Trang chính » Biên Khảo, Chuyên Đề, Dịch Thuật, Phỏng vấn Email bài này

Hãy luôn khao khát, hãy cứ dấn thân: trò chuyện với Đinh Từ Bích Thúy về dịch thuật (phần 2)

 

text-alan-taylor-jeffries

Alan Taylor Jeffries, Text (Văn Bản)

 

Câu 3:

LTT: Thật ra, riêng về chuyện dịch thoát hay dịch sát, Nguyễn Hiến Lê cũng có cho biết: “Nếu ta thiên về khảo cứu thì phải dịch sát, nếu thiên về văn chương thì có thể dịch thoát.”

Rất thú vị qua dẫn chứng của ĐTBT về cách dịch câu “Call me Ishmael.” Về cách dịch để biểu lộ đặc điểm văn hóa lịch sử của nguyên bản, NHL cũng nhấn mạnh về “cái nét riêng của mỗi dân tộc có cách phô diễn tư tưởng riêng và có ngôn ngữ riêng với các đặc điểm riêng của nó. Lại thêm, mỗi tiếng có nhiều nghĩa và phải lựa cái nghĩa hợp với bài mà dịch.” (2)

Đúng như ĐTBT cho biết “Sự tự mãn và cách làm việc máy móc của người dịch chính là những yếu tố giảm phẩm chất của một bản dịch.” Trong bài nghị luận “Ngũ Đại Sử Linh Quan Truyện Luận”, Âu Dương Tu có nhắc lời trong Kinh Thư: “Mãn chiêu tổn, khiêm thụ ích” và Nguyễn Hiến Lê dịch: “Kinh Thư nói:” Tự mãn thì tổn hại, khiêm hư thì được tăng ích.”(3) .

Thường thì ĐTBT chọn thể thơ nào trong tiếng Anh để dịch thơ Việt? Việc chuyển từ thể thơ này ra thể thơ khác ĐTBT có gặp nhiều trở ngại lắm không?

 

green-rice-thuy-paperback-cover-art

 

ĐTBT: Trước đây, khi Thúy cộng tác dịch thơ lần đầu với nhà thơ Martha Collins cho tuyển tập Cốm Non (Green Rice) của chị Lâm thị Mỹ Dạ, một số các bài thơ trong tuyển tập này–vì có một không khí tĩnh lặng, gần như cổ truyền, đã được chuyển tải sang thể thơ sonnet trong tiếng Anh, là thể thơ có 14 dòng, có 8 đến 10 âm tiết mỗi dòng, theo vần cuối dòng, hoặc cách dòng. Hai bài Gặt Đêm (Night Harvest) và bài Hương Vườn (Garden Fragrance) là hai bài khá nổi tiếng, và được hai nhà thơ Mỹ là Robert Pinsky (nhà thơ danh dự của Mỹ năm 1997-2000) và Edward Hirsch yêu chuộng.

Tuy chuyện phải tìm một thể thơ trong Anh ngữ để tương xứng với các thể thơ như thể lục bát, song thất lục bát, thơ năm chữ, sáu chữ, bảy chữ, tám chữ v.v… trong tiếng Việt không phải là điều cốt yếu, trong một vài trường hợp nó làm cho bản dịch được sát hơn với nội dung và tình cảm của nguyên bản. Vì hồn thơ của Lâm thị Mỹ Dạ có nhiều màu sắc dân gian, sâu sắc và trữ tình, thể thơ sonnet đã được coi là tương xứng nhất với phần đông thơ của chị.

 

feminist-muse

 

Những trở ngại, khó khăn trong quá trình dịch thuật thường liên hệ đến các danh từ về thực vật hoặc trái cây, vì khí hậu và cây cỏ của Việt Nam khác nhiều với môi trường miền lục địa Bắc Mỹ. Thí dụ điển hình nhất là bài “Hai Sắc Hoa Ti Gôn” của T.T.K.H mà Thúy và bà Martha dịch cho tuyển tập Nàng Thơ Ngạo Mạn: Thi Ca Phụ Nữ Việt Nam từ Thượng Cổ Đến Hiện Đại (The Defiant Muse: Vietnamese Feminist Poems from Antiquity to the Present). Bài này nói đến loại hoa ti-gôn, từ chữ antigone xuất phát từ văn chương Thượng Cổ Hy lạp về huyền thoại Antigone là con gái vua Oedipus – hậu quả của cuộc hôn nhân loạn luân giữa Oedipus và mẹ là Jocasta. Tuy nhiên, trong tiếng Anh, hoa ti-gôn có tên là “Queen’s Wreath,” cho nên tựa bài thơ này được Thúy và bà Martha Collins dịch sang tiếng Anh là “Queen’s Wreath in Two Colors.”

Hoa quỳnh cũng là một loại hoa mà Thúy phải khảo cứu trước khi khám phá rằng trong tiếng Anh, hoa được gọi là “Night-Blooming Cereus,”một loại hoa liên hệ đến xương rồng, và còn có tên trong tiếng Tây Ban Nha là “Hoàng hậu của Đêm” (Reina de la Noche).

Ở tuyển tập Cốm Non, trong bài thơ “Bạn Gái,” cách Lâm thị Mỹ Dạ tả những người bạn thân của chị – có những đặc tính “rạng rỡ như trái gấc,” “thảo thơm sắc thị nhà,” “góc cạnh như quả khế” và “sầu riêng sau gai góc” – rất linh động nhưng khó dịch thoát sang tiếng Anh. Vì người Việt biết quả gấc là quả có màu sắc tươi, đỏ, câu “rạng rỡ như trái gấc” rất tượng hình, nhưng trong tiếng Anh, “bright as red monordica” có lẽ không cho người đọc một ý niệm rõ rệt nào cả, vì ở Mỹ, không ai biết quả “monordica” là quả gì. Đây có lẽ là một vấn đề về ngôn ngữ mà bà Martha Collins và Thúy có lẽ không/chưa giải quyết được.

Hai câu:

Sầu riêng sau gai góc
Niềm đau tỏa hương trời

mà Thúy và bà Martha Collins dịch sang tiếng Anh là:

The durian behind its thorn
Exudes an unearthly scent

cũng biểu lộ giới hạn của ngôn ngữ dịch. Tuy câu thơ trong Anh ngữ diễn tả được hình dạng và mùi quả sầu riêng, nó chưa bộc lộ được ẩn nghĩa của câu thơ, là nỗi buồn vừa u uất, vừa mãnh liệt như mùi sầu riêng. (Người Việt mình có câu “buồn thúi ruột.”) Chính chữ “durian” cũng không bày tỏ được nghĩa bóng của “sầu riêng”- là nỗi buồn không chia sẻ được với ai.

Một thử thách nữa là những điển tích, địa danh trong lịch sử Việt Nam. Một bài thơ sẽ gây dị ứng cho người đọc nếu có quá nhiều chú dẫn (footnotes). Tuy nhiên, một bài thơ cũng sẽ làm nản lòng người đọc nếu có những khái niệm, dữ kiện văn hóa lịch sử không được tác giả hoặc dịch giả giải thích. Theo Thúy được biết, bài thơ “Bên Tượng Mỵ Châu” của chị Mỹ Dạ (được dịch bởi Nguyễn Bá Chung và Martha Collins) là một bài tương đối khó dịch vì độc giả Mỹ không biết điển tích Trọng Thủy Mỵ Châu mà phải đoán từ nội dung bài thơ. Trong bài, “Kinh thành Ốc” nếu chỉ dịch là “Ốc Royal City” thì độc giả Mỹ sẽ không hình dung ra được, vì vậy giải pháp đã là, “the spiraling city of Ốc” (thành phố (hình) xoắn tên là Ốc).

Tuy thực vật, dữ kiện lịch sử, và địa danh văn hóa là những vấn đề cho người dịch nói chung, nếu chỉ nói chuyện dịch thuật liên hệ đến văn chương Việt, thử thách lớn nhất vẫn là khuynh hướng của độc giả Tây Phương về khái niệm “Việt Nam.” Đối với người Mỹ, chiến tranh Việt Nam thường chỉ bao gồm hai quan điểm, Mỹ và người Cộng sản. Văn chương miền Nam, ngoài một vài truyện ngắn của Nhã Ca, Võ Phiến, và Thảo Trường đã được dịch sang tiếng Anh, phần lớn vẫn chưa có sự hiện diện trong giòng chính. Ngay cả cụm từ “chiến tranh Việt Nam” cũng vẫn gây nhiều tranh cãi. Trong bản thảo bài giới thiệu cho Cốm Non, bà Martha Collins lúc đầu đã viết, “Green Rice, like Lâm thị Mỹ Dạ’s writing career itself, begins in the American War.” (“Cốm Non, như sự nghiệp văn chương của Lâm thị Mỹ Dạ, bắt đầu vào thời chiến tranh (chống) Mỹ.”) Khi Thúy trình bày với bà rằng đối với người miền Nam, “American War” thật ra được gọi là “chiến tranh Việt Nam,” và như vậy chữ “American War” không có nghĩa nhất định, mà tùy vào quan điểm của mỗi nhân chứng của cuộc chiến. Về sau, câu văn trên của bà Martha Collins đã được sửa lại, và xuất hiện trên bản in (năm 2005) là, “Green Rice, like Lâm thị Mỹ Dạ’s writing career itself, begins in what Americans call the Vietnam War.” (“Cốm Non, như sự nghiệp văn chương của Lâm thị Mỹ Dạ, bắt đầu vào thời điểm mà người Mỹ gọi là chiến tranh Việt Nam.”) Dĩ nhiên, câu sửa lại vẫn chưa là một giải pháp ổn thỏa.

Qua cái nhìn của phần đông giới hàn lâm và văn nghệ sĩ Mỹ, những bài thơ của các nhà thơ phụ nữ trong nước được đề cao là có khuynh hướng “nữ quyền” vì chúng biểu hiện tinh thần tranh đấu cho độc lập tổ quốc. Sự chú ý của giòng chính Hoa kỳ đến thi ca Việt Nam vì vậy trở thành một con dao hai lưỡi. Ở một đằng, nó sẽ tạo cơ hội cho nhiều tác phẩm văn học của Việt Nam được dịch sang tiếng Anh. Ở mặt khác, sự chú ý của giòng chính đơn giản hóa tâm trạng đa diện và u uẩn của người phụ nữ Việt, hiện vẫn còn chịu đựng những hậu quả của chế độ phụ hệ. Tóm lại, văn chương Việt trong Anh ngữ chưa cho độc giả Tây Phương vượt qua “vấn nạn Việt Nam.”

Thi ca phụ nữ trong bối cảnh Việt Nam xã hội chủ nghĩa vẫn là thể loại thi ca bị chế ngự bởi chính sách của các lãnh tụ đàn ông—Marx, Engels, và Hồ Chí Minh. Sự “ngạo mạn” của người nữ trước những tai ương của chiến trận nghĩ cho cùng chỉ là sự quy phục trước ý tưởng hệ, hoặc là sự chấp nhận số phận vì cái chết đã trở thành một cái gì quá quen thuộc trong đời sống. Trong bài thơ “Gặt Đêm” của Lâm thị Mỹ Dạ, người đọc cảm nhận sâu xa nỗi kinh khiếp của chiến tranh vì nó đã trở thành quá hiển nhiên:

Màu vàng bom bi lẫn trong màu vàng của lúa
Bom nổ chậm không làm ta sợ nữa
Bao năm chiến tranh lòng đã quen rồi
Nào chị em mình gặt đi thôi

Trong quyển The Making of A Sonnet, Nhà thơ Edward Hirsch của Mỹ khen bài thơ “Gặt Đêm” vì nó thể hiện tinh thần “nhẫn nhục, đùa cợt, và hoàn toàn không sợ sệt” (stoic, playful and completely unafraid) của phụ nữ Việt Nam. Có lẽ ông muốn nói đến hai câu thơ lục bát cuối trong bài thơ:

Đạn bom rơi chẳng sợ đâu
Chỉ e sương ướt mái đầu lá chanh
.

Đối với Thúy, hai câu thơ cuối bao hàm nhiều ẩn ý phức tạp và khó dịch thoát. Tùy cách hiểu của người đọc, nó có thể là hai câu thơ có đôi chút mai mỉa, tương phản sự nghiêm trọng của đạn bom với chuyện người phụ nữ gặt đêm lo sương thấm ướt mái đầu vừa gội với lá chanh của nàng. “Chẳng sợ [bom]” đây không có nghĩa là “hoàn toàn không sợ bom,” mà ngụ ý rằng vì chuyện bom đạn là điều xảy ra thường ngày và không thể ngăn ngừa, người phụ nữ chỉ còn tâm trí lo chuyện nhỏ, là chuyện sẽ bị ốm vì sương làm ướt đầu, hoặc vì sương làm tóc hết thơm mùi lá chanh. Có lẽ vì tiếng Anh là một ngôn ngữ cụ thể hơn tiếng Việt, hoặc vì khả năng của người dịch chưa đạt, cho nên hai câu thơ trong bản Anh ngữ của Thúy và bà Collins đã trở thành một sự khẳng định, mất đi một phần nào cái ý nghĩa phức tạp của nguyên bản:

We are not frightened by bullets and bombs in the air
Only by dew wetting our lime-scented hair.

Câu 4:

LTT: Dịch nghĩa thì thường dễ, diễn cái hồn trong thơ càng khó hơn vì cái hồn không phải chỉ trong các chữ, mà còn ở cách sắp đặt bài thơ, ở cách các ý tứ ràng buộc với nhau.”(4)

ĐTBT có lần nào gặp phải các tình huống khó khăn ấy không? Nếu có, thì thường thường ĐTBT giải quyết như thế nào?

ĐTBT: Theo cách Thúy hiểu câu anh trích ở trên, người dịch không bao giờ thỏa mãn với công trình dịch của mình. (Xin xem thí dụ Gặt Đêm ở trên). Như một văn bản, việc dịch thuật, và cái nhìn của người dịch, cũng biến chuyển với thời gian. Do đó quá trình dịch thuật là một quá trình mâu thuẫn: quá trình này không bao giờ chấm dứt, chính vì một bản dịch không bao giờ là một bản dịch bất diệt. Một bản dịch sẽ bị “diệt” và được “hồi sinh” lại qua nhiều quãng đời và nhiều không gian, để chứng minh cái vô biên của văn bản. Cái vô biên của văn bản là chuyện không thể tách rời phần “nghĩa” ra khỏi phần “hồn” của một bài thơ. Đồng thời “nghĩa” và “hồn” của một bài thơ cũng không phải là hai yếu tố bất di bất dịch.

Bây giờ đọc lại bản dịch của Cốm Non, gần 7 năm sau khi tác phẩm được xuất bản, và 12 năm sau khi Thúy khởi sự dịch thơ Lâm thị Mỹ Dạ, Thúy thấy rằng có một vài bài thơ nên được đọc lại hoặc tu sửa lại, vì nó nêu ra những vấn đề mà lúc trước, do sự thiếu kinh nghiệm, Thúy đã chưa nhìn thấy.

Hình như Thúy có duyên dịch các nhà thơ người Huế. Thúy đã dịch thơ Lâm Thị Mỹ Dạ, Nhã Ca, Trịnh Công Sơn, Thường Quán và hiện nay vừa dịch xong bài thơ “Từ Một Cuống Rún” của Nguyễn thị Thanh Bình. Có lẽ dịch bài “Tình Sầu” (“Meditations on Love”) của Trịnh Công Sơn là một trong những kinh nghiệm thử thách nhất.

Nói chung thì Thúy thích âm điệu giọng Huế, và nhân sinh quan rất đa cảm, lãng mạn của người Huế. Người Mỹ có câu “opposites attract” (những con người/trạng thái đối nghịch thường đến với nhau). Có lẽ Thúy đã tìm đến những nhà thơ Huế vì qua quá trình dịch, Thúy mong được hấp thụ tinh thần thơ của người Huế vào bút pháp của mình. Nhưng phải nói những nhà thơ Huế là những nhà thơ khó dịch nhất. Ngôn ngữ của các nhà thơ này đượm màu sắc vô thức, huyễn hoặc của Thiền, và không dễ bị lô-gích áp đảo. “Tình Sầu” rất khó dịch vì ca từ không theo cấu trúc nhân quả (cause and effect) theo khuynh hướng Tây Phương. Ngay câu đầu của bài đã là một thử thách, và như anh biết, đã gây nhiều tranh cãi trong giới học giả, dịch giả:

Tình yêu như trái phá. Con tim mù lòa.

Thúy đã dịch câu này là: “Love as an artillery shell that blinds the heart.” Nhưng hiện nay thấy rằng “trái phá” không phải chỉ là “artillery shell” hay “bomb” hay “lựu đạn,” mà cũng có thể là “trái cấm,” tạo dựng bởi thiên nhiên hoặc theo chu kỳ tuần hoàn của thiên nhiên. Chuyện “con tim mù lòa” như một mệnh đề độc lập, hay song song với “tình yêu như trái phá” đã được các học giả Thái Kim Lan, và Bùi Vĩnh Phúc thảo luận, nên Thúy sẽ không lập lại ở đây.

Câu 5:

LTT: Trong bài “Tuệ Sỹ, điệp khúc dương trần,giáo sư Đặng Tiến có viết: “Thơ gì, thơ ai, thơ nước nào, trong ngôn ngữ vẫn là một thứ ngoại ngữ; người đọc một bài thơ trong tiếng mẹ đẻ là đã dịch bài thơ ấy ra ngôn ngữ của riêng mình – [g]ọi là tiếng lòng.”(5) Bạn nghĩ sao về nhận định này?

ĐTBT: Thưa anh, Thúy đã đọc bài viết này và nghĩ rằng ông Đặng Tiến muốn nói đến sự bất khả thi của dịch thuật trong trường hợp Tuệ Sỹ. Theo Đặng Tiến, thơ của Tuệ Sỹ sẽ mất đi “nghệ thuật thuần túy” của kiến trúc ngôn ngữ “lấp lánh ánh sáng tâm cảm … trầm tư và huyễn mộng” nếu được chuyển tải sang ngoại ngữ, vì dịch thuật chính là diễn giải, sẽ mang vào văn bản của Tuệ Sỹ “tạp chất lẫn lộn nhiều ngoại tố.” Đặng Tiến nói “[đ]ưa lời thơ Tuệ Sĩ vào ngôn ngữ thế tục e dễ thành dung tục” vì theo ông, thơ Tuệ Sỹ đã “thăng hoa, thành một siêu thức.”

Tuy vậy, ngay chính trong bài, Đặng Tiến cũng nhận xét rằng “Ngôn ngữ của ai đi nữa thì cũng mang sử tính. Thơ thiền sư làm bằng ngôn ngữ hàng ngày vẫn vang âm xã hội và lịch sử.” Có lẽ Đặng Tiến đã cố ý nêu lên sự mâu thuẫn này để diễn tả đặc tính vô thường nhưng cũng thật phổ quát trong thơ của bậc cao tăng. Sự mâu thuẫn trong chính cách lập luận của Đặng Tiến đã phản ảnh nỗi nghi vấn, như một cánh cửa mở: nghệ thuật thuần túy trong thơ Tuệ Sỹ vẫn có thể “băng qua” biên giới ngôn ngữ, vượt ra khỏi khuôn khổ tiếng mẹ đẻ, vì những băn khoăn của Tuệ Sỹ cũng là những băn khoăn chung của con người.  Đặng Tiến ở cuối bài cũng đã nhận xét, “tất cả thi ca trên cõi trần này biết đâu chẳng là ảo giác của ảo giác ?”) Thể chất “pur” của thi ca Thiền trong tiếng Việt không phủ nhận đặc điểm hoàn cầu của nó. Nếu lời nhận định của Đặng Tiến không được hiểu theo nghĩa rộng, thì e rằng sẽ không bao giờ có một nhịp cầu giao cảm giữa Việt ngữ và các ngôn ngữ khác, giữa Tuệ Sỹ và các độc giả ngoại quốc của thầy. Thúy cũng không nghĩ sự cô lập trong cái “nguyên sơ siêu thức” là nguyện vọng của Tuệ Sỹ.

Câu 6:

LTT: Một người già không am hiểu ngoại ngữ như tôi, tôi nghĩ đọc một quyển sách ngoại ngữ Anh hoặc Pháp mà hiểu được ý chính trong sách đã khó, còn cảm được cái hay trong sách về nội dung và chữ dùng cùng cách viết lại càng khó gắp vạn lần. Hồi còn nhỏ, lúc học trung học đệ nhất cấp tôi chỉ đọc được vài quyển truyện tiếng Pháp thuộc loại bỏ túi như Contes Du Lundi của Alphonse Daudet (Hachette: 1952), Les Misérables của Victor Hugo (Hachette: 1950) …, ngoài ra không biết đọc sách gì cao hơn, nên buộc lòng tôi phải đọc sách dịch; nhưng qua sách vở bàn về dịch thuật mà tôi đọc được thì có nhiều trường hợp các dịch giả cũng dịch sai vài chỗ trong các bản dịch ấy. Với hoàn cảnh của cá nhân tôi như vậy, với tư cách là một người từng trải trong dịch thuật và thông suốt ngoại ngữ như ĐTBT, bạn sẽ khuyên tôi tin vào các sách dịch chừng mấy mươi phần trăm? Và nếu cần khuyên các bạn trẻ sau này bước vào công việc dịch thuật văn chương Việt ra ngoại ngữ hoặc dịch các tác phẩm viết bằng ngoại ngữ ra tiếng Việt, ĐTBT sẽ khuyên họ những gì ?

 

Contes-du-Lundi-alphonse-daudet

 

ĐTBT: Sự khiếm khuyết của một bản dịch không ngăn ngừa tinh thần khai phá của độc giả, và cũng không giảm đi cái đẹp, cái hay của nguyên bản. Cho dù các bản dịch của Les Misérables, Chiến Tranh và Hòa Bình, Madame Bovary, v.v… bất cứ trong ngôn ngữ nào không được hoàn hảo đi nữa, Thúy nghĩ một độc giả vẫn nhận ra cái tuyệt tác thần sầu của tác phẩm và tác giả. Dịch không phải là diệt. Dịch là bay, là mở, là nhận. Dịch thuật, như cuộc sống, là một quá trình tiến hóa.

 

Les-Miserables-Victor-Hugo

 

Thúy không dám nhận mình là một “người từng trải trong dịch thuật và thông suốt ngoại ngữ” như anh đã khen. Hậu quả của kinh nghiệm di dân là tâm trạng bất an, không cảm thấy mình hoàn toàn thuộc về một văn hóa nào cả, và như vậy, không thể “thông suốt” trong ngôn ngữ. Một người dịch luôn là một người du hành trong cuộc hành trình mới, một tay novice mới vào nghề, một con người thích mơ mộng. Jacques Prévert, trong đoản kịch thơ L’Accent Grave nhại câu hỏi căn bản của Hamlet, thay vì être ou ne pas être (hiện hữu hay không hiện hữu), nhà thơ đổi lại là être òu ne pas être (hiện hữu nơi không hiện hữu) – đây cũng nên là châm phương của một người dịch. Một người dịch nên luôn luôn cởi mở, sáng tạo, và dạn dĩ trước mọi thử thách ngôn ngữ, và đừng nản lòng nếu bị ai đó chỉ trích là mình đã dịch sai, hoặc hiểu sai, vì công trình dịch thuật, như Thúy đã nêu lên ở trên, là một công trình không bao giờ chấm dứt. Lời khuyên của Steve Jobs, “Hãy luôn khao khát. Hãy luôn [dấn thân],” tưởng cũng có thể áp dụng được cho công trình dịch thuật.

Vì dịch cũng là đọc, một người dịch trên hết nên đọc nhiều, đọc rộng các thể loại văn chương. Kiến thức đọc giúp nguời dịch hiểu thêm về cấu trúc, ngữ pháp, và ký hiệu ngôn ngữ. Nó cũng giúp người dịch tuyển chọn các tác phẩm hợp xứng để chuyển tải cho khán giả/môi trường văn hóa của mình.

Câu 7:

LTT: Khi chọn các bản dịch thơ và văn xuôi từ các dịch giả khắp nơi gởi tới, Ban Biên Tập Da Màu (BBT) chắc chắn sẽ dựa vào một số tiêu chuẩn cần thiết nào đó để chọn lựa bài cho lên trang báo. Là một trong những thành viên của BBT, ĐTBT có thể chia sẻ một cách sơ lược về cách chọn lọc này? BBT có lần nào đặt ra trường hợp dịch giả quen và chưa quen không?

ĐTBT: Thông thường Da Màu chọn những bản dịch tương đối chuẩn, không cần nhiều sửa chữa. Da Màu thường chỉ góp ý về những điểm biên tập tương đối nhỏ. Nếu bài có quá nhiều lỗi về cách dịch, Da Màu sẽ yêu cầu người dịch gửi lại bản mới. Cũng có vài trường hợp Da Màu “đặt hàng” những bản dịch cho số chuyên đề, nhưng thông thường đề tài dịch hoặc tác phẩm dịch là do quyết định, sở thích của người dịch. Da Màu không phân biệt giữa dịch giả “quen” và “lạ,” mà chỉ chú trọng đến phẩm chất và tiêu chuẩn, sự thích hợp của bản dịch cho độc giả Da Màu. Những bản dịch liên hệ đến chuyện thời sự văn học chính trị, vì yếu tố thời gian, nhiều lúc được đăng trước những bản dịch văn chương. Thông thường bản dịch các bài thơ sẽ có phần đối chiếu giữa hai ngôn ngữ, vì thơ thường ngắn hơn văn xuôi và cũng để tạo dịp cho người đọc so sánh bản dịch với nguyên bản. Những bài dịch văn xuôi, vì độ dài, thường chỉ cần tạo link vào nguyên bản.

LTT: Dù rất bận rộn nhiều công việc ngoài đời cũng như công việc văn chương, dịch thuật, báo chí mà ĐTBT vẫn dành ra thời giờ hồi đáp vài thắc mắc của tôi vừa rồi một cách hết lòng. Xin chân thành cảm ơn ĐTBT về những chia sẻ này, qua đó tôi đã học hỏi ở bạn nhiều điều mà từ trước đến nay tôi không biết hỏi ai.

ĐTBT: Cám ơn anh Trung đã cho Thúy cơ hội trò chuyện (khá dài) về đề tài dịch thuật. Nhờ được dịp này Thúy cũng có thời gian suy niệm thêm về các vấn đề khúc mắc trong ngôn ngữ, văn hóa, lịch sử Việt Nam, và đồng thời xét lại những nỗ lực của mình trong những năm vừa qua. Mong sẽ có dịp trò chuyện với anh về những đề tài văn chương khác trong tương lai.

LTT: Mến chào ĐTBT. Thân chúc ĐTBT và gia đình luôn may mắn, an vui, hạnh phúc.

 

 

Cước chú:

2/. Luyện Văn , quyển ba (sđd), trang 161.

3/. Cổ Văn Trung Quốc của Nguyễn Hiến Lê, do nhà xuất bản Tao Đàn ấn hành, Sài Gòn, năm 1966 , Phần V.- (Đời Tống), mục Âu Dương Tu, trang 320.

4/. Luyện Văn, quyển ba (sđd), trang 174.

5/. Trích từ bài “Tuệ Sỹ, điệp khúc dương trần” của Đặng Tiến viết ngày 17 tháng 8 năm 2009, đăng lại trên trang Báo Cali Today, ngày 28 tháng 9 năm 2011.

bài đã đăng của Lương Thư Trung


11 bình luận »

  • Trương Đức viết:

    Hậu quả của kinh nghiệm di dân là tâm trạng bất an, không cảm thấy mình hoàn toàn thuộc về một văn hóa nào cả, và như vậy, không thể “thông suốt” trong ngôn ngữ. Một người dịch luôn là một người du hành trong cuộc hành trình mới, một tay novice mới vào nghề, một con người thích mơ mộng

    Một ý kiến rất hay của nữ sĩ Đinh Từ Bích Thúy.

    Thế giới ngày nay, tôi nghĩ, dịch thuật có tầm quan trọng và giá trị, có thể nói rằng, ngang tầm với sáng tác. Nghĩa là, không chỉ những nhà văn, nhà thơ mới có tâm trạng bất an và thích mộng mơ khi sáng tác, mà cả những nhà dịch thuật cũng có những tâm trạng y như thế.

    Tôi chỉ là một người dịch không chuyên nghiệp, nhưng đúng thật, tôi cũng luôn cảm thấy mình bất an, và… mơ mộng nữa mỗi khi bắt tay vào dịch thuật! :) Tôi nghĩ, sự bất an này, cộng với cái tính thích mơ mộng, nó giống như một thứ cảm giác khi ta… đang yêu! Dù không nói ra trong bài phỏng vấn, nhưng tôi tin chắc, ĐTBT có một “tình yêu” với dịch thuật. Bởi vì, tôi nghĩ, nói chung về công việc chữ nghĩa, tức là sáng tác văn chương, và cụ thể là dịch thuật, người dịch luôn cảm thấy mình có một tình yêu với các con chữ như thế nào đấy, kiểu như trong quá trình dịch, thấy chữ này thì yêu, chữ kia lại không… nỡ bỏ, v.v… Có như thế thì người dịch mới có thể… “khao khát” và “dấn thân” được, chắc chắn thế!

    Tiện đây, tôi xin được “dịch tiếp” câu thơ Tình sầu của Trịnh Công Sơn ra “ngôn ngữ của tôi” như sau: Tình yêu dịch thuật như là trái phá, con tim mù lòa. :)

    Xin cám ơn hai tác giả của bài phỏng vấn này! Trân trọng.

    Trương Đức

  • thường mộng viết:

    “dịch”,
    Nếu (Đạn bom rơi chẳng sợ đâu
    Chỉ e sương ướt mái đầu lá chanh) mà DTBT dịch “We are not frightened by bullets and bombs in the air
    Only by dew wetting our lime-scented hair”, “Tình Sầu” thành(“Meditations on Love”)… thật tội nghiệp cho chữ nghĩa Việt Nam quá chừng!!!

    “… Do đó quá trình dịch thuật là một quá trình mâu thuẫn: quá trình này không bao giờ chấm dứt, chính vì một bản dịch không bao giờ là một bản dịch bất diệt. Một bản dịch sẽ bị “diệt” và được “hồi sinh” lại qua nhiều quãng đời và nhiều không gian, để chứng minh cái vô biên của văn bản.” Thế nào là “mâu thuẩn”, thế nào là “cái vô biên của văn bản” sao mà chữ nghĩa đấm đá lộn xộn quá chừng !!!

    “Sự khiếm khuyết của một bản dịch không ngăn ngừa tinh thần khai phá của độc giả, và cũng không giảm đi cái đẹp, cái hay của nguyên bản”. Nếu với quan niệm dịch thuật như thế nầy và nếu không là một sự sai sót DTBT thật sự không xứng đáng làm công việc dịch thuật.

  • Phan Đức viết:

    Hoan hô Đinh Từ Bích Thủy đã góp ý cho bà Martha Collins sửa lại chữ dùng cho chính xác. Theo thiển ý tôi,’American war’ là ngôn từ thường dùng của người Mỹ hay nói đúng hơn là của thành phần thiên tả nhưng thiên cộng của Mỹ vốn chiếm thế thượng phong ở các trường đại học, nổi bật nhất là trong thời chiến tranh VN. (Còn Lê Duẫn, lãnh tụ miền Bắc thời ấy, từng gọi đó là cuộc chiến “ai thắng ai” giữa chủ nghĩa tư bản và cộng sản).
    Có điều xin phép hỏi là Cốm Non dịch ra Green Rice có chính xác không nhỉ? Cốm là sản phẩm được tạo ra qua quá trình nấu nướng, nói gọn hơn là rang lúa nếp mới thành cốm, chứ không phải Rice là lúa ở dạng tự nhiên, chưa được chế biến.
    Vài hàng mạo muội xin hỏi ĐTBT.
    Trân trọng.

  • Quỳnh Thi viết:

    Nói đến dịch thuật là nói đến ngôn ngữ của một quốc gia khác, để dịch sang tiếng mẹ đẻ của mình. Ai cũng biết là rất khó.

    Dịch thuật từ tiếng Việt sang tiếng nước khác lại còn khó hơn một bậc. Dịch thuật từ một tác phẩm văn học Việt Nam sang một ngôn ngữ khác lại khó hơn một bậc nữa, và nếu là dịch thơ, thì phải nói là khó gấp bội phần.

    Dịch thuật tài liệu hay báo chí chỉ cần dịch cho sát ý với văn bản thì cũng được rồi. Nhưng dịch thuật tác phẩm văn học như truyện ngắn hay tiểu thuyết mà không am tường về văn học thì không thể dịch được mà có dịch được đi chăng nữa cũng không ra thể thống gì. (Tôi biết có một số vị giáo sư Việt Nam giảng dạy tại những trường đại học hay học viện danh tiếng ở khắp nơi trên thế giới, nhưng nếu bảo ông ta dịch một tác phẩm văn học hay thậm chí một bài báo để phổ biến, cũng không dịch được cho ra hồn.) Cho nên có thể nói dịch thuật một tác phẩm văn học cũng là sáng tạo nên một văn bản mới, tôi tâm đắc với câu trả lời của nhà thơ dịch giả Đinh Từ Bích Thúy (ĐTBT) “Sự khiếm khuyết của một bản dịch không ngăn ngừa tinh thần khai phá của độc giả, và cũng không giảm đi cái đẹp, cái hay của nguyên bản . . .” Khi viết phản hồi ý kiến góp ý hay bình luận cho bài phỏng vấn trên, tôi cho rằng ông(hay bà) Thường Mộng (TM) đã không tiêu hóa nổi câu trả lời của tác giả ĐTBT.

    Những nhà văn nhà thơ dịch giả tài hoa trước đây như: Nguyễn Hiến Lê, Nguyễn Hữu Hiệu, Phạm Công Thiện, Tuệ sĩ, Sư cô Trí Hải, Nguyễn Tôn Nhan, Trịnh Y Thư, Bùi Giáng .v.v… Cũng chỉ dịch những tác phẩm văn học từ tiếng nước ngoài ra Việt ngữ mà thôi. Mãi sau này những tác phẩm văn học Việt Nam được dịch ra Anh ngữ, Pháp ngữ để giới thiệu với văn học thế giới bởi những dịch giả nhà văn hiếm hoi như: Phan Huy Đường, Huỳnh Sanh Thông, Đinh Linh, Đinh Từ Bích Thúy . . . đếm trên đầu ngón tay.

    Ý kiến và phê bình về dịch thuật thì rất nhiều. Vì một dịch giả dù lỗi lạc và tài hoa cách mấy cũng không sao toàn bích được. Tác phẩm dịch đạt được 80%, 90% là đã ok lắm rồi.

    Bài phỏng vấn của nhà văn Lương Thư Trung và bài trả lời của nữ sĩ ĐTBT giống như một bài tiểu luận, nói về nghệ thuật dịch. Thật là tuyệt diệu.

  • thường mộng viết:

    Nhàn tản với cụ Quỳnh Thi,
    “Sự khiếm khuyết của một bản dịch không ngăn ngừa tinh thần khai phá của độc giả, và cũng không giảm đi cái đẹp, cái hay của nguyên bản . . .”
    theo cụ nghĩa của “khiếm khuyết”là gì? (sau khi cụ đã tiêu hóa)
    một tác phẩm cũng như một người đàn bà, có đầu mình và chân tay-nếu người đàn bà mất vài sợi tóc, người đàn bà vẫn là người đàn bà-nhưng nếu người đàn bà mất đi khúc giữa? hay khi cụ giới thiệu một người đàn bà, cụ chỉ giới thiệu khúc giữa, còn chân và đầu bỏ quên, cụ nghĩ, người nghe sẽ cảm như thế nào?
    “tinh thần khai phá” của độc giả và “cái hay của nguyên bản” sẽ đi về đâu, ví dụ như tôi, không có khả năng đọc từ nguyên tác…

  • Quỳnh Thi viết:

    Này bạn Thường Mộng.

    Khiếm khuyết là thiếu sót. Phải thế không?

    Tôi nghĩ bạn nên đọc kỹ lại cả bài phỏng vấn mà tác giả đã trình bày, thì sẽ “không mất đầu mất đuôi” đâu bạn ạ. Và rồi sau đó bạn khỏi phải kêu toáng lên “Thật tội nghiệp cho chữ nghĩa Việt Nam quá chừng!!!” Rồi bạn lại lên giọng kẻ cả:”…Như thế này và nếu không là sự sai sót ĐTBT thật sự không xứng đáng làm công việc dịch thuật.”

    Thôi nhá. Chào bạn.

  • Điền L. viết:

    Nhân bàn về dịch thuật từ tiếng VN, xin hỏi ĐTBT hoặc các vị khác, “công” trong “công, dung, ngôn, hạnh” dịch sang tiếng Mỹ thế nào. Một vài diễn đàn dịch là “labor”, nhưng tôi cho là không ổn.

  • BacHai viết:

    Cùng độc giả Điền L.

    theo thiển ý tôi, trong bối cảnh “công, dung, ngôn, hạnh”, chữ “công” dịch nên sang tiếng Mỹ là SKILL.

    Một đóng góp ít.

    BacHai

  • Đinh Yên Thảo viết:

    Dịch thuật không chỉ là sự am tường hay thông hiểu ngôn ngữ được chuyển dịch, mà còn phụ thuộc vào bút pháp, cú pháp, cách chọn từ … của người dịch. Cũng có lúc phụ thuộc vào sự “diễn” dịch của người dịch khi suy diễn, lý giải câu văn (ví dụ như cách hiểu về “Tình yêu như trái phá. Con tim mù lòa” nói trên) . Liệu chị ĐTBT hay có ai nghĩ rằng mình sẽ dịch câu tiếng Việt ” hãy luôn khao khát, hãy cứ dấn thân” trở thành “stay hungry, stay foolish” mà Steve Jobs đã trích dẫn từ Whole Earth Catalogue của Steward Brand? Tất nhiên đây chỉ là điểm rất nhỏ, để thấy rằng dịch có những lúc như đang giải một ô chữ đầy thú vị hơn là việc chuyển đổi một ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác.

  • Lâm Vũ viết:

    1.
    Trước khi đọc Raymond Chandler trong nguyên bản tiếng Anh (Mỹ), tôi đã đọc toàn bộ các tác phẩm chính của R.C, trong bản dịch tiếng Đức, của hai dịch giả (nếu tôi không nhớ sai) là Hans Wollschläger (1935-2007) và Tomi Umgerer (1931-). Đọc chúng liên tục trong một thời gian ngắn, cảm giác của tôi lúc đó là đọc đang đọc truyện của hai tác giả khác nhau, chỉ trùng tên! (Tôi thích văn cách của H.W. hơn là T.U.)

    Sau này, một người bạn “giỏi” văn chương đã cảnh cáo hãy coi chừng bản dịch của H.W. quá “bay bướm”, không chuyển tải đúng “phong cách” của nguyên tác! Thú thật, lúc đó tôi không để ý đến chuyện cách biệt “phong cách”, miễn đọc thấy “khoái” là được rồi. Sau này, khi đọc nguyên tác, tôi đã khám phá ra một Raymond Chandler thứ ba: chính tác giả!

    Qua câu chuyện này, tôi muốn nói đến phát biểu của chị Bích Thúy, “Sự khiếm khuyết của một bản dịch không ngăn ngừa tinh thần khai phá của độc giả, và cũng không giảm đi cái đẹp, cái hay của nguyên bản”. Cả hai dịch giả H.W. và T.U. chắc hẳn đều những “khiếm khuyết”, nhưng cũng đã làm tròn công tác dẫn dắt độc giả – như tôi – đến với thế giới lãng mạn, nghiêm trang và vẫn đầy nét thi vị của của nhân vật thám tử tư Philip Marlowe.

    Sau này khi bước vào thế giới “thật” của nguyên tác, qua phim ảnh hay khi chính mình đi lang thang trên những con đường của L.A. thì đó cũng là những khám phá tiếp tục, mà những “khiếm khuyết” của bản dịch không phải là sự cản trở.

    Tôi hiểu điều chi BT muốn nói đại khái như thế.

    2.
    Một vấn đề lớn của dịch thuật là sự “bất tương xứng” không những giữa một ngôn ngữ Tây Phương và tiếng Việt, mà ngay cả giữa hay ngôn ngữ Tây Phương rất gần gũi, như tiếng Anh và tiếng Đức.

    Lấy thí dụ tuyển tập truyện ngắn và tiểu luận cũng của R.Chandler có tên là “The simple Art of Murder”. Một bản dịch tiếng Đức đã chuyển tựa đề sang tiếng Đức thành ra là “Mord is keine Kunst”. Theo t/s Michael Minden (Uni of Cambridge) dịch vậy đúng nghĩa của nguyên bản. Nhưng nếu dịch tựa đề tiếng Đức ngược lại sang tiếng Anh thì lại thành ra “Murder is not Art”… to be (art) or not to be…?

    Một thí dụ khác có lẽ thi vị hơn, ít nhất không có mùi máu me và… Nazi, là tựa đề cuốn phim “Summer of ’42”, vốn cũng là cuốn truyện. Sang tiếng Pháp thì giản dị là “Un été 42”. Nhưng ai ở Đức muốn tìm cuốn phim này sẽ khó vì ít ai biết tựa tiếng Đức của nó là “Frühling einen Sommer lang” (“Xuân suốt một mùa hè” hay “Tuổi xuân chỉ một mùa hè”).

    TB. Tựa đề tiếng Đức của “Summer of ’42” nghe hơi… cải lương, nhưng theo tôi diễn tả rất xát tâm tình của tác giả – không phải là khóc một “mối tình thơ dại” – mà là luyến tiếc tuổi hoa niên, một đề tài lớn hơn!

    LV

  • TÂM TÌNH VỚI NHÀ THƠ LÂM HẢO KHÔI (Lương Thư Trung – Da Màu) « Ngoclinhvugia's Blog viết:

    […] Hãy luôn khao khát, hãy cứ dấn thân: trò chuyện với Đinh Từ Bích Thúy về dịch…- 24.11.2011 […]

Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)
porn ficken russian porn japanese porn watch porn watch sex izle sex izle anal porn tube amateur porn watch