Trang chính » Biên Khảo, Dịch Thuật, Diễn từ, Sang Việt ngữ, Tư Liệu Email bài này

Thi ca mở biên giới: các diễn từ tôn vinh Tomas Tranströmer trong tuần lễ Nobel 2011


♦ Chuyển ngữ:
9 bình luận ♦ 22.12.2011

 

nobelweek_main_sthlm_laur

 

 

A. Lời Giới Thiệu của Peter Englund, Bí thư Hàn Lâm Viện Thụy Điển trong ngày Nobel Lecture (ngày đọc các bài thơ tiêu biểu của Tranströmer, với chương trình hòa tấu nhạc cổ điển) thứ Tư, 7 tháng 12 năm 2011:

Hai bạn Tomas và Monica Tranströmer, kính chào quý thành viên Hàn Lâm Viện, quý ông, quý bà,

Xin gửi lời chào mừng nồng nhiệt đến quý vị hiện có mặt tại Hàn Lâm Viện Thụy Điển trong buổi lễ trao giải Nobel Văn Chương!

Một bài thơ tuyệt tác thường gây cảm xúc mạnh mẽ. Nó có thể thay đổi hình ảnh thế giới của chúng ta, giúp hình ảnh này được rõ và sắc cạnh, đa diện hơn. Và vĩnh viễn.

 

transtromer_lecture_poetry-reading

Các bài thơ của Tomas Tranströmer được đọc trong nhiều ngôn ngữ khác nhau,
trong số đó có bản tiếng Tây Ban Nha (đọc bởi nữ diễn viên Antolina Gutiérrez del Castro)
Ảnh: Helena Paulin-Strömberg (Copyright © The Swedish Academy)

 

Chúng ta không nên coi thường phong cách giản dị trong thơ Tomas Tranströmer. Nhiều sự nhiệm màu trong cuộc sống của chúng ta có mặt trong các tác phẩm của ông: Ký Ức, Lịch Sử, Sự Chết, Thiên Nhiên—thiên nhiên trên hết. Nhưng mỗi đề tài này không hiện diện choáng ngợp như ngoại cảnh, hoặc được cấu tạo do tầm nhìn của chúng ta. Trong các tác phẩm của Tomas nó chính là điều ngược lại: tâm thức, cá nhân nhà thơ, là lăng kính thu hút mọi yếu tố. Nó cho chúng ta một cảm nhận sâu xa về văn cảnh, một trách nhiệm, gần như vậy.

Tomas quý mến, không ai thấy mình hèn mọn sau khi đọc thơ của bạn. Cùng lúc, không ai còn có thể yêu thế gian này với những lý do lầm lẫn.

Nhưng điều làm thi ca vĩ đại không chỉ vì nó làm sáng tỏ hoặc phơi bày những điều đã hiện hữu trong thế giới chúng ta, mà cũng do thi ca có khả năng mở rộng biên cương của thế giới loài người. Đó chính là sức mạnh của thi ca.

 

transtromer_lecture_hall_chamber-music

Ban nhạc thính phòng Uppsala hòa tấu nhạc cổ điển trong chương trình dành cho thơ Tomas Tranströmer ngày 7 tháng 12
Ảnh: Helena Paulin-Strömberg (Copyright © Nobel Foundation 2011)

 

Paul Valéry—một trong những thi hào đáng được trao giải Nobel Văn Chương nếu ông không mất sớm—đã tuyên bố đại khái như sau, “chữ nghĩa là cốt cách của chúng ta, còn hơn cả bộ não thần kinh, vì tôi chỉ biết đến bộ não của mình qua lời nói của kẻ khác.” Đúng hay sai, đây không phải là điều khó hiểu. Khi ngôn ngữ của một người kết thúc, thế giới của họ cũng bị hủy diệt. Nhưng trong khi thế giới duy vật chỉ là vậy, với những giới hạn rõ rệt—cho dù nó được thể hiện qua tốc độ ánh sáng, với một con số không nghiệt ngã hoặc điều giản dị là cuộc sống chỉ có được từ cái chết—thế giới ngôn ngữ với những quy luật thật ra lại cho phép sự tiếp nối, chuyển động, nới rộng. Và những cá nhân với trách nhiệm quan trọng—nhưng khó khăn—trong việc khai phá giang sơn lạ của thi ca đáng được tôn vinh như những nhà thơ lớn, như Tomas Tranströmer. “Những vùng đất mênh mông của trí óc con người rồi cũng được thu lại trong một nắm tay.”

Chúng ta đứng trước bạn ngày hôm nay với lòng biết ơn sâu đậm, vì bạn đã làm thế giới của chúng ta phong phú hơn, và rộng, rất rộng hơn nhiều.

 

transtromer_after-award1

Tomas Tranströmer sau khi nhận Mề Đai Nobel và Giải Nobel Văn Chương tại buổi lễ trao Giải Thưởng Nobel, ngày 10 tháng 12,  2011
Ảnh: Lina Göransson (Copyright ©
Nobel Foundation 2011)

 

B. Diễn từ của Kjell Espmark, thành viên của Hàn Lâm Viện Thụy Điển và Hội Đồng Tuyển Chọn Giải Nobel, trong buổi lễ trao giải Nobel Văn Chương cho Tomas Tranströmer vào ngày thứ Bảy, 10 tháng 12 năm 2011:

Quý Vương,
Quý Điện hạ,
Quý Ngài,
Quý Ông, Quý Bà,

Tomas Tranströmer là một trong số rất ít những nhà văn Thụy Điển với ảnh hưởng trên giòng văn chương thế giới. Ông đã được dịch sang khoảng 60 thứ tiếng, và có chỗ đứng cốt yếu trong nền thi ca của nhiều nơi trên thế giới. Nhà thơ Joseph Brodsky (cũng là người trước đây được giải Nobel Văn Chương), đã công nhận mình “ẵm nguyên con” ít nhiều những ẩn dụ từ thơ của Tranströmer. Và trong một chuyến du hành với các nhà thơ Trung Hoa cách đây vài năm tôi đã khám phá ông là một thần tượng vĩ đại của họ.

Tại sao có hiện tượng này? Có phải vì nhà thơ có những ẩn dụ tuyệt vời? Tôi nghĩ đó chỉ là phân nửa sự thật. Phân nửa kia là những hình ảnh soi sáng vào cuộc sống thường nhật trong đó các ẩn dụ đã được gửi gấm.

Hãy lắng nghe “Carillon”—“những tiếng chuông” của Tranströmer—lúc nhà thơ ở trong một khách sạn tồi tàn tại thành Bruges, nằm trên giường với hai tay dang ngang, “một mỏ neo đã cắm sâu và giữ vững / cái bóng bủa vây trên cao / một bí ẩn lớn.” Hãy tưởng tượng ra hình ảnh yếu đuối, không phòng thủ, “Tôi có những bờ cát thấp, nếu cái chết dâng cao sáu insơ tôi sẽ lụt.” Điều cốt yếu không phải là những hình ảnh rời rã mà là cách chúng tạo thành một bức tranh toàn diện. Nhà thơ “dễ lụt” chính là tâm điểm không phòng thủ, nơi những thời đại xa gần xâm lấn, hòa hợp. Ông cũng là biểu tượng của dây xích mỏ neo, giữ vững bao thế lực bí ẩn đã dồn sức ép của chúng vào một đối tượng cần cù, nhẫn nhục. Nhưng trong bài thơ cũng có sự chuyển động từ hướng đối nghịch. Cửa sổ phòng khách sạn đối diện “Phố Chợ Hoang Dã” (“Wild Market Square”) nơi tâm hồn của nhà thơ được phản chiếu ra ngoại cảnh: “Những gì tôi cưu mang được phát hiện ở đó, những nỗi kinh hoàng, những khát khao.” Sự chuyển động xảy ra trong tâm khảm, đồng thời thoát ra bên ngoài nhà thơ. Lúc “bao tải rạn nứt ở mọi góc và hồi chuông vang vọng khắp Flanders,” rồi những hồi chuông cũng lại “mang chúng ta về nhà” trên “đôi cánh” của chúng. Những ẩn dụ tạo một cấu trúc chính xác và gợi cảm, dẫn đến nhịp thở lớn. Điều thú vị là bài thơ phức tạp này coi bộ nhẹ tênh, vì nó giao cảm với trực giác của chúng ta.

Cũng có một nhịp thở lớn trong Baltics. Những hình ảnh đầy ấn tượng giữa thông cảm và tắc nghẽn đã được kết thành một giao tấu giữa “những cánh cửa lớn mở toang và những cánh cửa lớn đóng sập,” giữa làn gió “réo gọi những bến bờ xa” và một làn gió khác “làm vùng đất cô quạnh đến im lìm.”

Nhưng sự chuyển động trong thế giới của Tranströmer luôn hướng về tâm điểm. Hoa đăng của nhà thơ lóe sáng nhất ở hiện tại trong suốt. Chúng ta nhớ trong “Những Bí Ẩn Dọc Đường” (“Secrets Along The Way”), “căn phòng cất giữ mọi sát-na—một viện bảo tàng bướm.” Trong cách chống trả ngấm ngầm những đồng nghiệp thích đuổi bắt thiên đàng, Tranströmer bắt đầu tập thơ đầu tay của mình với câu thơ, “Thức tỉnh là cách nhảy dù từ bến mơ.” Đây là một Tranströmer thứ thiệt dìm sâu thân xác vào tâm điểm, hướng về một mùa hè trần thế.

Trong “Schubertiana,” độ chính xác của hành trình về tâm điểm được thể hiện qua hình ảnh đàn chim nhạn bay trong sáu tuần lễ qua hai lục địa “trở về tổ ấm năm ngoái dưới máng xối của kho chứa thóc trong xứ đạo.” Chuyến bay của đàn nhạn về “đúng địa điểm nhỏ tỉ ti của vùng đất mênh mang” tương tác với cách Schubert “tạo nhịp điệu từ cuộc sống đa diện” chỉ trong vài cung nhạc thông thường cho loại đàn năm dây.

 

transtromer_diploma

Văn bằng Nobel của Tomas Tranströmer

 

Sự biến chuyển trong thơ Tranströmer dần hướng về một khái niệm mở bát ngát hơn trước đây. Địa thế Thụy Điển của ông đã nới rộng thành giải Ngân Hà xoắn ốc lấp lánh bao gồm Nữu Ước và đám mob của Thượng Hải “hô hào hành tinh câm lặng của chúng ta đi xông xáo quậy đạp.” Những mảnh vụn của chính trị thế giới cũng đôi lúc xuất hiện trong các bài thơ. Tuy vậy hình ảnh khiêm tốn của nhà thơ cũng trở nên sáng rõ hơn, “Tôi đã tốt nghiệp từ đại học của quên lãng và tôi vẫn trắng tay như cái áo phất phơ trên dây phơi quần áo.” Với phong cách điềm tĩnh, ung dung, Tranströmer là hiện thân của tiếng nói cho nhiều người trong chúng ta. Ngay từ lúc đầu ông đã thừa nhận, “Mỗi chúng ta là một cánh cửa mở nửa chừng / dẫn tới một căn phòng cho mọi con người.” Cuối cùng, đây là nơi chúng ta đã đến—căn phòng lúc trước bảo trì mọi sát na hiện dung dưỡng tất cả chúng ta.

 

transtromer_king_slideshow3

Nhà thơ Thuỵ Điển Tomas Tranströmer nhận giải Nobel Văn Chương từ Vua Carl XVI Gustaf của Thụy Điển vào ngày 10 tháng 12, 2011
Ảnh: Lina Göransson (
(Copyright © Nobel Foundation 2011))

 

Tomas quý mến,

Niềm vui  lớn lao của tôi chính là dịp được chuyển đến bạn lời chúc mừng nồng hậu nhất từ Hàn Lâm Viện Thụy Điển, và trong giờ phút này cũng xin yêu cầu bạn lên đài để nhận Giải Thưởng Nobel Văn Chương từ chính tay của Quý Vương [Carl XVI Gustaf].

 

 

transtromer_banquet_speech_monica-transtromer

Monica Tranströmer thay mặt phu quân đọc diễn từ trong Yến Tiệc Nobel
Ảnh: Orasisfoto (Copyright © The Nobel Foundation 2011)

 

C. Diễn Từ Cho Yến Tiệc Nobel đọc bởi Monica Tranströmer—hiền thê của Tomas Tranströmer—tại Tòa Đô Sảnh Stockholm ngày 10 tháng 12 năm 2011:

Quý Vương,
Quý Điện hạ,
Quý Ngài,
Quý Ông, Quý Bà,

QUÝ BẠN,

Thay mặt phu quân tôi, Tomas Tranströmer, tôi xin thú thật với các bạn rằng ông nhà tôi rất hân hạnh và cảm động đã được trao giải Nobel Văn Chương.

Cảm tạ Viện Hàn Lâm Thụy Điển.

Cảm tạ lòng dũng cảm và giải thưởng tuyệt đẹp của quý vị.

Cảm tạ ưu ái các dịch giả, những con người làm việc nhiệt tâm, cho dù sự trả công rất khiêm tốn.

Động cơ thúc đẩy quý vị là niềm khao khát và trách nhiệm,

Nó phải được gọi là tình yêu—nền tảng thiết thực duy nhất trong quá trình dịch thuật thi ca.

Năm Tomas mười sáu tuổi anh bắt đầu sáng tác với các bạn đồng tâm.

Khi những bài học trong trường trở nên khó khăn hơn thường ngày

Họ chia sẻ với nhau những ghi chép vụn và các bài thơ.

“Những giòng chữ viết tháu đã gây bao ấn tượng,” Tomas thố lộ sau này—

Đó là tình trạng căn bản của thi ca
Bài học trần thế rầm rộ phô diễn
Chúng ta gửi nhau những nhắn nhủ thâm sâu
.”

Và để kết thúc, tôi xin đọc một trong những bài thơ của Tomas—một bài ngắn—trong tiếng Anh và tiếng Thụy Điển:

 

Từ Tháng 3-79

Chán đám người mang chữ, chữ không phải ngôn ngữ
Tôi du hành đến hòn đảo phủ tuyết.
Chốn hoang dã không có chữ
Những trang giấy chưa viết trải dài khắp mọi phía
Tôi lần theo vết chân nai trên tuyết trắng
Ngôn ngữ không phải chữ.

 

Cảm ơn quý vị.

 

2011_group_photo

11 trong số 13 các vị được trao giải Nobel 2011 có mặt trong ảnh chụp lưu niệm
vào tuần lễ viếng thăm Quỹ Tài Trợ Nobel (Nobel Foundation) ở Stockholm, Thụy Điển, ngày 10 tháng 12 năm 2011
Hàng sau, đứng, từ trái sang phải: Tawakkol Karman và Leymah Gbowee (hai phụ nữ  được giải Nobel Hòa Bình);
Brian P. Schmidt, Saul Perlmutter và Adam G. Riess (ba nhà khoa học được giải Nobel Vật Lý);
Dan Shechtman (giải Nobel Hóa Học) và  Bruce A. Beutler (giải Nobel Y Khoa)
Hàng đầu, ngồi, từ trái sang phải: Ellen Johnson Sirleaf (phụ nữ thứ ba được giải Nobel Hòa Bình);
Christopher A. Sims (giải Nobel Kinh Tế); Tomas Tranströmer (giải Nobel Văn Chương) và Thomas J. Sargent (người thứ hai được giải Nobel Kinh Tế)
Ảnh: Orasisfoto (
Copyright © Nobel Foundation 2011)

bài đã đăng của Nhiều tác giả


9 bình luận »

  • black raccoon viết:

    Cám ơn Đinh Từ Bích Thúy, bản đúc kết và phiên dịch rất công phu và hay. Buổi lễ trao giải Nobel thật trác tuyệt. Nó cho ta một không gian huyền hoặc mà nên thơ. Hình ảnh ông Vua cúi mình trước Thi Sĩ một cách trang nghiêm nhưng văn hiến. Chỉ có trong những giấc mơ và câu chuyện truyền kỳ. Vua quý hay Sĩ quý? Một giấc mơ đẹp.

  • thường mộng viết:

    Cùng Black raccoon,

    Tôi thật không biết cái “căn cước” của Raccoon như thế nào, có điều tôi thường gặp Raccon trên “Trang bình luận”; tôi rất thích “tính sáng tạo” của Raccoon khi viết: (…phiên dịch rất công phu và hay, buổi lễ trao giải Nobel thật trác tuyệt, một không gian huyền hoặc mà nên thơ, hình ảnh ông Vua cúi mình trước Thi Sĩ một cách trang nghiêm nhưng văn hiến, chỉ có trong những giấc mơ và câu chuyện truyền kỳ…)

    Tôi cũng như Raccoon, cảm ơn ĐTBT đã chọn và “chụp” văn bản nầy, có điều, một ông vua cúi mình trước một thi sĩ bịnh hoạn không đứng được thời cũng đúng thôi, có gì “văn hiến”!-huyền hoặc mà nên thơ-chúng ta thường đọc “…một không gian đầy ma quái và huyền hoặc…” đã huyền hoặc chắc khó mà nên thơ đó.

    Black raccoon, theo tôi, không phải tất cả văn bản gốc và văn bản “chụp” đều được “dịch” cả đâu; cũng không phải tất cả văn bản “chụp” đều tốn “công phu” như Raccoon viết – tôi viết điều trên không phải tôi giỏi dang gì, nhưng là từ kinh nghiệm. Khi tôi đọc: “How are you?, tôi sẽ viết xuống: Mầy thế nào hay chị mạnh giỏi, chú khỏe không…một thứ óc não không cần thiết, chỉ tốn thời gian; “dịch” chỉ có khi nào có vấn nạn chữ nghĩa áp đặt lên, theo tôi – ĐTBT đã rất thoải mái phóng bút…

  • black raccoon viết:

    @ thường mộng

    玄 huyền = sắc đen, huyền bí
    惑 hoặc = nghi ngờ, mê say
    Huyền hoặc = huyền thoại, huyền bí; còn vấn vương một câu hỏi khiến lòng vừa ngẩn ngơ vừa mê say. Như sau một giấc mơ kỳ bí. Như đọc một bài thơ ẩn dụ hay. Theo tui nghĩ, một bài thơ hay là bài thơ còn lưu dấu cái gì đó, sau mỗi lần đọc lại. Có thể là một câu hỏi. Như một giấc mơ đẹp.

  • Đinh Từ Bích Thúy viết:

    Chào Thường Mộng,

    Rất mong Thường Mộng đưa ra những bằng chứng là tôi đã “rất thoải mái phóng bút,” và cách Thường Mộng định nghĩa “dịch” và “chụp.”

    Nếu thật sự Thường Mộng “không giỏi dang gì” như đã nhận, thì có lẽ cũng nên cẩn trọng hơn khi phát biểu ý kiến của mình. Tục ngữ của ta có câu, “Biết thì thưa thốt, không biết thì dựa cột mà nghe.”

    “Dịch” máy móc từng chữ một chưa phải là dịch thật sự. Quá trình dịch thuật kết hợp kiến thức ngôn ngữ trong bối cảnh văn hóa xã hội với kiến thức văn chương của dịch giả. Do đó, việc dịch theo kiểu Thường Mộng gọi là “một thứ óc não không cần thiết” cũng không khác gì cách dịch tự động của “google translate” và thật ra cũng chẳng tốn nhiều thời gian như cách dịch thoát một văn bản. Nếu Thường Mộng chưa hiểu rõ điều này, xin vui lòng dựa cột thêm ít lâu nữa.

    Còn chuyện “một ông vua cúi mình trước một thi sĩ bịnh hoạn không đứng được thời cũng đúng thôi, [không] có gì ‘văn hiến,’” dù sao cũng “văn hiến” hơn cách Thường Mộng phát biểu ý kiến của mình.

    Trân trọng,

    Đinh Từ Bích Thúy

  • black raccoon viết:

    Chụp

    Chụp đây là tui nói các bức ảnh chụp, được dùng để minh họa cho bài viết. Tui không rõ Đinh Từ Bích Thúy hay vị nào đó trong BBT Da Màu đã chọn lựa và sắp theo thứ tự. Tui muốn nói, sự sắp đặt hình ảnh thật khéo léo. Nếu không muốn nói là có dụng công, có óc nhận xét sự việc và thẩm mỹ.

    Làm một cuộc thí nghiệm nhỏ sẽ thấy ra ngay, giao cho một nhóm 10 người, mỗi người 10 tấm tranh giống nhau. Lần lượt từng người sẽ treo tranh lên trong một căn phòng, theo ý mình. Kết quả sẽ tiết lộ khả năng khuynh hướng nhận xét và thẩm mỹ của từng người.

    Có vài môn nghệ thuật, mà sự “chọn lựa và sắp xếp” rất quan trọng. Như nghệ thuật trang hoàng, thời trang, điện ảnh, phát thanh v.v…

    Tỉ như người đánh cờ. Cũng bấy nhiêu con cờ, cũng bấy nhiêu ô vuông. Tuy nhiên, đại cao thủ chỉ cần di chuyển một bước nhỏ, bàn cờ đã đổi khác.

    Cũng 7 nốt căn bản do re mi fa sol la si mà có người để lại tác phẩm trăm năm, có kẻ chỉ cho ra mớ tạp âm, sống đời thoi … thóp.

    Coi vậy dễ, thực hành không phải dễ!

  • thường mộng viết:

    Chuyện vãn cùng Đinh Từ Bích Thúy,
    Tôi-ngày nhỏ có đọc một quyển sách đại loại như thế nầy: Có một anh nông dân kia,trong nhà có việc buồn phiền, khóc từ trong nhà ra ngoài đường còn khóc, chuyện buồn thường không chỉ có một, ngày đó nhân ngày cả nước hoan hô, anh gặp phải quan cảnh sát:
    - Thằng phản động, cả nước hoan hô, mầy khóc à, nhốt!
    Anh nông dân ngồi tù, tội trạng cũng không có gì to lớn lắm, ngày kia anh nông dân được thả ra-thấy phố, thấy nhà, anh sướng quá, vỗ tay và hát vang một khúc đường-tội cho anh, hôm nay là ngày lãnh tụ chết! Anh gặp lại quan cảnh sát năm xưa.
    Tôi thấy mình cũng giống anh nông dân – khen chê gì cũng “nhốt.”
    Bây giờ, thử tản mạn dăm điều, trong vòng “bánh ít gởi đi”:

    Một bản “dịch”thành công đòi hỏi một trong hai điều-tính trung thực và tính thuyết phục (ngầm). Thái Kim Lan đã viết về tính trung thực (qua cụ Nguyễn Hiến Lê), tôi chỉ viết cho ĐTBT về tính thuyết phục (ngầm). Tôi tin rằng ĐTBT đã đọc qua lời bàn về bản “dịch” “Chinh Phụ Ngâm”- đã được rất nhiều người cho là bản dịch hay hơn nguyên tác!

    Thật sự bản “dịch” nầy không hề hay hơn, nhưng nó đã tạo được tính thuyết phục.

    Tôi viết ĐTBT “rất thỏa mái phóng bút” khởi đi từ mấy dòng trên.

    Tôi tin rằng không chỉ một mình tôi, rất nhiều người đã “đọc” được điều đó.

    Khi tôi viết “một thứ óc não không cần thiết” trong tôi nó là một lời khen tặng, không ngờ đã tạo nên sự hiểu lầm. tôi đã viết ĐTBT “chụp”, tôi hề viết ĐTBT “dịch” hay “chuyển ngữ”; “chụp” thời tốn bao nhiêu “óc não”?!

    “Chụp” thật sự là một nghệ thuật tối cao của “dịch thuật” – rất nhiều người làm công việc “dịch thuật”, nhưng không có mấy người có khả năng “chụp” toàn văn bản, bởi “chụp” đòi hỏi người “dịch” phải uyên áo về văn tự – một thứ máy biến từ – một thứ “công phu” chẳng phải một hay hai năm có thể hoàn thiện…

    Chào Đinh Từ Bích Thúy.

  • Đinh Từ Bích Thúy viết:

    Thưa hai ông Black Raccoon và Thường Mộng,

    Chân thành cám ơn những lời khích lệ của hai ông cho bài dịch và tổng kết các diễn văn Nobel mừng ngày trao giải Nobel đến nhà thơ Tomas Transtromer.

    Thưa ông Thường Mộng–xin ông thứ lỗi nếu tôi đã hiểu lầm chân tình của ông. Có lẽ đã có sự hiểu lầm, từ câu “thỏa mái phóng bút” của ông, bị BBT đổi thành câu “thoải mái phóng bút” trước khi comment đầu tiên của ông được hiển thị, làm tôi đã tưởng rằng mình bị kết tội là quá “hào phóng” trong cách dịch, thay vì luôn phải cân nhắc chuyện dịch làm sao để không “phản” nguyên văn mà đọc vẫn lưu loát trong ngôn ngữ dịch–là tôn chỉ mà tôi hằng ghi nhớ. Mong ông vui lòng bỏ qua.

    Chúc hai ông một năm 2012 mạnh khỏe, vạn an.

    Kính chào,

    Đinh Từ Bích Thúy

  • Trương Đức viết:

    Chị Bích Thúy thân mến,

    Bên Tiền Vệ tôi có đọc được bản dịch “Từ tháng Ba 79″ của Diễm Châu, xin mạn phép tác giả Diễm Châu được trích ra đây:

    TỪ THÁNG BA 79

    Mỏi mệt vì hết thảy những kẻ tới với những chữ,
    Những chữ chứ không phải một ngôn ngữ
    Tôi đã ra một hòn đảo tuyết phủ.
    Nơi hoang dã không có chữ.
    Những trang trắng mở ra khắp phía!
    Tôi bắt gặp dấu vết những móng chân hoãng trên tuyết.
    Ngôn ngữ chứ không phải những chữ.

    (Tomas Tranströmer – Diễm Châu dịch)

    Ai nói gì thì nói, chứ tôi thấy bản dịch của chị “lưu loát” và “thơ mộng” hơn! Bởi vì nếu chỉ xét riêng hai câu thơ dịch này:

    Câu dịch của DC:

    Tôi đã ra một hòn đảo tuyết phủ.
    Nơi hoang dã không có chữ.

    và câu dịch của chị BT:

    Tôi du hành đến hòn đảo phủ tuyết.
    Chốn hoang dã không có chữ
    “,

    thì đối với tôi, câu dịch thứ 2 (câu dịch của chị Bích) hay hơn rất nhiều, bởi vì khi đọc, câu thơ toát lên một sự “vô định mơ màng” gì đó của tâm hồn thơ Tomas như thể đang lai láng (“du hành”, nghe như đang bay vào một chốn hư vô nào đó, còn “đã ra” thì quá cụ thể, không mang tải chất thơ bay bay của… những bông tuyết mùa đông Bắc Âu chẳng hạn. Đấy là tôi chưa nói đến những cụm từ dịch giả Diễm Châu sử dụng một cách “cụ thể mồn một” là: “một hòn đảo tuyết phủ“, hoặc “nơi hoang dã” (chúng ta thường nói “chốn văn chương”, chứ không nói “nơi văn chương” bao giờ cả! :)

    Tất nhiên chúng ta có thể tranh luận sâu hơn, hoặc rộng hơn về một bài thơ cụ thể của nhà thơ vừa đạt giải Nobel Văn chương này, trong một dịp khác, nhưng theo tôi cảm nhận, một trong những đặc điểm riêng và độc đáo của thơ Tomas Tranströmer là tính “mơ hồ tiềm thức” luôn luôn váng vất giữa chữ và hình ảnh (“Chốn hoang dã không có chữ”, phải chăng tiềm thức là một “chốn hoang dã” của tất cả các nhà thơ? Có thể lắm, bởi vì, theo tôi, nơi đó (tiềm thức) đúng thật “không có chữ”!)

    Cuối cùng, vì tất cả những điều tôi vừa trình bày, cá nhân tôi rất mong rằng chị Bích Thúy có thể dành thời gian để dịch tiếp những bài thơ khác của “Ông Già Thơ” người Thụy Điển trông rất đáng yêu này, như một… Ông Già Tuyết, thật!

    Kính chúc BBT Da Màu và tất cả bạn đọc một Năm Mới An Khang Thịnh Vượng! Happy New Year!

    Trân trọng.

    Trương Đức

  • xem viết:

    1.

    Bài thơ Từ Tháng 3, 79 nghe như thơ thiền, gợi nhớ hình ành thiên thư không chữ, sáo thần không lỗ.

    Xin góp một bản phóng tác, nôm na:

    chán đám đông thạo chữ
    chữ không lời
    tôi bỏ ra đảo tuyết
    bốn bề trắng một trang chưa viết
    in dòng chân hươu vừa qua
    không chữ, chẳng lời

    (Câu sáu có thể dịch gần nguyên bản thành “lời không chữ”, “ngôn không ngữ” hoặc “ngôn ngữ không phải chữ” … để đối trọng với “chữ không lời”, “chữ không phải ngôn ngữ”… ở trên. Cách dịch này làm ý dễ hiểu hơn, nhưng có thể biến bài thơ trở thành bài toán, có kết luận như lời giải toán.

    (Trong nguyên bản, có lẽ Tomas viết câu trên và câu dưới như thế để người tây phương dễ hiểu ý niệm “vô ngôn” vốn gần với phương đông hơn. Nếu độc giả của ông đã biết qua về khái niệm không chữ, không lời hoặc không cả mắt tai mũi lưỡi thân ý … có thể câu kết của ông sẽ mở, thay vì đóng.)

    2.

    Thơ của Tomas rất sâu nhưng vô cùng dễ hiểu về ngữ nghĩa. Bài thơ trên cho thấy cách ông làm thơ: Ông không làm thơ bằng chữ!

    Ông không làm phu chữ, không bị bóng chữ đè, không thờ chữ. Ông cũng không chơi chữ, không vặn vẹo, làm dáng, sắp đặt chữ cho ra thơ.

    Tôi thấy không ít nhà thơ rất tài tình, có nhiều chữ, có tiếng nữa, nhưng dường như không ít lần họ “làm chữ”, thay vì làm thơ.

    Khác với các hình thức nghệ thuật khác vốn dựa trên hình ảnh, màu sắc, âm thanh, động tác … thơ văn dựa trên chữ. Nhưng rõ ràng, nhìn theo cách của Tomas, chữ không phải thơ.

Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)