm Nổi Loạn) của Pablo Saborio

Kiến thức không phải là chữ mà là ý nghĩa bên sâu của những chữ này”. Tôi thích câu nói của ông vì những bạn tôi, nhà văn nhà thơ nhà chữ, rất tôn kính kiến thức. Ý nghĩa họ thấy là ý nghĩa tự điển. Vì sao người phải tự giam mình trong bức tường chữ nghĩa do người tạo ra? Nếu mở tự điển ra để tìm một chữ có ý nghĩa trừu tượng, có phải sẽ thấy nhiều ý nghĩa khác nhau và nhiều trường hợp sử dụng đa dạng? Nói một cách khác, có những chữ mang nhiều ý nghĩa khác nhau, tùy vào mỗi trường hợp, tùy vào mỗi ẩn dụ, tùy vào mỗi giá trị của tư tưởng và có luôn cả những ý nghĩa chưa thấy trong tự điển. Chữ là chết. Nghĩa là sống. Sống là biến thêm nghĩa. Tâm trí hẹp, không phải cạn, thì thấy chữ. Tâm rộng thì cảm nghĩa. Trực giác mạnh thì bật nghĩa mới. Không phải tự nhiên mà hai từ "chữ nghĩa" đi đôi với nhau. Nếu từ "chữ" hội đủ nghĩa thì cần gì từ "nghĩa".

LTT:

Phải chăng, làm thơ là một cuộc hành trình khá dài ?

NY:

Chữ nghĩa tự nó không phải là thơ. Ráp hàng hàng, tự nó cũng không là thơ. Làm thơ là một hành trình dài. Trước khi làm một bài thơ, đã có hàng hàng giờ người làm việc với thơ. Thơ đột xuất ra đời nhưng không có nghĩa là người làm thơ không cưu mang ý tứ tâm tình đó. Có khi cưu mang rất lâu.

John Zerzan, Elements of Refusal, cho rằng, sử dụng ngôn ngữ là tự giới hạn trong những ý niệm đã sẳn có trong ngôn ngữ đó. William Faulkner, As I lay Dying, cho rằng, chúng ta đã đến một nơi mà sự sinh hoạt của chữ nghĩa rác rưỡi đang gia tốc trước khi đụng vào vách đá. Vì vậy làm thơ là tự giải thoát, phá vở những giới hạn trong ngôn ngữ phải sử dụng.

LTT:

Anh có thường đọc các nữ thi sĩ hiện đại không? Nếu có, xin anh lược kể vài tác giả?

NY:

-Ngày 8 tháng 3 năm 2006, phụ nữ Iran đã qui tụ biểu tình đòi quyền bình đẳng và quyền sống như một con người tại Tehran và đã bị đàn áp dữ dội bởi chính quyền địa phương.

Giữa những nạn nhân bị đánh đập và bắt bớ, là nhà thơ Simin Behbehani (3), tuổi gần 80 và mắt gần như mù lòa. Bà luôn luôn nói rằng: Mục đích thơ của tôi là tranh đấu cho công lý. Và bà đem thơ vào hiện thực. Từ tháng 12 năm 1977, Thế giới đã công nhận ngày 8 tháng 3 là ngày vinh danh Nữ Quyền và hoà bình toàn cầu.

Dòng thi ca của Iran mang vào thế giới nhiều nhà thơ bất hủ như Omar Khayam, Hafer, Ferdowsi và Rumi. Trong thời hiện đại, Simin Behbehani được xem là một trong những thi sĩ còn sống, đã vượt qua giới hạn của quốc gia và trở thành thi hào của thế giới. Một tiếng nói công tâm từ những bất công truyền kiếp của vùng Trung Đông.

Hát lên hởi Gypsy
Chính ta ở quê nhà phải hát
Cho người biết ta còn đây
Mắt và họng cháy bỏng vì khói
Luồng quỉ xám cuốn tận trời cao

Hãy thét gào báo tin đêm kinh khiếp
Trong bụng cá đỏ có bí mật quỉ ma
Cá lặn sâu nơi không thể bắt
Những nàng hầu ôm đầu cá  trong lòng
Như dọn lửa trên dĩa bạc
Bọn ma quỉ điên cuồng cưỡng cắp
Nhan sắc và tiết trinh
Dùng môi ngọc má vàng dụ dỗ

Bài thơ này in lại trong Plains of Arzhan, 1983 với dòng kết: Gypsy, để sinh tồn hãy giết niềm im lặng. Hãy hát lên để còn một quê hương…

Bà Behbehani năm nay đã 79, một trong những thi sĩ đã tận hiến đời riêng cho công lý. Bà sáng tác hàng trăm bài thơ, để lại cho thế kỷ những áng thi ca bất hủ của dòng văn chương Ba Tư.
         “ Nhiều người hỏi tôi rằng, vì sao tôi làm thơ. Tôi thật không rõ. Thơ sâu đậm trong tôi. Ngay ngày thơ ấu, tôi đã viết những điều mà chính tôi cũng không biết đó là thơ. Tôi chỉ biết, tôi phải nói lên những gì đã và đang hối thúc. Như tuân theo một mệnh lệnh ngấm ngầm. Tôi không thể làm gì khác hơn là dùng giấy bút chép lại…” Behbehani trả lời một phỏng vấn…
         Bà sinh ở Tehran năm 1927. Thân phụ là Abbas Khalili, một nhà văn, nhà báo nổi tiếng. Thân mẫu là Fakhr-Ozma Arghun, nhà thơ, nhà văn, tranh đấu nữ quyền. Simin bắt đầu sự nghiệp từ năm 14 tuổi. Năm 24, bà đã có tác phẩm The Broken Lute. Từ đó, những tác phẩm khác tiếp tục ra đời. Năm 1997, bà đã có tên trong danh sách đề nghị lãnh giải văn chương Nobel. Bà nổi danh trong thể thơ cổ truyền Ba Tư gần giống như Sonnet ở Tây Phương hoặc Thất Ngôn Bát Cú của người Việt. Dĩ nhiên, bà đã biến thể thơ cổ truyền thành một thể thơ riêng của bà. Chuyên về những đề tài nhân sinh, đấu tranh và phản kháng những xấu xa của đời sống.

Với tài phối hợp cổ truyền và hiện đại, Simin Behbehani đã chinh phục được độc giả, không chỉ ở Trung Đông mà khắp nơi trên thế giới. Kỹ thuật này đã khiến cho bà chẳng những là thi nhân của thời nay mà còn là thi hào của mãi mãi.

Nhà thơ Farzaneh Milani đã dịch và mang cuốn thơ “A Cup of Sin” vào Hoa Kỳ. Simin là nữ sĩ của đám đông phụ nữ bị đàn áp bởi đàn ông. Bà không phân biệt thơ phái nam và thơ phái nữ. Bà chỉ chú trọng đến thơ như một quan trọng. Và bà đã thay đổi được cái nhìn về một điều nặng ký ở Trung Đông: Thơ thuộc về đàn ông. Thật ra cho đến nay, đến nhiều chốn trên thế giới tự do, bình đẳng, đến những gia đình trí thức, vẫn tràn trề những ý nghĩ thầm kín trong đàn ông: Chúng tôi là chủ nhân, sở hửu những sản phẩm tinh thần cao cấp. Chúng tôi tôn trọng quí bà nhưng quí bà vẫn mãi mãi nằm bên dưới.

Năm 1979, cuộc cách mạng luật Shari’a trong khối Hồi giáo đã ảnh hưởng rất nhiều trên sáng tác của bà. Những bài viết nặng nề chính trị, những phản kháng văn chương về giáo điều,  những bênh vực về nữ quyền đã khiến cho chính quyền ra lệnh ngăn cấm sách vở của bà trong 6 năm tiếp theo. Bà từ chối rời khỏi Iran mặc dù phải trải qua nhiều khốn khó. Kể cả sự mất mát tính mạng của chồng và con gái. Vào giai đoạn cuối đời, bà đã nói: Cảm ơn Thượng Đế đã cho tôi nói được niềm khổ hạnh của dân tôi và cho tôi được chia sẻ nỗi niềm chung ấy…”.

Yêu Kiều Mẹ Đến Thăm

Yêu kiều mẹ đến gần
Màu áo xanh đêm sáng
Cành Olive trên tay
Mắt buồn nhiều tâm sự

Chạy đến mẹ, ôm tay
Nghe nhịp tim đang đập
Ấm như  mẹ còn đây

Con hỏi: Nhưng mẹ chết rồi mà?
Bao nhiêu năm cách xa
Không một mùi tử khí
Không một mùi liệm tang

Con nhìn cành Olive
Mẹ đưa ra trao tặng
Mỉm môi cười mẹ nói:
Hoa hòa bình đây con

Con đưa tay nhận lãnh
Nói: Vâng dấu…hòa…
Lời con chưa kịp hết
Tiếng đàn áp cắt ngang

Cảnh sát cưởi ngựa cao
Giấu dao trong áo
Chặt đứt cành Olive
Nhìn rồi nói:
– Cây gậy này cũng khá
– Đánh què kẻ chống ta

Hình ảnh đau ghê tởm
Hắn cất gậy vào bao
Trong bao, Ôi Thượng Đế
Con thấy chim bồ câu
Chết vì dây treo cổ

Mẹ bỏ đi buồn thảm
Con buồn thảm nhìn theo
Như người than khóc mướn
Mặc áo chùng tang đen….

simin_behbahani

Simin Behbahani

-Trong bài thơ " Biography," (Tự Thuật), bà Sophia de Mello Breyner, Bồ Đào Nha (1919- ) nhìn lại cuộc đời và sự nghiệp của mình trong câu thơ: "Tôi ghét những dễ dàng / Tôi thấy tôi trong biển cả, gió lộng và ánh sáng." Thơ của bà đầy những hình ảnh và ý tứ trừu tượng. Những lôi cuốn của cảnh trí và không gian miền Địa Trung Hải và những huyền bí của Hy Lạp đã tàng ẩn, khơi động tâm thơ của bà.

Bà nói rằng, thi sĩ sống như một cần ăng-ten luôn luôn thu rồi phát. Thơ là tác động bằng tiếng nói và hình ảnh của một người thâm hiểu cuộc đời, của một người thân thiết với xung quanh, của một người xúc tác với sự thật. Vì vậy, thơ không phải chỉ nói về ý niệm của đời sống mà chính là cách sống của nhà thơ.

Thơ của Sophia de Mello Breyner được xuất bản năm 1944. Bà đã nhận được giải thưởng văn chương Hội Nhà Văn Bồ Đào Nha và được tổng thống chỉ định là thi sĩ công huân của quốc gia.

Ngày Của Biển

Ngày  có bầu trời như biển mênh mông
Đầy hình bóng ngựa đàn và lông vũ
Ngày trong phòng tôi hẹp vuông ngập biển
Mộng du di hình giữa thú và hoa
Ngày của biển chìm trong biển, bất tận
Tôi di hình như hải điểu mất hình
Bay xoáy biến vào mây và bọt sóng …

sophia

Chân dung Sophia de Mello Breyner

LTT:

Thưa anh, dù tôi còn muốn hỏi anh thêm nhiều điều, nhưng cuộc trò chuyện đã khá dài, trước khi ngừng ở đây, xin anh có thể tóm lược vài điều về việc làm thơ ?

NY:

Người nào cũng có khả năng làm thơ. Học một số qui luật. Tập tành một thời gian. Có thể làm thơ. Người nào cũng có thể nấu ăn. Vấn đề là thích hay không thích. Nấu ngon hay dở. Làm bếp bình bình hay độc đáo. Người nào cũng có thể học võ. Học giỏi hay dở là do dạn dĩ hay nhác gan. Thích võ đạo hay thích đấm đá. Có thể lực học Thiếu Lâm. Kém thể lực học Võ Đang. Nữ nhi học Nga My. Thành hay bại là do tài năng và ý chí.

Muốn làm thơ hay trước tiên phải có tài năng. Cũng như bất cứ một việc làm nào hoặc môn chơi nào, từ thể thao đến cờ bạc, từ lao động đến bác học, người thành công là người có tài năng trong lãnh vực đó. Dĩ nhiên có tài năng không chưa đủ. Phải biết áp dụng tài năng để tạo thành quả. Ý chí là con dao hai lưỡi cho tinh thần làm thơ. Để tìm hiểu nhiều hơn, xin tạm gát lại về sau.

Làm thơ là một biểu hiện của sáng tác. Từ khả năng làm thơ qua đến tài năng làm thơ cách nhau bao xa? – Có tài năng tức là đa phần có khả năng. Có khả năng chưa hẳn có tài năng. – Thưa, có thể là đường xa vạn dặm.

Làm thơ là một hiện tượng phát tác của thôi thúc về điều gì muốn nói. Người cũ thường phân biệt lời thơ và lời nói. Người nay không thấy sự khác biệt. Thơ là lời nói. Là một kiểu nói. Chẳng qua mỗi người chọn mỗi lối nói khác nhau. Nói văn vẻ, nói bộc trực, nói thi vị, nói “sống sược”, nói cao kỳ, nói mơ hồ, nói triết lý, nói bình dân, nói hoa hòe, đều là nói. Ca dao gồm những lời lẽ bình dân học vụ vậy mà thơ cao kỳ ngày nay chưa chắc đã thâm trầm ý tứ cho bằng.

Như vậy là vấn đề ngôn từ. Từ ngữ thơ và từ ngữ nói, có khác nhau không? – Thưa không. Chẳng qua là do thi sĩ không muốn sử dụng, không dám sử dụng, không biết sử dụng, mà thôi. Đa số người làm thơ thời trước có tiêu chuẩn về từ ngữ thơ. Phải đẹp, bóng bẩy, thi vị. Đa nghĩa và đắc địa. Không sai nhưng thiếu. Có nhiều người làm thơ không dùng từ thô kệch, thô lỗ, thô tục. Nói chung là "thô". Ba hồi trống giục đù cha kiếp. Một nhát gươm đưa bỏ mẹ đời, (Cao Bá Quát). Chửi thề đúng lúc thành thơ truyền khẩu. Làm thơ là nói bằng chữ viết và tín hiệu truyền thông. Tín hiệu truyền thông là một loại ngôn từ được qui định bằng hình ảnh, cử chỉ, dấu hiệu, âm thanh…..Không có từ ngữ thơ và từ ngữ nói. Chỉ có từ ngữ làm thơ và từ ngữ không làm thơ. Nói một cách khác, bất cứ là từ gì, qua tài năng của thi sĩ, từ ấy trở thành thơ.

Chữ là tín hiệu. Chữ có chữ khó dùng, có chữ dễ dùng. Có chữ dùng cao, có chữ dùng thấp. Khó dùng không phải vì ý nghĩa khó hiểu mà vì kiến thức, kinh nghiệm của người làm thơ không nhận. Cách sử dụng ngôn ngữ của mỗi người là do thói quen được xây dựng từ dòng tộc, địa phương, xã hội, học vấn và giao thiệp hàng ngày. Tưởng như giống mà lắm khi khác. Nhà thơ ở xứ Quảng viết rằng: Anh tìm tình xưa trong góc thọa. Ông bạn ở miền khác cũng biết thọa là hộc tủ nhưng cự nự, sao lại không viết: Anh tìm tình xưa trong hộc tủ. Chữ ràng bánh tráng đã có lúc chủ bút sửa lại là chồng bánh tráng khi đăng báo. Người Bình Định không dùng "chồng bánh tráng". Em hảy ra chợ mua ràng (chồng) bánh tráng. Về cuốn đời anh trong cuộn chả giò. Thi sĩ Cao Đông Khánh là một nhà thơ hải ngoại có dòng thơ riêng, một chỗ đứng riêng, đáng ngưỡng mộ. Trong thơ ông viết từ "cái lồn" rất trôi chảy, bình thường như "cái răng", "cái tóc"… Dễ dùng với Cao Đông Khánh mà khó dùng với nhiều nhà thơ khác. Chủ bút sửa lại "cái L.". Nhiều người đọc nhăn mặt, Nhiều thi sĩ khác không dám đụng tới. Dĩ nhiên chỉ không dám đụng trong chữ nghĩa mà thôi.

Như vậy là vấn đề nhạc và tiết tấu. Người xưa thường cho rằng, trong thơ có nhạc, trong nhạc có thơ. Nhạc, tiết tấu và hòa âm trong thơ có đặc điểm riêng, có qui luật riêng, có cách hành văn riêng. Người nay không thấy như vậy. Đã là ngôn ngữ nói chung, ngôn ngữ Việt nói riêng, tự nó đã có âm sắc, có thanh ngân, có độ nặng nhẹ. Tự cách nói đã có tiết tấu, đã có điệu, có nhịp. Tự người phát biểu đã có hòa âm thuận, hòa âm nghịch. Ngôn ngữ tự phát đã có sẵn hết, cần gì phải là thơ. Chẳng qua người xưa thích giới hạn thơ vào nhiều qui tắc. Nói đúng ra, không phải họ muốn giới hạn mà vì lòng họ đã quen bị giới hạn. Văn hóa họ tạo ra bằng giới hạn. Nhân sinh quan, triết lý, niềm tin họ phục tùng giới hạn. Thời đó cả Tây phương lẫn Đông phương chưa hề hiểu cái gì là tự do, cái gì là dân chủ. Tự do và dân chủ không phải là học thuyết, không phải là chính thể mà là cách sống.

Nhưng hãy đọc thơ. Hãy đọc nhiều thơ. Thấy rõ ràng giữa nói và thơ có chỗ khác nhau. Chắc chắn không thể giống nhau. Cái tạo ra sự khác biệt này không phải ở Vần, không phải ở Nhạc, không phải ở Từ ngữ, không phải ở những qui luật đương thời đang định nghĩa cho thơ. Cái đó là cái gì? Thưa là X FACTOR.

X FACTOR là yếu tố chưa có tên gọi, chưa thể giải thích rõ ràng nhưng lại cần thiết để đưa giá trị phẩm chất của một sản phẩm hoặc của một con người lên cấp bậc tiếp cận sự hoàn hảo.

X FACTOR trong thơ là thi tố chưa thể định danh, chưa có thể nắm bắt hoặc giải thích nhưng thi tố này đã làm cho những bài thơ có giá trị khác với những bài thơ hay. Như đã có lần trình bày, thơ hay chưa hẳn đã có giá trị. Thơ có giá trị, trước sau gì, cũng sẽ được công nhận hay.

X FACTOR trong thơ đến từ trực giác làm thơ. Khả năng làm việc với trực giác mở rộng, bằng trực giác bén nhạy trong sáng tạo là một tài năng của thi sĩ. Tài năng này bẩm sinh và cũng có thể phát huy bằng tích tụ và thực tập. Để sáng tác được một bài thơ hay hoặc bài thơ vừa ý, thi sĩ đã từng làm rất nhiều bài thơ dở. Nhiều bài thơ đã bị vò nhăn vào thùng rác hoặc đã bị xóa bỏ trên màn vi tính.

Những ý tứ thơ đến từ tình cảm và ý thức thì không bất chợt và biến hóa như những ý tứ thơ đến từ trực giác, mở ra từ vô thức. Nói như vậy là cách đề nghị của khoa học sáng tác. Trong nghệ thuật toàn khối, làm gì có phân chia. Tất cả ý thức vô thức tình cảm lý trí .. đều là một. Phát ra cùng một lúc, không phân biệt, không thể phân ly. Chính vì vậy mà có một "cái gì" làm cho thơ này "lớn" hơn thơ kia, "giá trị" hơn thơ nọ. Cái vô danh đó là X Factor.

Ví dụ như Bùi Giáng. Thơ ông có X factor này. Trong chữ nghĩa mông lung, lúc bác học lúc bình dân, đảo lộn, vô văn phạm, người đọc vẫn cảm nhận cái "hay". Đố ai có thể giải thích rõ ràng cái hay cái giá trị trong thơ Bùi Giáng. Hỏi rằng người ở nơi đâu? – Thưa rằng tôi ở rất lâu quê nhà.

Ví dụ như lời nhạc của Trịnh Công Sơn. Ngôn ngữ ông có X Factor này. Đố ai bắt chước được. Không thể giải thích nhưng thấy hay. Mưa vẫn mưa bay trên tầng tháp cổ. Dài tay em mấy thuở mắt xanh xao….và trăm trăm câu như vậy trong nhạc Trịnh. Ông và nhạc trở thành hiện tượng.

Dĩ nhiên X Factor chỉ là một phần, một phần tinh túy nhất nhưng để hoàn thành một bài thơ, còn cần có nhiều thi tố khác. Ngày xưa ở Trung Hoa có họa sĩ vẽ rồng. Vẽ như thật. Làm sao biết thật? Rồng là sản phẩm tưởng tượng của con người. Vậy mà ngoại sách bảo rằng khi ông vẽ xong, rồng vẽ như rồng thật. Nhưng phải đợi cho đến lúc ông điểm bút vào đôi mắt, " điểm nh ãn hóa long", rồng bèn bay ra khỏi khung vẽ. Để có X factor điểm nhãn, phải có những thi tố khác cho thơ hiện hình.

LTT:

Cảm ơn anh Ngu-Yên đã chia sẻ những suy tư về làm thơ, đọc thơ cùng những nhận định rất bổ ích về thơ qua cuộc trò chuyện này. Nghe anh tâm sự lâu nay anh không còn hứng thú gởi bài trên các báo hoặc in thành sách nữa dù anh có sẵn bốn tập bản thảo và anh vẫn viết đều đặn. Tôi rất hiểu khi một văn nhân thi sĩ thứ thiệt không còn muốn gởi bài đăng báo hay háo hức in sách là lúc họ đã đắc đạo rồi vậy! Lúc bấy giờ người đọc mê chữ sẽ nhớ những trang chữ của họ vô cùng. Kính chúc anh dồi dào sức khoẻ và hy vọng anh còn hứng thú trong việc trước tác và phổ biến cho bạn đọc được đọc như ngày nào trong mấy mươi năm qua.

NY:

Cảm ơn anh LTT và chúc anh Năm Mới luôn mạnh khỏe.

 

Houston ngày 02 tháng 02 năm 2012.

Phụ chú:

1/ Các tác phẩm của thi sĩ Ngu-Yên: “Hóa ra nét chữ lên đường quẩn quanh”(thơ, tập 1), nhà xuất bản Văn Nghệ, California, Hoa Kỳ 1986.”Tựa đề bên trong”(thơ, tập 2), Văn Nghệ, 1987. “ Hỡi ơi” (thơ, tập 3), Văn Nghệ, 1991. “Hãy cho ta sống giùm đời nhau” (thơ, tập 4), nhà Văn Thơ Mới, Houston, 1995. “Tình” (thơ, tập 5), nhà Văn Thơ Mới, Houston, 1995. “Bóng nắng khuya” (CD nhạc), 2001. “Thi sĩ và tôi” (thơ, tập 6), nhà xuất bản Lũy Tre Xanh, Hoa Kỳ, 2002. “Hát không dám buồn”(CD nhạc), 2003. “Đợi chờ (không biết đợi chờ ai)” (CD nhạc), 2004. “Thơ Bạc Tóc”, 2009.

2/ William Edgar Stafford ra đời ngày 17 tháng 1 năm 1914 tại Hutchinson, Kansas. Tốt nghiệp kinh tế tại đại học University của Kansas năm 1937. 1938, xong Master về Anh Ngữ. Dạy học tại trường Lewis and Clark. Ông dạy vế văn chương và sáng tác. Về hưu 1980. Xuất bản hơn 60 tác phẩm thơ và văn xuôi.  Traveling Through The Dark, 1962, là một trong những tập thơ quan trọng của ông. Đoạt giải National Book Award 1963. Tác phẩm được đánh giá cao là The Rescued Year, 1966; Stories That Could Be True: New and Collected Poems, 1977; Writing The Autralian Crawl, 1978; An Oregon Message, 1987. Qua đời 28 tháng 8 năm 1993.

3/ Simin Behbehani

Giải thưởng Human Rights Watch-Hellman/Hammet, 1998
• Carl von Ossietzky Medal, 1999

Tác Phẩm:
-  The Broken Lute [Seh-tar-e Shekasteh, 1951]
-  Footprint [Ja-ye Pa, 1954]
-  Chandelier [Chelcheragh, 1955]
-  Marble [Marmar, 1961]
-  Resurrection [Rastakhiz, 1971]
-  A Line of Speed and Fire [Khatti ze Sor’at va    Atash, 1980]
-  Arzhan Plain [Dasht-e Arzhan, 1983]
-  Paper Dress [Kaghazin Jameh, 1992]
-  A Window of freedom [Yek Daricheh Azadi, 1995]
-  Collected Poems [Tehran 2003.]

bài đã đăng của Lương Thư Trung


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)