Trang chính » Biên Khảo, Chuyên Đề, Nhận Định, Phụ Nữ & Giới Tính Email bài này

Hệ Lụy của “Phái Đẹp” hay “Đừng Nhìn Em Nữa Anh Ơi!”

 

Những đóng góp từ sáng tác, nhận định, và phản hồi của độc giả cho chuyên đề Phụ Nữ – Giới Tính trên Da Màu cho tôi một cơ hội để nhìn lại vị trí của phụ nữ trong cuộc đối thoại của giới tính, điều nổi bật là cách nhìn phụ nữ như phái đẹp, và vấn đề tính dục hóa hình ảnh phụ nữ như một hình thức phân biệt giới tính. Sự kỳ thị giới tính có mặt thường trực trong tư duy của con người và vận hành một cách vô thức. Nhiều lúc chúng ta phát biểu, hay suy nghĩ, một cách sexist trong khi chúng ta vẫn tự cho mình là người chống đối chuyện kỳ thị, dưới mọi hình thức. Điều này cho thấy chuyện phân biệt giới tính đã được cài cấy vào cách nghĩ của con người, đã ăn rễ sâu xa trong tâm thức đến độ trở thành vô hình, tự nhiên, không hiện hữu. “Lời Giáo Huấn cho Con Gái” của Phan Xuân Sinh, “Đàn Bà là Đồ Chơi của Đàn Ông” của Nguyễn thị Thanh Bình, và những sáng tác khác cho thấy cuộc đối thoại giới tính giữa nam và nữ thường xuyên bị tính dục hóa, hoặc qua hình thức cưỡng hiếp, khống chế, và bạo động, hoặc qua tương quan bất cân xứng về quyền lực. Tất cả nằm trong vấn đề nhìn nhận người phụ nữ ra sao: con người, phái tính thứ hai, kẻ khác (the Other), phái đẹp, đối tượng, mục tiêu… Trong bài “Phút Soi Gương, Nữ Quyền hay Nhân Quyền”, Tiểu Thư đặt câu hỏi: khi nhìn vào gương, bạn thấy mình là một con người trước hay một người phụ nữ trước. Câu hỏi này mang những vấn đề chồng chéo của bản ngã, căn cước, giới tính, nhân quyền, nữ quyền, kinh nghiệm cá nhân, kinh nghiệm tập thể, vv… Trong bài viết này, tôi muốn tập trung về tác động của xã hội lên thân thể nữ và một kinh nghiệm riêng biệt của phụ nữ trong cuộc đối thoại về giới tính: cách xã hội quy định phụ nữ là phái đẹp. Hai chữ này mang những tác động gì lên thân thể nữ và kinh nghiệm nữ?

Trước khi tìm cách phân tích câu hỏi này, tôi muốn tự minh định rằng, có phải câu hỏi này dựa trên tiền đề cái “tôi” là một căn cước trật tự, một chủ thể rõ ràng, một thực thể làm bằng nhiều lớp trước/sau và chúng ta có thể bóc lần lượt từng lớp cho đến khi tìm thấy điều cốt lõi bên trong. Trên thực tế, bản sắc cá nhân mang tính đa diện và đồng hiện, khó có trật tự ưu tiên trong việc đi tìm và nhìn nhận căn cước cá nhân. Tất cả những thứ góp phần hình thành căn cước có thể cùng xảy ra đồng loạt và ùa đến chiếm đóng ý thức, không theo trật tự kiểm soát của tư duy. Cái nhìn của chúng ta về bản ngã cũng thay đổi thường trực theo thời gian, tác động bên ngoài, phát triển tinh thần và biến động nội tâm… Trong “Woman, Native, Other”, Trịnh thị Minh Hà cho rằng cái tôi là những lớp vô tận, vô cùng, là “Tôi và Không phải Tôi” (I and ‘Not-I’) cùng lúc (trang 90-94). “Tôi” chỉ hiện hữu nếu bên cạnh có cái “khác-tôi”. Bản ngã thật xuất hiện từ những khác biệt giữa những thực thể, và ngay trong nội tại thực thể. Bản ngã thật sự là sự hiện diện đồng loạt của những khác biệt đồng loạt. “Sự khác biệt hình thành giữa những thực thể được hiểu như hiện diện tuyệt đối” (trang 90). Khi nhận diện chính mình, tức là nhận diện tính khác biệt giữa mình và mọi người. Một trong những khác biệt là giới tính. Nhìn bản ngã là cùng lúc nhìn vào giới tính. Tôi nhìn thấy tôi là tôi, là cái nhìn của người khác về tôi, là cái tôi của quá khứ, là hình ảnh tôi biết mình có khả năng đạt đến trong tương lai, là phản chiếu mà tôi chiêm ngưỡng hay muốn chối bỏ, là phụ nữ, là người viết, là di dân, là da vàng, là tất cả cùng lúc, không tách bạch được. những phần-cấu-thành-tôi-bên-trong đã đan kết chằng chịt không lần ra đầu mối được. Tôi nhìn tôi như một con người trước hay một phụ nữ trước, không có câu trả lời đơn giản. Tùy thời gian, tùy hoàn cảnh, tùy nhu cầu, mỗi vấn đề có thể đòi hỏi sự quan tâm của tôi sớm hơn, nhiều hơn, cấp bách hơn. Trong thời điểm này, tôi chọn nhìn thấy mình như một người phụ nữ, với tất cả những phức tạp của kinh nghiệm nữ, và muốn “đọc” những kinh nghiệm nữ này bên ngoài cách nhìn của quyền lực vẫn thường áp đặt lên thân thể nữ.

Về nhận định nếu nhìn mình như phụ nữ thì chúng ta chưa thoát khỏi bức rào của nô lệ giới tính, như Tiểu Thư viết, điều này còn tùy thuộc vào cách nhìn phụ nữ như thế nào. Nhìn mình như phụ nữ không nhất thiết là thấy mình như kẻ yếu. Cũng có những cách nhìn khác hay định nghĩa khác về phụ nữ, người phụ nữ nào, lịch sử nào, kinh nghiệm nào, và những kinh nghiệm này khác với kinh nghiệm không thuộc về phụ nữ, hay của nam giới ra sao, vv… Không có kinh nghiệm nào đứng đơn độc, tự hình thành, mà không chịu tác động của những xung lực từ những kinh nghiệm khác. Trong ma trận của hệ thống quyền lực và thống trị, không dạng áp bức nào hoạt động độc lập và tồn tại riêng rẽ, mọi hình thức áp chế đều liên kết với nhau. Chủ nghĩa thuộc địa/tư bản, xã hội phụ hệ, tính cưỡng bách của chế độ hôn nhân dị tính, kỳ thị giai cấp/chủng tộc/ giới tính đan kết nhau tạo thành những liên minh quyền lực chi phối con người. Nhìn mình như một phụ nữ, khác hơn việc khoác danh xưng mademoiselle, còn là nhìn mình trong tập thể, một liên kết, một cộng đồng phụ nữ có chung một phần lịch sử và kinh nghiệm đặc thù mà nam giới không có. Những kinh nghiệm này không thể coi như kinh nghiệm “hạng hai”, đến sau kinh nghiệm làm người nói chung được. Bỏ qua, không nhìn nhận, không nhắc đến những thứ làm nên kinh nghiệm giới tính, cũng là một hình thức làm câm lặng và đàn áp. Kỳ thị giới tính, ngoài việc phân chia nam/nữ theo thành kiến và thứ tự ưu tiên, còn ở một dạng khác khó nhìn thấy hơn, đó là gom mọi kinh nghiệm lại làm một, và bỏ qua những kinh nghiệm đa dạng khác của những tập thể khác kém quyền lực hơn. Kinh nghiệm của phụ nữ, của dân da màu, của những người đồng tính, của thế giới thứ ba sẽ bị gạt đi. Chúng ta lại trở lại nằm dưới kinh nghiệm của tập thể phái nam, da trắng, dị tính, và coi đó như kinh nghiệm phổ quát của chúng ta. Khi nhìn mình như phụ nữ trong gương, tôi cùng lúc thấy những người phụ nữ đi trước tôi, góp phần làm nên tôi hiện tại, với những đấu tranh và những thắng lợi của họ: Rosa Park dành quyền bình đẳng cho tất cả dân da màu, Alice Paul và Lucy Burn đấu tranh cho quyền bỏ phiếu của phụ nữ, Hai Bà Trưng, Bà Triệu của Việt Nam như Nguyễn Hoàng đã nhắc nhở trong phản hồi… Ngay cả khi những kinh nghiệm giới tính là một chuỗi những sự kiện tiêu cực, thì những kinh nghiệm này cũng cần được ghi nhận. Vì những kinh nghiệm này, trước khi là kinh nghiệm của phụ nữ, đã là kinh nghiệm của con người. Nữ quyền cũng chính là nhân quyền, nhân quyền là nữ quyền, và những vấn đề cốt lõi của nhân quyền cũng là quan tâm hàng đầu của phong trào nữ quyền hiện nay: vấn đề môi trường, lao động ở thế giới thứ ba, chủ nghĩa tư bản phụ hệ, chiến tranh, tra tấn tù nhân, y tế và bệnh AIDS, vv…, song song với các vấn đề nô lệ tình dục, mãi dâm, cưỡng hiếp, bạo động, nạn nghèo đói, bất bình đẳng kinh tế/xã hội/chính trị từ những thập niên trước.

*

Giới tính là một dạng bản sắc cá nhân hình thành theo thời gian, không cố định, và mang tính biểu diễn (performative). Chúng ta sinh ra là trai hay gái, nhưng không sinh ra là nam hay nữ với các yếu tố quy định nam tính hay nữ tính, vốn là sản phẩm của xã hội. Khi viết “One is not born, but becomes a woman”, Simone de Beauvoir đã mặc nhận con người sinh ra phi giới tính và khái niệm giới tính chỉ hình thành trong xã hội với những quy định áp đặt lên cách hành xử, cử chỉ, dáng điệu, động tác, vận hành… của một con người. Bắt đầu từ chuyện sinh với giống đực hay giống cái, bộ phận sinh dục nam hay nữ, đứa bé sẽ được gia đình/học đường/xã hội dùng những quy luật của xã hội tác động lên nó, hình thành khái niệm về giới tính nam hay nữ trong tư duy nó. Ngay từ đầu cha mẹ đã có những chọn lựa họ nghĩ là thích hợp với việc uốn nắn đứa bé gái trong việc mang tính nữ: quần áo màu hồng, tã lót in hoa, váy đầm, nơ cài tóc, đồ chơi khuyến khích sự phát triển nữ tính (femininity) như búp bê, đồ hàng… Đứa bé lớn lên tiếp cận với sách vở, phim ảnh, văn hóa đại chúng liên tục chào hàng khái niệm nữ tính và nó sẽ mặc nhiên thu nhận những tiêu chuẩn để định hình bản thân, với các hành động/cư xử lập lại theo một phong cách nào đó. Trên căn bản đặt giới tính là yếu tố xã hội được hình thành trên sự khác biệt về giống (sex), Joan Scott, sử gia và nhà xã hội học, đưa ra bốn khái niệm đan chéo về giới tính: (1) ký hiệu văn hóa để thể hiện giới tính (tên gọi Kiều hay Eva có thể gợi lên nhiều ý nghĩa văn chương, xã hội, lịch sử, tôn giáo), (2) khái niệm chuẩn mực về giới (những khác biệt giữa nam và nữ về dáng điệu, cử chỉ, hành động, hình dáng, vv…), (3) các tổ chức và thể chế xã hội/chính trị quy định vai trò của giới, và (4) căn cước chủ quan (subjective identity) của mỗi cá nhân về giới tính của mình, nhìn thấy mình như là nam, hay nữ, hay giới tính đa diện ngoài nam/nữ (gender queer), cái nhìn này không nhất thiết tương ứng với bộ phận sinh dục trên cơ thể (trang 41-44). Dựa trên khái niệm thứ 4, tính chủ quan của cá nhân về giới tính, con người nhìn chính mình cũng là nhìn vào căn cước giới tính của mình, như đã nói ở trên. Với ba khái niệm còn lại là ký hiệu văn hóa, các chuẩn mực giới tính, và cơ chế xã hội, tôi muốn vận dụng để tiếp cận câu hỏi do Tiểu Thư đặt trong nghĩa thu hẹp của phụ nữ như “phái đẹp”. Và nếu trong nghĩa thu hẹp của từ “phái đẹp”, chúng ta dễ dàng tìm câu trả lời hơn. Những câu hỏi thú vị khác liên tiếp xuất hiện: Tại sao phụ nữ chấp nhận là phái đẹp, những hệ lụy nào đi với phái đẹp, nữ tính ở đâu ra, trò chơi tình dục hóa nữ tính do ai đặt ra? Tại sao mỗi khi tranh luận về giới tính, nữ quyền, những người phụ nữ ít dám nhìn nhận họ là feminist? Tại sao có nhà văn nam ở Pháp tuyên bố rằng hiện nay nữ quyền đã là chuyện lỗi thời? Và tại sao một đạo diễn Việt Nam trong lần chiếu phim “Bi, Đừng Sợ!” ở Đại hội Điện ảnh Việt nam- Thế giới ViFF đã nói, “ở VN không cần đến nữ quyền”?

Ngược lại với cách nói thông thường rằng thân thể là nhà tù của linh hồn, con người- những con người tự do, đang sống trong một nhà tù của chính cái đầu mình. Ý nghĩ giam cầm thân thể, cách chúng ta nghĩ định đoạt cách chúng ta sống. Nhưng tại sao chúng ta nghĩ cách-chúng-ta-nghĩ mà không thể nghĩ khác? Điều gì tác động lên cách nghĩ tưởng như hoàn toàn độc lập, tự chủ, tự quyết của con người? Có thể nghĩ tới Panopticon, mô hình nhà tù lý tưởng của Jeremy Bentham, triết gia và lý thuyết gia Anh cuối thế kỷ 18. Mô hình Panopticon là những phòng biệt giam xây theo hình tròn, tâm điểm của hình tròn là một tháp canh, từ tháp canh người cai tù có thể thấy tường tận bên trong phòng biệt giam. Tù nhân trong phòng biệt giam không thể nhìn thấy người cai tù sau lớp kính một chiều. Mục tiêu của Panopticon là khiến tù nhân luôn ý thức hắn bị theo dõi cho dù trong tháp canh không có người. Cơ chế này cài cấy vào ý thức tù nhân sự thường trực cảnh giác và đặt mình vào khuôn khổ quyền lực, cho tới khi mỗi tù nhân trở thành cai tù của chính mình. Lúc đó người cai tù không cần phải có mặt nữa, vì mỗi tù nhân đã tự động giám sát chính hắn, thường xuyên, theo mệnh lệnh của quyền lực vô hình bao trùm lên hắn. Michel Foucault, trong “Discipline and Punish” khai triển và vận dụng mô thức nhà tù lên toàn bộ những thể chế xã hội khác: quân đội, trường học, nhà thương, công xưởng. Theo Foucault, chủ nghĩa cá nhân và ý thức tự soi cao độ là cấu trúc của phòng biệt giam thời hiện đại. Xã hội hiện đại quản lý con người ở mức vi mô, mọi thứ – thông tin cá nhân và riêng tư, tiểu sử, lý lịch, lợi tức, tình trạng y tế/luật pháp/gia đình – chỉ cần một vài thao tác là hiển hiện trên màn hình điện tử. Con người trong xã hội hiện đại sống theo các thao tác kỷ luật và ý thức về sự trừng phạt lên hắn. Mục đích của kỷ luật là tăng cường tối đa hiệu năng của thân thể, và tạo ra những thân thể dễ sai khiến (docile bodies) cho guồng máy quyền lực. Tính dễ sai khiến là hậu quả của việc áp đặt kỷ luật một cách tính toán và tinh vi, sắp xếp như một hình thức giật dây tinh thần, điều khiển và chi phối mọi cử chỉ, thái độ, hành vi, và ý tưởng của con người. “Thân thể con người dấn thân vào bộ máy quyền lực, bộ máy này khám phá hắn, tháo gỡ hắn ra từng mảnh, và sắp xếp lại hắn. Khoa ‘giải phẫu chính trị học”, còn gọi là ‘quy trình quyền lực’, ra đời: nó vạch rõ phương pháp điều khiển những cơ thể khác theo ý muốn, không những khiến người khác làm theo ý muốn của mình, mà còn thực hành theo ý mình, với kỹ thuật, tốc độ, và hiệu năng mình đề ra. Như thế, kỷ luật sản xuất ra những thân thể thần phục và được luyện tập, những thân thể dễ sai khiến” (Foucault 138).

Sandra Lee Bartky xây dựng trên khái niệm kỷ luật của Foucault để khai triển luận đề “Sự Hiện Đại Hóa Quyền Lực Phụ Hệ” mà hậu quả là nữ tính và tình trạng phụ nữ trong xã hội hiện nay. Trong khi Foucault coi mọi thân thể như một, như thể kinh nghiệm của thân thể nam và thân thể nữ không có gì khác biệt, như thể đàn ông và đàn bà chia xẻ cùng một quan hệ với cơ chế kỷ luật của đời sống hiện đại, Bartky nhận ra rằng người phụ nữ còn bị chi phối và điều động bởi những thứ kỷ luật vô hình khác mà nam giới không phải trải nghiệm, mà chính những kỷ luật này tạo ra “thân thể nữ” và nữ tính của nó. Những kỷ luật này nằm trong sự hiện đại hóa của xã hội phụ hệ. Những thao tác dưới mệnh lệnh của kỷ luật, những tác động cũng như hậu quả được Bartky liệt kê gồm có:

– Những thao tác nhằm uốn nắn cơ thể theo tiêu chuẩn của xã hội hiện đại: vóc dáng nhỏ nhắn, gầy, cao, thanh mảnh, ngực nhỏ, mông hẹp, đùi dài, gần giống như thân thể con trai hay con gái mới lớn. Hình ảnh này được nhấn mạnh qua các thông điệp ăn kiêng, sụt cân, nhịn đói, tập thể dục, giải phẫu thẩm mỹ cắt bỏ những phần “dư thừa”, mặc bikini cho mùa hè… Từ bị bó chân đến bơm ngực, từ mạng che mặt đến thời trang thiếu vải, những khuynh hướng văn hóa và lịch sử tranh giành trên thân thể phụ nữ theo yêu cầu của quyền lực từng giai đoạn. Tôi nhớ đến một đối thoại thú vị về việc phụ nữ Hồi Giáo bị chỉ trích khi đeo khăn choàng đầu, và họ thì cho rằng phụ nữ Tây Phương bị áp lực bằng cách phải khoe ra quá nhiều da thịt trước công chúng, và bị nô lệ hóa bởi các chuẩn mực về phái đẹp. Khi thường trực đối chiếu thân thể họ với tiêu chuẩn đẹp do thông tin đại chúng tạo ra trên các siêu người mẫu, sự so sánh không cân xứng giữa thịt da có thật và hình ảnh biểu tượng được chào hàng như một “image”, người phụ nữ một khi tham gia trò chơi sẽ mang nhiều phần thất bại hơn thành công, sẽ thấy họ không bao giờ đạt được tiêu chuẩn, càng cố gắng càng thấy mình phải cố gắng thêm.

– Những thao tác mang tính biểu diễn như tư thế, dáng điệu, cử chỉ, chuyển động của thân thể nhằm nhấn mạnh tính nữ. Phụ nữ luôn bị giới hạn hơn nam giới trong việc chiếm đóng không gian đi đứng ngồi. Nhỏ nhẹ, dịu dàng, khép nép là những chuẩn mực của nữ tính dễ dàng bị đồng hóa với tuân phục. Ngồi chéo chân, khoanh tay, thu mình, những biểu hiện của phụ nữ đóng gói thân thể họ trong một không gian hạn chế, và họ trông như bị sắp đặt, không hẳn ngồi, mà là ngồi mẫu. Những biểu hiện này tất nhiên còn là biểu tượng của sự duyên dáng, gợi cảm, và gợi dục. Đứng thót bụng, vai hất về sau, ngực đưa tới trước, đi uyển chuyển nhấn mạnh một cách vừa đủ độ tròn của cặp mông… Tất cả những động tác đó, biểu hiện đúng tiêu chuẩn nữ tính theo yêu cầu của xã hội, phát xuất từ thân thể nữ, nhưng trong điều khiển vô hình của quyền lực nào? Người phụ nữ nghĩ rằng họ tự chủ, nhưng chưa hẳn vậy.

– Những thực tập nhằm chuyển hóa thân thể nữ thành thực thể/vật thể trang trí. Bao gồm nhưng không giới hạn trong trang điểm, thời trang, các yêu cầu chăm sóc thân thể như móng tay, móng chân, da, đầu tóc. “Nghệ thuật” trang điểm trở thành nghệ thuật ngụy trang, và tiền đề của nó là phụ nữ nào không trang điểm thì không thể hoàn hảo. Và nếu gọi trang điểm như nghệ thuật, thì theo Bartky, đây là việc vẽ đi vẽ lại một bức tranh sơn dầu mỗi ngày, với rất ít những biểu hiện sáng tạo cá nhân và rất nhiều những quy ước thời thượng. Với những thao tác mang tính cách xâm lấn cơ thể như cạo lông chân tay, lông nách, âm mao, câu hỏi đặt ra: nếu đây là biểu hiện của vệ sinh, hay văn hóa, tại sao chỉ phụ nữ mà không phải đàn ông làm những thao tác này? Và những phụ nữ không khuất phục những thao tác này sẽ bị “trừng phạt”, khi họ ra trước công chúng mặc áo hai dây hay mặc bikini mà không chịu cạo “sạch sẽ”. Tuy không ai nói thẳng vào mặt họ, nhưng ý thức tự soi và kỷ luật vô hình luôn nhắc nhở họ phải làm những thao tác đó. Tất cả những nỗ lực này nhắm đến một cơ thể nữ trơn láng, mịn màng, mềm mại, cho người khác ngắm nhìn. Những sản phẩm dưỡng da, nuôi tóc, căng da mặt… được tung ra thị trường để “nuông chiều” người phụ nữ. Đã qua thời kỳ người phụ nữ bị gò bó trong gia đình, bị bó chân, bị phủ kín. Đây là lúc được “tự do”, tự do chiều chuộng cơ thể vì chúng ta là phái đẹp, tự do làm đối tượng tiêu thụ cho một thị trường sống trên khái niệm “thực thể trang trí”, tự do phơi bày thân thể như hình ảnh trên các tạp chí. Có thật là tự do không? Hay vì chúng ta đã đi vào bộ máy quyền lực và tự giác tuân theo những mênh lệnh kỷ luật của nó?

Trong một xã hội mà thể chế hôn nhân/quan hệ dị tính được coi là chuẩn mực, người phụ nữ cảm thấy cần thiết phải trở nên đối tượng của nam giới, là mục tiêu săn đuổi của nam giới, và cùng lúc thỏa mãn ý thích của nam giới. Trong xã hội hiện đại, chế độ gia trưởng phụ hệ đã chuyển mình và ngụy trang dưới những hình thức khác tinh tế hơn. Không còn là quyền lực hiển thị như cạo đầu bôi vôi, mà là cái nhìn vô hình từ tháp canh của nhà tù lý tưởng. Cái nhìn nam tính từ tháp canh luôn theo dõi mọi hành vi, động tác, từng vùng cơ thể riêng tư nhất cũng bị điều động bởi mệnh lệnh. Cái nhìn chiêm ngưỡng hay đánh giá của đối tượng nam luôn nằm trong ý thức của người phụ nữ. Họ sống trong cơ thể luôn bị soi chiếu dưới cái nhìn của quyền lực, đây là quyền lực của xã hội phụ hệ, hôn nhân dị tính, và nam giới.

Chế độ phụ hệ đã được hiện đại hóa dưới hình thức mới trong việc áp chế người phụ nữ: đặt để ý thức về sự thường trực có mặt của “cái nhìn”, chính cơ chế này đảm bảo việc tự động vận hành của quyền lực, ngay cả khi cái nhìn không xuất hiện. Quyền lực và kỷ luật giám sát này đến từ mọi nơi, và không từ nơi nào cụ thể, đến từ mọi người và không người nào nhất định. Kỷ luật xâm chiếm cơ thể phụ nữ, mỗi người trở thành cai tù của cơ thể họ. Người phụ nữ tự nguyện cư xử với những động tác theo đúng mệnh lệnh, mà không hề ý thức rằng mình đang làm theo mệnh lệnh. Bartky nhắc nhở rằng kỷ luật mà xã hội áp đặt lên cơ thể nữ cũng hai chiều như thế, một mặt không ai dí súng hăm dọa và cưỡng bách người phụ nữ phải thường trực ý thức về nhan sắc và ngoại hình, mặt khác chúng ta không ngừng thán phục, chiêm ngưỡng và ca tụng những sáng kiến độc đáo trong nghệ thuật nhằm hoàn chỉnh vẻ đẹp của phụ nữ. Những thao tác thực tập mang tính kỷ luật hóa bản thân tạo ra một sản phẩm nữ tính, là một thân thể nữ mang các thuộc tính thần phục, tuân thủ, theo tiêu chuẩn, hiền lành và vô hại trong việc đồng lõa với nam giới, hệt như cách quân đội rèn luyện binh sĩ. Tuy vậy, cơ thế vận hành này hoạt động trong một quy mô bao trùm hơn hẳn nhà tù, hay quân đội; vì nó không mang một hình thể cấu trúc nhất định nào. Chính sự “thiếu vắng” những mệnh lệnh đe dọa hay ép buộc tạo cho chúng ta một ảo tưởng rằng sản phẩm nữ tính mà phụ nữ khoác trên mình là hoàn toàn tự nhiên, hay tự nguyện.

Nữ tính trong xã hội phụ hệ hiện đại là một sản phẩm đã bị tính dục hóa cho các mục tiêu tình dục, kinh tế, chính trị, nhằm duy trì và củng cố ưu thế của nam giới. Trong quan niệm sự hiện hữu của thân thể nữ là để chiều lòng, khích động, hay thỏa mãn đối tượng nam, người phụ nữ sẽ luôn mang mặc cảm thiếu hụt, khiếm khuyết, bất toàn, lệ thuộc. Sự điều khiển các thao tác cơ thể sẽ đưa đến việc chiếm đóng ý thức. Chúng ta đã bị hao tổn rất nhiều cho các thao tác này, tiền bạc và thời gian người phụ nữ phải dành để chăm lo thân thể, năng lực và ý chí phải tập trung để tuân phục kỷ luật, trong khi đó nam giới tiếp tục thống trị thế giới. Nhiều thứ góp lại để hình thành phái tính thứ hai (the second sex) mà de Beauvoir đã khẳng định. Chúng ta bị trở thành phụ nữ, bị mang nữ tính, bị làm phái đẹp. Người phụ nữ, một khi nhìn nhận tính áp bức trong những thông điệp dành cho họ, nhìn nhận khuynh hướng công cụ hóa thân thể nữ của họ, bước kế tiếp họ sẽ tự khẳng định hình ảnh và giá trị của họ. Nếu phụ nữ không cần phải đẹp, hoặc nếu họ đẹp theo định nghĩa của chính họ, thì lúc soi gương họ sẽ chỉ thấy chính mình, không phải mình-như-kẻ-khác (the Other). Trong chuyên đề lần này, tôi đặc biệt ưa thích bản dịch “Nhất Định Không Nhìn Thấy Đàn Bà Đẹp” của Mark Halliday do Lê Đình Nhất Lang chuyển ngữ. Có nhiều cách diễn dịch về tính feminist trong thái độ của nhà thơ: không nhìn đàn bà đẹp vì cái đẹp đã bị vật chất hóa bởi chủ nghĩa tiêu thụ và quyền lực (nhẫn kim cương, xe hơi, thời trang, những chuyến du lịch, chức vụ phó chủ tịch), không nhìn đàn bà đẹp vì cái đẹp đã “giảm thiểu” người phụ nữ như vật thể trang trí và đối tượng tình dục (da thịt, áo tắm hai mảnh), hay vì khái niệm cái đẹp “siêu phàm” luôn luôn là “bất khả” cho đa số phụ nữ. Cũng có thể hiểu nhà thơ không đủ khả năng để “sở hữu” những người đẹp và đây chỉ là một “chọn lựa bắt buộc” mang tính mỉa mai. Tuy nhiên, về phía mình, tôi muốn tin rằng nhà thơ từ khước cách nhìn phụ nữ như phái đẹp, để nhìn họ đúng như một con người.

—————

Tài liệu tham Khảo:

– Trịnh thị Minh-Hà, “Women, Native, Other” (Bloomington and Indianapolis: Indiana University Press, 1989)

– Joan Scott, “Gender and the Politics of History” (New York: Columbia University Press, 1996)

– Michel Foucault, “Discipline and Punish”(New York: Vintage Books, 1979)

– Sandra Lee Bartky, “Foucault, Femininity, and Patriarchal Power” trong tuyển tập Feminist Theory Reader: Local and Global Perspectives do McCann, Carole và Seung-kyung Kim biên soạn, 404-418. Second Edition. (NY: Routledge, 2010)

bài đã đăng của Đặng Thơ Thơ


2 bình luận »

  • black raccoon viết:

    Thông thường, người ta gọi phái đẹp là phụ nữ và phái mạnh là đàn ông.
    Tui chả thấy có vấn đề gì khi gọi như vậy cả. Đó chỉ nhằm nhấn mạnh điểm đặc biệt của mỗi phái. Điểm đặc biệt chưa hẳn là là điều độc quyền.

    Có gì mềm bằng giọt nước. Nhưng nước chảy đá mòn. Cánh lá mầm mềm nhũn lại xé rách mặt đất chui lên. Đàn bà là phái đẹp, nhưng chính đàn ông lại xuất sắc trong vai trò tô điểm hồng nhan. Đó, mấy nhà tạo thẩm mỹ thời trang.

    Cho tới thời điểm này, về mặt thể lực, phụ nữ tham dự hầu hết các môn thể thao tranh tài. Tuy vậy, vẫn không thể có sự tranh tài cho hỗn hợp nam nữ trên rất nhiều môn. Trời sanh vậy thôi. Làm sao tranh hùng cho được giữa người nam và người nữ trong môn chạy đua?

    Vậy mà, trong lĩnh vực quyền năng chính trị, có không ít mấy bà lãnh tụ “thép” khét tiếng trên thế giới. Như mấy bà thủ tướng Anh, Đức, Do Thái, Ấn Độ, hay Đài Loan hiện tại có bà Lai Shin Yuan Chủ Nhiệm Hoa Lục Hội, nhứt quyết không nói chuyện với TQ trong thế yếu.

    Yếu hay mạnh, đẹp hay không đẹp chưa phải là một sự khẳng quyết. Con người sẽ có thể thể hiện hoàn hảo trong cách thế vốn dĩ của mình.

  • Trangđài Glassey-Trầnguyễn viết:

    Định chế, hệ luỵ, nô lệ hoá… Cám ơn những tư tưởng thẳng thắn của Đặng Thơ Thơ, cởi bỏ gánh nặng ngàn đời cho những người dám chọn tự do cho mình.

Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)
porn ficken russian porn japanese porn watch porn watch sex izle sex izle anal porn tube amateur porn watch