Trang chính » Biên Khảo, Chuyên Đề, Dịch Thuật, Du Lịch, Giới thiệu tác phẩm Email bài này

Vào Nẻo Vô Biên với Ba Tiêu

Utsu Mountain, Okabe Museum of Fine Arts, Boston

Núi Utsu, tỉnh Okabe (tranh Utagawa Hiroshige [1797-1858])

 

Phi Lộ


Trong bài thơ “Từ Tháng 3-79” của Tomas Tranströmer, nhà thơ nói về hành trình đạt đến “ngôn ngữ không phải chữ.” Ngôn ngữ, theo ý của nhà thơ, có lẽ là sự thật, hoặc vẻ đẹp được hiển hiện qua bài thơ, một vẻ đẹp thanh thoát, vững chãi và “phây phây” không mất nét quyến rũ qua mọi bản dịch, qua mọi cấu trúc và thể hiện của “chữ,” qua mọi cách nhìn của mỗi dịch giả và người đọc, qua thời gian và không gian.

Đối với một người dịch, hành trình đạt đến ngôn ngữ (không phải chữ) luôn luôn là một thử thách gay go – có thể làm thiệt mạng – như “con đường hẹp” của Matsuo Basho (1644-1694) trong tựa tác phẩm du ký nổi tiếng của thi hào, Oku No Hosomichi (おくのほそ道), tạm dịch là Lối Hẹp vào Cõi Trong, phóng tác thành “nẻo vào vô biên”—làm tựa bài trước mặt.

Tựa Oku No Hosomichi của Basho, như tên của nhà thơ [Matsuo Basho -(松 尾 笆 焦 – ghép tên họ Tùng Vĩ (松 尾)– cây thông cao – với bút hiệu Ba Tiêu (芭蕉)-chuối vườn nhà] bao hàm nhiều ý nghĩa gần như đối nghịch, giữa “bên ngoài, chỗ xa” với “bên trong, cõi gần.”

Nhà văn Lý Lan dịch tựa tác phẩm là Về Miền Sâu Thẳm. Dịch giả Vĩnh Sính dịch là Lối Lên Miền Oku (nxb Thế Giới: 1999). Trong những bản dịch Anh ngữ (hiện có khoảng 9 bản), tác phẩm mang hai tựa, Narrow Road to the Far North, hoặc Narrow Road to the Interior. Oku (奥) trong tựa của Basho vì vậy được hiểu theo hai nghĩa chính: (1) chuyến hành hương lên miền Bắc nước Nhật, hoặc (2) hành trình vào những vùng đất trong nội địa nuớc Nhật.

Về địa lý, Oku bao gồm những vùng nằm phía bắc đảo Honshū – Mutsu (Fukushima, Miyagi, Iwate và Aomori), cùng Dewa (Yamagata và Akita). Theo giáo sư Dennis Kawaharada, Oku cũng mang nghĩa “sâu,” “xa,” “bên trong”, “tâm.” Oku-san (người vợ, người nội trợ) là “người ngự trị trong tâm điểm căn nhà,” với trách nhiệm bảo toàn sức khỏe vật chất và tinh thần của gia đình. Oku cũng được dùng như tiền tố bên cạnh các địa danh Nhật bản như cách định nghĩa vị trí. Oku-Noto là “viễn Noto” hay “Noto xa tít.Oku-Iya, trái lại, là “nằm sâu trong [thung lũng] Iya.”

Khái niệm rộng, hẹp, xa, gần hàm chứa trong từ Oku cũng có thể áp dụng cho hành trình dịch thuật. Tuy người dịch không đọc được tiếng Nhật, sau khi tham khảo những bản dịch của Oku No Hosomichi trong tiếng Anh và tiếng Việt, đoán rằng văn phong của Basho có nhiều khoảng cưu mang ở giữa ()(ma). Trong những đoạn văn xuôi haibun (俳文) đi kèm với thơ hài cú, Basho, như những nhà thơ đi trước ông, thường lấy ý từ những điển tích Trung Hoa, hoặc từ những bài thơ nổi tiếng của các nhà thơ Trung Hoa như Đỗ Phủ, Tô Đông Pha, Lý Bạch …. Các độc giả sinh trưởng ở Việt Nam và thấm nhuần văn chương Đông Phương có lẽ sẽ cảm thấy gần gũi, quen thuộc khi đọc thơ Basho. Ngược lại, các độc giả Tây Phương, hoặc như người dịch, vì lớn lên ở ngoài nước—sẽ ngạc nhiên và thích thú khi tìm thấy trong Basho nét sáng tạo rất mới, rất fresh.

Hãy đọc câu mở đầu của tác phẩm, “Những tháng ngày chở lữ hành vào vĩnh cửu. Những năm trôi đèo bòng kẻ lang thang…. Mọi ngày là mỗi hành trình và mỗi hành trình là nhà. Đã có bao người chết trên cuộc hành trình chưa tới đích. Những cụm mây theo gió luôn nảy sinh trong ta một đam mê rong ruổi. ….” Đây là câu mở đầu mà người dịch đã nghĩ là rất thơ, rất lạ, rất mới. Nhưng sau khi tra cứu, mới biết rằng Basho đề cập đến bài Xuân dạ yến đào lý viên tự (春夜宴桃李園序) (Đêm xuân uống rượu trong vườn đào mận) của Lý Bạch:

夫天地者, 萬物之逆旅
光陰者, 百代之過客
而浮生若夢
爲歡幾何?

Phù thiên địa giả, vạn vật chi nghịch lữ
Quang âm giả, bách đại chi quá khách
Nhi phù sinh nhược mộng
Vi hoan ki hà?

Trời đất là quán trọ của vạn vật;
Quang âm là khách qua đường của trăm đời,
Mà kiếp phù sinh như mộng
Lúc vui được bao?

(Nguyễn Hiến Lê, Cổ văn Trung Quốc (nxb Xuân Thu, Houston, USA (in lại từ bản phát hành năm 1966 miền Nam VN)

Trong trường hợp Basho, nhà thơ là một thiền sư và thi sĩ thực hành triết lý fueki ryuko (不易流行) trong đời sống cũng như trong thơ hài cú, bằng cách kết hợp khái niệm bất biến với thời thượng/thời thế. Thiết nghĩ, một dịch giả cũng nên ghi nhớ khái niệm bất biến/thời thượng khi đọc và dịch thơ của Basho, tuy điều thử thách vẫn là những cách trở ngôn ngữ, văn hóa, tạo ra nhiều cạm bẫy dọc đường, vô số ảo ảnh. Con đường hẹp hứa hẹn nhiều cảnh đẹp ở phía trước, nhưng cũng là một con đường gian nan, nơi hồ ly và tuớng cướp trà trộn với giáo sĩ im tiếng và kẻ hành hương nhẹ dạ. Dù sao, “tâm vẫn là tất cả”—như lời Hamlet trăn trối lúc thảm kịch hạ màn, “The readiness is all.”

Cái bất biến của Oku No Hosomichi là những mùa đời, là Thiên Nhiên, cùng tinh túy trong những lời thơ, ý tưởng của Basho. Yếu tố thời thế là sự ngắn ngủi bất trắc của kiếp người, là những thiên tai: hỏa hoạn, động đất, lụt lội. Nhiều nơi trên hành trình về phương Bắc của Basho đã bị tan tác, phá hủy bởi trận động đất và sóng thần vào tháng Ba năm 2011. Hiểu theo Thiền, sự chết, những chuyển hoán dâu biển, âu cũng là một khái niệm bất diệt trong đời người cũng như trong nghệ thuật.

Chuyến hành trình của Basho kéo dài 5 tháng, vào năm nhà thơ 45 tuổi: bắt đầu từ Edo (ngày nay là Tokyo), vào tháng 3 âm lịch năm thứ hai triều Nguyên Lộc (Genroku 元禄) (1689) và kết thúc vào tháng 8 âm lịch tại Ogaki, thuộc tỉnh Kì Phụ (Gifu). Tuy vậy, Basho mất gần 5 năm tu sửa tác phẩm, và chỉ hoàn tất Oku No Hosomichi mấy tháng trước khi từ trần, vào năm 1694. Lúc đó nhà thơ 50 tuổi, đang trên đường xuống miền Nam Nhật bản, trong một cuộc hành trình khác.

Chú thích về thể thơ hài cú: Thể thơ hài cú của Basho trong nguyên bản đi cùng với văn xuôi, hoặc liên kết với những câu hài cú khác. Hài cú của Basho, như cách kết thúc một đoạn văn, thường được viết như một câu văn trong một, hai dòng, thường có 17 âm tiết, nhưng đôi lúc cũng có thể có 18, 19 âm tiết. Khi dịch sang tiếng Việt, người dịch theo thể thức thông dụng hiện nay, là giữ 3 dòng: 5 chữ (câu đầu), 7 chữ (câu giữa), 5 chữ (câu cuối). Trong đoạn hài cú về mũ chiến binh của dũng sĩ Sanemori, người dịch đã đổi qua thể lục bát (trại vần) trong tiếng Việt, vì thấy thể lục bát có thể cũng hợp với tinh thần haikai.

Thực vật trong thơ Basho: thực vật trong thế giới thiên nhiên của Basho có lẽ là những “bất biến,” đòi hỏi người dịch phải tra cứu cặn kẽ. Trong đoạn mở đầu, Basho nói rằng ông phải dùng moxa thoa lên chân như cách sửa soạn lên đường. Moxa là ngải nhung, còn được gọi là ngải diệp hoặc ngải cứu (Artemisia vulgaris), thường dùng để chữa các bệnh liên hệ đến máu, thần kinh, và xương khớp.

Trong đoạn hài cú nói về hai cô gái làng chơi gặp ở Ichiburi, Basho đề cập đến cây hồ chì, còn được gọi là cây đậu mắt gà (Lespedeza), mà nhiều bản dịch tiếng Anh gọi là “bush clover.” Một bản dịch Việt ngữ của Oku no Hosomichi đăng trên tờ Việt Báo trong nước, đã dịch là “cỏ ba lá.” “Cỏ ba lá,” từ “clover” có lẽ không đúng, vì clover (Trifolium) khác giống với loại “bush clover” (Lespedeza) của Nhật bản.

Các đoạn dịch cũng được đối chiếu ngay ở dưới với nguyên bản tiếng Nhật, hầu mong các độc giả biết đọc tiếng Nhật giúp người dịch sửa chữa những sai lầm, nếu có.  Trong quá trình dịch sang Việt ngữ, tôi đã ảnh hưởng nhiều nhất từ bản The Narrow Road to the Deep North and Other Travel Sketches của Nobuyuki Yuasa (Penguin: 1966), và bản Basho’s Narrow Road: Spring and Autumn Passages của Hiroaki Sato (Stone Bridge Press: 1996).

Các chú thích của người dịch được đánh dấu * hoặc ** trong ngoặc []

 

Trích Đoạn Oku No Hosomichi (おくのほそ道)

Matsuo Basho (松 尾 笆 焦)

 

Basho and companion

Basho (Ba Tiêu) và bạn đồng hành Sora trên đường lên Oku

Khai Bút

Những tháng ngày chở lữ hành vào vĩnh cửu. Những năm trôi đèo bòng kẻ lang thang. Những ai lờ lững trên thuyền bè, hay lam lũ bên ngựa đến khi cạn kiệt với tháng năm, mọi ngày là mỗi hành trình và mỗi hành trình là nhà. Đã có bao người chết trên cuộc hành trình chưa tới đích. Những cụm mây theo gió luôn nảy sinh trong ta một đam mê rong ruổi.

Cuối thu năm ngoái ta quay về căn lều vẹo nát bên sông Shumida sau cuộc hành trình dọc biển. Đến lúc quét sạch những màng nhện thì một năm đã trôi vèo.

Khi mùa xuân đến với vòm trời sụt sùi, ta lại muốn lên đường qua ải Shirakawa. Những thần lãng tử như ám ảnh hồn ta, những quang cảnh phù du quyến rũ ta từ mọi phía, nên ta không còn muốn duỗi cẳng nằm nhà.

Ngay cả những lúc ta sửa soạn, vá víu mấy cái quần rách, thay quai nón, và xoa ngải nhung vào đầu gối chân để dưỡng khớp, ta mơ trăng sáng vịnh Matsushima. Cuối cùng ta bán căn nhà, dọn tạm tới phòng trọ ở gia thất Sampu. Trên cột nhà cũ, ta lưu lại bài liên ca tám đoạn,

với đoạn đầu:

Sau cánh cửa nay khuất
vùi trong cỏ, một thế hệ khác
đón lễ hội búp bê

出発まで

月日は百代の過客にして行かふ年も又旅人也。舟の上に生涯をうかべ、馬の口とらえて老をむかふる物は日々旅にして旅を栖とす。古人も多く旅に死せるあり。予もいづれの年よりか片雲の風にさそはれて、漂白の思ひやまず、海濱にさすらへ、去年の秋江上の破屋に蜘の古巣をはらひてやゝ年も暮、春立る霞の空に白川の関こえんと、そゞろ神の物につきて心をくるはせ、道祖神のまねきにあひて、取もの手につかず。もゝ引の破をつゞり、笠の緒付かえて、三里に灸すゆるより、松嶋の月先心にかゝりて、住る方は人に譲り、杉風が別墅に移るに、

草の戸も住替る代ぞひなの家

面八句を庵の柱に懸置。

Tử Thạch ở Sesshoseki

SekienSessho-seki

Rời người bạn ở Kurobane, ta hướng nẻo Tử Thạch, tên gọi mỏm đá giết bất kể chim chóc và côn trùng nào dám mon men cận kề. Đang thong dong trên lưng ngựa (mà người bạn đã cho ta mượn), thì người tá điền dẫn ngựa xin ta một bài thơ. Lời yêu cầu của y chợt làm ta vui lai láng.

Quay đầu ngựa ngang ruộng
Ta lắng nghe tiếng chim cúc cu
chim hót vời vợi xa

Tử Thạch nằm trong hóc tối của một trái núi gần giòng suối nóng, bao trùm bởi khí độc bốc lên từ đá. Hàng vạn xác ong, bướm, và các côn trùng khác phủ kín mặt đất, đến nỗi không nhìn ra màu cát phía dưới.

Ta đi tìm cây liễu mà Saigyo đã ca tụng trong bài thơ của người, qua câu thơ, “bóng liễu tỏa rộng khắp giòng nước pha lê.” Ta thấy liễu đứng gần làng Ashino bên bờ đê giáp ruộng. Ta đã từng mơ về địa danh của liễu từ khi lãnh chúa của vùng giục mời ta đến xem liễu. Hôm nay là lần đầu tiên trong đời ta được nghỉ chân dưới bóng mát của liễu.

Vuông ruộng vừa cấy xong
ta rời khuôn tịnh tâm êm mát
dấn thân qua bóng liễu

殺生岩・蘆野

是より殺生石に行。館代より馬にて送らる。此口付のおのこ、短冊得させよと乞。やさしき事を望侍るものかなと、

野を横に馬牽むけよほとゝぎす

殺生石は温泉の出る山陰にあり。石の毒気いまだほろびず。蜂蝶のたぐひ真砂の色の見えぬほどかさなり死す。

又、清水ながるゝの柳は蘆野の里にありて田の畔に残る。此所の郡守戸部某の此柳みせばやなど、折々にの給ひ聞え給ふを、いづくのほどにやと思ひしを、今日此柳のかげにこそ立より侍つれ。

田一枚植て立去る柳かな

Vịnh Matsushima

View of Matshusima, Mutsu province hiroshige

Vịnh Matshushima, nhìn từ mỏm Tomi (tranh Hiroshige)

Vẻ đẹp của Matsushima đã được ca ngợi bao lần. Nếu thêm lời tôn vinh chẳng là thừa, thì ta có thể nói rằng nơi đây là địa danh đẹp nhất của nước Nhật, và vẻ đẹp của Matsushima không thua kém Hồ Động Đình hoặc Tây Hồ của Trung Quốc. Những hòn đảo nằm trong con vịnh rộng dài cỡ ba dặm, thông ra biển từ nhánh hẹp hướng Đông Nam. Như nước sông Tiền Đường của Trung Quốc dâng cao theo thủy triều, con vịnh ngập trào nước biển, với vô số những hòn đảo nằm rải rác từ đầu vịnh tới cuối vịnh. Vài hòn cao nghều nghệu chọc thẳng lên trời, vài hòn thấp lè tè chúi sấp trên những con sóng, lại có vài hòn túm tụm thành từng đụn, hoặc nối liền hai bên thành dải. Có hòn như cõng các hòn khác trên lưng, có hòn như ôm những hòn bé hơn trước ngực, chẳng khác gì cảnh ông bà, cha mẹ âu yếm con cháu mình. Những hàng thông hòa nhuốm trong muôn sắc xanh ngọc, với cành cong oằn dưới làn gió mặn như thể tự tạo cho chúng hình thể uốn éo đặc thù.

Vẻ đẹp của cảnh tượng chỉ có thể so sánh với chân dung tuyệt trần của một tố nữ,* vì còn ai ngoài Tạo Hóa mới có thể chế tạo một vẻ đẹp như vầy? Bút ta bất lực trước tạo tác siêu phàm này.

Hòn Ojima nơi ta đặt chân thật ra là một dải đất chạy dài ra biển. Đây là nơi thiền sư Ungo chọn cuộc đời ẩn dật, và mỏm đá nơi ông tịnh thiền vẫn còn đó. Ta thấy vài túp lều tranh lác đác sau những rặng thông và làn khói xanh xanh bốc lên từ chúng. Ta tò mò muốn biết ai sống trong những căn nhà hoang dã này, phân vân định dừng chân trước một căn nhà. Bỗng chợt, mặt trăng chóe sáng khắp mặt biển, cho ta thấy một hình ảnh khác hẳn với ban ngày. Ta quay về bến và thuê một phòng trọ, với tầng trên có cửa sổ nhìn ra biển. Nằm trên giường nghe tiếng gió gầm và nhìn những cụm mây chu du, ta thấy mình như chơi vơi trong một không gian khác hẳn với thế giới thường ngày. Bác Sora phóng bút:

Ới chim cu lanh lảnh
mày cũng cần đôi cánh hạc xoải
dài Matsushima

Ta cố chợp mắt, đè nén cảm xúc muốn dâng trào, nhưng nao nao không thể. Cuối cùng, ta lôi quyển sổ tay từ cái bị mang theo và đọc những bài thơ những người bạn đã đề tặng trước khi ta lên đường – một bài thơ tiếng Hán của Sodo, một bản hòa ca của Hara Anteki, hài cú của Sampu và Dakushi, mọi bài đều miêu tả những hòn đảo trong vịnh Matshushima ….

[*Ở đây Basho ám chỉ bài thơ của Tô Đông Pha so sánh nét đẹp trầm ngư của Tây Thi với Tây Hồ:

Thủy quang liễm diễm tình phương hảo
Sơn sắc không mông vũ diệc kỳ
Dục bá Tây Hồ tỉ Tây Tử
Đạm tran nồng mật tổn tương nghi

Nước dập dờn bừng khi nắng dọi
Nước nhạt nhòa xanh buổi mưa về
Tây Hồ ví tựa Tây Thi
Điểm trang đậm nhạt vẻ gì cũng xinh

(bản dịch tiếng Việt của Ông Văn Tùng)]

松島

抑ことふりにたれど、松嶋は扶桑第一の好風にして、凡洞庭西湖を恥ず。東南より海を入て、江の中三里、浙江の 湖をたゝふ。嶋/\の数を尽して、欹ものは天を指、ふすものは波に 葡蔔。あるは二重にかさなり三重に畳みて、左にわかれ右につらなる。負るあり抱るあり、児孫愛すがごとし。松の緑こまやかに、枝葉汐風に吹たはめて、屈曲をのづからためたるがごとし。其景色えう然として美人の顔を粧ふ。ちはや振神のむかし、大山ずみのなせるわざにや。造化の天工、いづれの人か筆をふるひ詞を尽さむ。

雄嶋が磯は地つゞきて海に出たる嶋也。雲居禅師の別室の跡、坐禅石など有。将松の木陰に世をいとふ人も稀/\見え侍りて、落穂松笠など打けぶりたる草の庵閑に住なし、いかなる人とはしられずながら、先なつかしく立寄ほどに、月海にうつりて昼のながめ又あらたむ。江上に帰りて宿を求れば、窓をひらき二階を作て、風雲の中に旅寝するこそ、あやしきまで妙なる心地はせらるれ。

松嶋や鶴に身をかれほとゝぎす 曾良

予は口をとぢて眠らんとしていねられず。旧庵をわかるゝ時、素堂松嶋の詩あり。原安適松がうらしまの和哥を贈らる。袋を解てこよひの友とす。且杉風濁子が発句あり。

十一日、瑞岩寺に詣。当寺三十二世の昔、真壁の平四郎出家して、入唐帰朝の後開山す。其後に雲居禅師の徳化に依て、七堂甍改りて、金壁荘厳光を輝、仏土成就の大伽藍とはなれりける。彼見仏聖の寺はいづくにやとしたはる。

Ichiburi

women met in ichiburi

Hai kỹ nữ du hành

Kiệt sức do phải lần qua những nẻo đá chênh vênh mé biển với những tên rợn người như Chốn Lìa Mẹ Cha, Chỗ Bỏ Con, Chặng Chó Lùi, Khúc Ngựa Quay Đầu, ta mong đi ngủ sơm sớm sau lần qua cửa ải Ichiburi. Nhưng tiếng rù rì của phụ nữ từ phòng bên cứ lởn vởn bên tai. Hai cô gái làng chơi đang thì thầm trò chuyện với một lão khách. Nghe lõm bõm ta biết được hai ả này quê thành Niigata thuộc tỉnh Echigo, và lão khách, người hộ tống hai ả trên đường hành hương tới Đền Ise, sẽ quay trở về với những thông tin mà hai ả muốn chuyển đến bạn bè và gia đình. Ta thấy thương hai ả, vì như hai ả tâm sự qua những lời thầm thì, cuộc đời hai ả nổi trôi bạc thếch như bọt biển vỡ bờ, đêm đêm làm vợ hờ của đám lữ khách, đổi chác tình ái để rồi giam hãm mình trong vòng nhân quả. Ta lắng nghe những lời thầm thì của hai ả cho tới lúc nỗi mệt dìu ta vào giấc ngủ.

Sáng hôm sau, vừa dợm bước lên đường, ta gặp hai ả, rơm rớm hai cặp mắt ngấn lệ nài nỉ, “Chúng cháu là những lữ hành bơ vơ, không có ai bầu bạn. Nếu ngài thương tình xin cho chúng cháu theo chân ngài. Nếu ngài là một thiền sư như chúng cháu thấy qua áo chùng đen của ngài, xin thương xót chúng cháu và dẫn dắt chúng cháu vào đường Từ Bi của Nhà Phật.” Ta đáp lời, sau một phút tư lự, “Kẻ này rất cảm kích chân tình của hai cô, nhưng chúng tôi sẽ phải dừng lại nhiều chỗ trên đường nên rất tiếc là không thể giúp hai cô. Hãy cứ đi như những kẻ lữ hành đã đi. Nếu hai cô tin tưởng lòng quảng đại của Đức Phật, hai cô sẽ luôn luôn được Ngài bảo trì.”

Chào hai nàng tạm biệt, lòng ta chùng đầy nỗi xót thương.

Dưới mái túp lều tranh 
ta, người, các vợ hờ say ngủ
bụi đậu mắt gà, trăng

市振

今日は親しらず子しらず犬もどり駒返しなど云北国一の難所を越てつかれ侍れば、枕引よせて寝たるに、一間隔て面の方に若き女の声二人計ときこゆ。年老たるおのこの声も交て物語するをきけば、越後の国新潟と云所の遊女成し。伊勢参宮するとて、此関までおのこの送りて、あすは古郷にかへす文したゝめてはかなき言伝などしやる也。白浪のよする汀に身をはふらかし、あまのこの世をあさましう下りて、定めなき契、日々の業因いかにつたなしと、物云をきく/\寝入て、あした旅立に、我々にむかひて、行衛しらぬ旅路のうさ、あまり覚束なう悲しく侍れば、見えがくれにも御跡をしたひ侍ん。衣の上の御情に大慈のめぐみをたれて結縁せさせ給へと泪を落す。不便の事には侍れども、我/\は所〃にてとゞまる方おほし。只人の行にまかせて行べし。神明の加護かならず恙なかるべしと云捨て出つゝ、哀さしばらくやまざりけらし。

一家に遊女もねたり萩と月

曾良にかたれば、書とゞめ侍る。

 

Komatsu

kabuto

Mũ chiến binh của Sanemori, Đền Tada (Komatsu)

Ta viếng thăm Đền Tada trong vùng, nơi ta chiêm ngưỡng mũ chiến binh của Chúa Sanemori và giải gấm đỏ mà người đã mặc lót dưới áo giáp. Theo truyền thuyết, mũ chiến binh và giải gấm đỏ là tặng vật Chúa Yoshimoto trao thưởng Sanemori khi người còn phục vụ trong gia tộc Minamoto.

Mũ chiến binh quả là một di vật tuyệt diệu, với những đóa cúc chạm vàng uốn quanh vòm che mắt và chỗ bịt tai, đỉnh mũ tạc rồng oai vệ, với hai sừng cong chỉ thiên. Sách sử của Đền thuật lại chuyện Ngài Yoshinaka sai người phó là Jiro thành Higuchi đến Đền Tada để hiến tặng mũ chiến binh của dũng sĩ tử trận cùng bản kinh cầu.

Sững sờ,* tiếng dế **hát vang 
trong vòm đen thẳm mũ xưa ai màng

[*Chữ “Muzanya” (無残) có nghĩa là sự xúc động, lòng thương cảm, ở đây được hiểu là nỗi sững sờ, ân hận. Trong vở kịch Noh có tựa “Sanemori,” nhân vật Jiro Higuchi, kẻ chém đầu Sanemori, thảng thốt kêu "muzanya" khi nhận ra rằng Sanemori dưới mũ chiến binh chính là người bạn nối khố lúc thiếu thời.

**Có những bản dịch Anh ngữ viết là “châu chấu.”]

大田神社

小松と云所にて

しほらしき名や小松吹萩すゝき

此所太田の神社に詣。真盛が甲錦の切あり。往昔源氏に属せし時、義朝公より給はらせ給とかや。げにも平士のものにあらず。目庇より吹返しまで、菊から草のほりもの金をちりばめ龍頭に鍬形打たり。真盛討死の後、木曾義仲願状にそへて此社にこめられ侍よし、樋口の次郎が使せし事共、まのあたり縁記にみえたり。

むざんやな甲の下のきり%\す

Lời Bạt (Soryu, bạn Thiền của Basho, viết Lời Bạt vào năm 1694, cũng là năm Basho từ trần ở Osaka, trong chuyến du hành xuống các tỉnh miền Nam Nhật Bản)

Trong quyển nhật ký du hành nho nhỏ này là muôn vật trên thế gian – những điều cổ lỗ khô khan đối chiếu với các ý niệm tươi trẻ, đầy màu sắc, những tư tưởng vĩnh hằng đi cùng với cảm xúc cho thân kiếp phù du. Ở từng khúc quanh trên nẻo đường thiên lý, chúng ta có lúc đứng hiên ngang như thờ ơ trước mọi khích lệ, có lúc quỵ ngã trong nỗi đau thấu tim. Có lúc chúng ta chỉ muốn đi, cứ đi, mặc vội lên người cái áo mưa ai để hờ hững cạnh bên, có lúc chúng ta chỉ thích ngồi đến khi chân thời bắt rễ, nghiền ngẫm thắng cảnh được tạo ra trước mắt. Vẻ đẹp đa nguyên của thế gian nằm gọn trong quyển sách này, sự từng trải của tác phẩm giống như những hạt trai kết cấu từ nước mắt các mỹ ngư biển cả. Quả là một chuyến đi để đời. Quả là một nhân tài người lữ hành cầm bút. Tiếc thay, tác giả quyển nhật ký, một con người thông thái, qua bao năm đã suy bại vì tuổi già, với đôi mày nhuộm trắng màu sương.

Đầu Hạ, năm thứ Bảy triều Nguyên Lộc  – Soryu.

Basho epilogue

Lời Bạt của Soryu

Ba Tiêu Am hiroshige

Nhà Ba Tiêu trên Đồi Trà Hoa (tranh Hiroshige)

bài đã đăng của Đinh Từ Bích Thúy


6 bình luận »

  • black raccoon viết:

    Tản mạn về dịch thơ haiku,

    Cái ý tưởng dịch thơ hài cú qua lục bát của cô Bích Thúy khá hay. (Dường như cũng có người làm như vậy thì phải).

    Tui có dịch thử một số bài hài cú từ Anh qua Việt Văn ngay trên diễn đàn này. Từ ngày gia nhập cách đây khoảng hơn một năm. Tui cố gắng chuyển hình thức 5,7,5 sang 5,5,5 của thơ ngũ ngôn của Việt Nam. Gieo vần thì theo cách uyển chuyển giữa lưng (yêu vận).

    Điều này, thật ra tui lấy cảm hứng từ “cây đàn guitar phím lõm”. Khoét cái phím lõm xuống mà từ cây đàn Tây thành ra cây đàn Ta. Ta thêm một món bửu vật, mà Tây đâu có mất gì?

    The orchid blossoms.
    Oil tankers are gliding past.
    And the moon is full.
    *Tomas Transtromer

    Phong lan hoa cánh nở.
    Tàu chở dầu qua nhanh.
    Trời thanh sáng trăng rằm.

    TOMAS TRANSTRÖMER Haiku poems
    English translation by Patty Crane
    http://www.blackbird.vcu.edu/v10n1/poetry/crane_p/014pc_page.shtml

  • Doan Van viết:

    Tôi có bản ‘A HAIKU JOURNEY – Basho’s Narrow Road to a Far Province”, do Dorothy Britton dịch tiếng Anh. Bản này có lời bạt tiếng Nhật, và theo phần tiếng Anh thì người viết bạt là Soryu. Tôi có thể scan gửi tới nếu Da Màu yêu cầu.
    Đoàn Văn

  • Đinh Từ Bích Thúy viết:

    Thưa độc giả Black Raccoon và Đoàn Văn,

    Cám ơn hai bạn đã đọc bài giới thiệu và trích dịch tác phẩm Oku no Hosomichi.

    Trước hết, xin cám ơn bạn Đoàn Văn đã cho người dịch thấy ngay sự sai lầm của mình. Bản tiếng Anh của Lời Bạt (nguồn Nobuyuki Yuasa) có đề tên Soryu, đi sau năm (thứ Bảy) của triều Nguyên Lộc (1694), nhưng người dịch tưởng lầm đây là tên của một địa danh bên Nhật, nên đã dịch ra là Thương Long (蒼龍—rồng xanh). Nhờ chi tiết của bạn Đoàn Văn, bài viết trên đã được sửa lại, với tên Soryu là bạn Thiền của Basho (có một vài bản tiếng Anh nói rằng Soryu là đệ tử (disciple) nhưng nhiều bản khác nói Soryu là bạn đồng hành và là nhà thư pháp (calligrapher). Người dịch thích tinh thần “bình đẳng/hiện sinh” của khái niệm hành trình nên đã chọn danh từ “bạn Thiền”—một danh từ khoáng đạt- để tả Soryu.

    Vâng, nếu bạn Đoàn Văn có nguyên bản Lời Bạt của Soryu, xin bạn vui lòng scan đoạn này và gửi đến Da Màu. Tôi sẽ bổ túc vào bài khi nhận được scanned copy của Lời Bạt. Cám ơn bạn.

    Như Black Raccoon đã nhận xét, tuy thể hài cú của Nhật bản được hiểu đại cương là có 17 âm tiết, khi dịch sang tiếng Việt thường được “điều hòa” thành thể thơ thích hợp, hoặc quen thuộc với văn chương văn hóa Việt. Thiết tưởng điều này cũng dễ hiểu. “Hài cú” có nghĩa là thơ “khôi hài, hóm hỉnh,” “nhẹ nhàng,” về những mùa trong Thiên Nhiên, hoặc những điều thường ngày, cho nên có người nghĩ haiku, hoặc haikai, là thể thơ không nhất thiết phải “nghiêm túc.”

    Trong trường hợp thơ dịch của Black Raccoon thì hài cú Nhật bản thường được bạn chuyển thể sang thơ ngũ ngôn. Dịch giả Vĩnh Sính (người dịch Oku No Hosomichi sang Việt ngữ năm 1999) nhận thấy sự tương quan giữa thơ hài cú Nhật bản và thơ lục bát của Việt Nam:

    Tôi đã chọn thể thơ lục bát khi dịch, tức là đã thu gọn 17 âm tiết trong nguyên văn vốn đã quá ư ngắn gọn còn lại vỏn vẹn trong 14 vần tiếng Việt. Lý do ?… Sau hơn ba chục năm làm quen với văn hoá Nhật Bản và thỉnh thoảng cũng có dịp đi vào thế giới thi ca Nhật Bản, tôi mường tượng là trong các thể loại thơ Việt Nam, thơ lục bát có cung bậc gần nhất với haiku. Nếu ba dòng thơ haiku với mười bảy âm tiết là thể thơ độc lập cô đọng nhất trong thi ca Nhật Bản, thì hai dòng lục bát truyền cảm, đầy tình tự và sắc thái dân tộc là thể loại thơ ngắn gọn nhất trong thơ ca Việt Nam truyền thống.
    (Xin tham khảo bài “Đọc Vĩnh Sính Dịch Basho” của Nguyên Thắng)

    Thật ra thì khái niệm “nghiêm túc”/”xuề xòa” về hình thể của thơ—nói chung là hình thể của ngôn ngữ–cũng được “điều hòa” tùy theo quan niệm của mỗi dịch giả hoặc độc giả. Ý của tác giả có thể là chuyện khác– nếu có ai “đoán” được ý tác giả. Theo học giả Masako Hiraga, nhà ký hiệu học trong tuyển tập Semiotics Around the World: Synthesis in Diversity, thì thật ra Basho khá “nghiêm túc” với cách viết hài cú của ông. Bản Oku no Hosomichi được chép và tu sửa bởi hai người bạn thân của Basho là Sora và Soryu. Trong nguyên bản tác phẩm, có những chỗ được viết trong kanji (Hán tự), nhưng cũng có chỗ Basho đổi qua hiragana (平仮名)(bình giả danh), mà một số người Việt gọi nôm na là “chữ mềm”–một dạng văn tự biểu âm truyền thống của tiếng Nhật. Theo bà Masako Hiraga, Basho dùng kanji (thể “cứng,” dương) khi viết những từ tả mùa, sinh/thực vật, thời gian, biển động, mưa, bão, và dùng hiragana (thể “mềm,” âm) khi tả trăng, sương, những sự biệt ly, tương tác, thay đổi…. Bà Masako Hiraga cũng nhận xét rằng Basho bỏ ra nhiều thời gian gọi dũa những bài hài cú của ông, và những bài theo triệt để 17 âm tiết trong kanji có lẽ hàm ý phong phú-khắc khổ của thể thơ mang nặng ảnh hưởng Thiền: ngôn ngữ thơ càng vắn tắt, càng “cứng,” thì ý thơ càng rộng, càng sâu xa.

    Trân trọng,
    Đinh Từ Bích Thúy

  • Nguyễn Hoàng viết:

    “Những tháng ngày chở lữ hành vào vĩnh cửu. Những năm trôi đèo bòng kẻ lang thang…. Mọi ngày là mỗi hành trình và mỗi hành trình là nhà”

    Qua âm từ Việt được chuyển ngữ, lời mở vào du ký của Ba Tiêu đẹp hẳn lên, cùng là để lại những dư vị xao xuyến bất ngờ.

    Từ “Quang âm giả, bách đại chi quá khách” đi đến “những năm trôi đèo bòng kẻ lang thang” là hai bước nhảy thơ mộng – từ Lý qua Ba Tiêu, từ Ba Tiêu qua Bích Thúy.

    Tranh mộc bản của Utagawa Hiroshige đẹp lạnh lùng!

    Mười bảy âm tiết là độ dài của một hơi thở. Mộc bản của Utagawa Hiroshige cũng lấy đi một hơi thở như vậy.

  • black raccoon viết:

    俳句 = Haiku

    Nếu đọc theo âm Hán Việt thì 俳句 = bài cú
    Tự điển Thiều Chửu chỉ chua nghĩa chữ 俳 một cách vắn tắt, Bài ưu 俳優 phường chèo.
    Từ điển Đào Duy Anh cũng vậy, Bài ưu 俳優 người làm tuồng hát acteur. Và có chua thêm nghĩa Bài thể 俳體 là lối văn du hí.

    Tóm lại, thể thơ ngắn haiku được đọc sang Việt Ngữ hài cú, là đọc thẳng từ tiếng Nhật. Khía cạnh nào đó cũng có thể hiểu là một lối thơ mang tính “nhẹ nhàng” và “hóm hỉnh” như cô Bích Thúy đã viết.

    Chữ “hài” trong haiku (hài cú) mặc dù có nghĩa bóng là hí lộng ý nhị đùa vui, nhưng hoàn toàn khác với chữ Hài 諧 = hòa điệu; khôi hài, hài hước.

    ***

    俳諧 = Haikai
    俳句 = Haiku

    Lịch sử hoàn thiện thể thơ Hài cú thật dài dòng. Có thể nói Matsuo Bashō, 松尾 芭蕉 1644 –1694 Tùng Vỹ Ba Tiêu, là người có công kết hợp và hoàn tất các thể thơ trong dân gian Nhật Bản thuở ấy thành lối thơ gọi là Haikai, Hài hài.

    Để rồi sau đó gần 200 năm, Masaoka Shiki 正岡子規 1867 – 1902 Chính Cương Tử Quy, phát triển và cho ra đời thể thơ có tên Haiku, Hài cú như hiện tại.
    Cùng với Ba Tiêu, Tử Quy cũng được kể là một nhà thơ Hài cú lớn khác nữa của Nhật Bản.
    Người Nhật thường xếp trong văn học của họ có 4 nhà thơ Haiku lớn nhất, gồm có: Matsuo Bashō, Masaoka Shiki ,Yosa Buson and Kobayashi Issa.

    The year is nearly o’er,
    And it will do me good to see
    The plum in bloom once more
    * Basho

    Năm cũ sắp qua rồi
    Tớ rồi vui thấy lại
    Đào mơ nở cùng trời

    *
    Engish translation by Johanna Brownell
    Haiku, Castle Book USA 2001

  • Đinh Từ Bích Thúy viết:

    Kính thưa bạn Đoàn Văn,

    Cám ơn bạn đã gửi bản scanned lời bạt của Soryu cho tác phẩm Oku no Hosomichi. Tôi đã đưa lên bài ở phần cuối, sau bản dịch Lời Bạt.

    Trân trọng,

    Đinh Từ Bích Thúy

Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)
porn ficken russian porn japanese porn watch porn watch sex izle sex izle anal porn tube amateur porn watch