Trang chính » Chuyên Đề, Dịch Thuật, Phụ Nữ & Giới Tính, Sáng Tác, Sang Việt ngữ, Truyện ngắn Email bài này

bờ biển cô đơn


♦ Chuyển ngữ:
0 bình luận ♦ 19.11.2011

 

lonely

The Lonely Coast At Midnight – Gillian Lee Smith

Có bao giờ bạn thấy căn nhà cháy trong đêm, tàn lụi và tiêu tan ngoài đồng bằng? Chỉ một màu đen và ánh đèn xe của bạn cắt một vệt nhỏ vào đấy, như thể bạn đang ở giữa đại dương cũng không biết chừng. Trong bóng tối mênh mông, một vòng lửa lớn bằng móng tay, run rẩy. Bạn sẽ nhìn thấy nó trong lúc lái xe suốt một tiếng đồng hồ sau đó, cho đến khi nó cháy rụi hay bạn cháy rụi, cho đến khi bạn tấp vào vệ đường để nhắm mắt hay nhìn lên bầu trời lỗ chỗ những dấu đạn. Và bạn có thể nghĩ đến những người trong căn nhà cháy, thấy họ gắng đến thang lầu, nhưng phần lớn bạn mặc kệ. Họ xa xôi quá, như tất cả mọi thứ khác.

Năm tôi ở trong căn nhà móc kéo tồi tàn tại lạch Crazy Woman, tôi nghĩ Josanna Skiles cũng giống như vậy, căn nhà cháy trong đêm người ta chỉ có thể đứng nhìn. Lý do hình như là vùng đất phờ phạc mệt mỏi và những đám cháy cỏ lan trong tim, thứ đám cháy thường tự tàn lụi đi nhưng trong một số người bùng lớn lên không kềm chế nổi.

Tôi có phiền toái riêng của mình, rắc rối với Riley, anh chàng của tôi, một vấn đề không thể hàn gắn. Cảm giác như một cơn nóng và gió lốc đang đến. Tôi chẳng hiểu được bao nhiêu.

Nhà móc kéo tôi mướn đã cũ. Đúng hơn nó là xe móc để cắm trại thường được kéo theo sau xe hơi, nhỏ đến nỗi mắng con mèo thì lông mèo sẽ vào trong miệng. Khi gió thổi, tôi nghe những bộ phận lỏng ra và đập xuống đất. Tôi mướn nó của Oakal Roy. Ông nói ông khá khắm hồi thập niên năm mươi, là một người đóng thế vai những cảnh nguy hiểm ở Hollywood. Ông uống rượu đến xuống dốc. Một con chó trơ xương quanh quẩn gần bên–tôi đoán là của ông–và có lần lái xe về khuya tôi thấy nó cong người gặm khúc xương bò dài dính máu. Ông ấy cần bắn con chó.

Tôi có chứng chỉ đại học cộng đồng về làm hàng thủ công nghệ–hoa lụa, hàng len chỉ móc, nữ trang, hạt, lông chim, sơn vải, đại loại như vậy. Như con chim ác là, tôi thích những vật nhỏ sáng. Nhưng tốt nghiệp mới một ngày tôi đã lấy Riley và chưa bao giờ dùng hạt hay nút. Sẽ không bao giờ, vì không có tiệm thủ công nào trong vòng ba trăm dặm bán kính và tôi không định rời Wyoming. Người ta chỉ đi khi nào phải đi. Vì thế một tuần hai tối tôi hầu bàn ở nhà trọ Wig-Wag, cuối tuần pha rượu ở Gold Buckle, và những tối kia tôi ngồi trong nhà móc kéo chơi ô chữ và cố ngủ, luôn thức dậy cùng giờ đồng hồ báo thức reng ở trại, giờ Riley sẽ lăn ra và với tay lấy chiếc áo sơ mi, và trong cửa sổ là ngôi sao Venus đang mọc như một chấm nhỏ cứng, bên dưới là buổi sáng mỏng manh.

Josanna Skiles nấu ăn ở Wig-Wag. Cô đã làm việc này bảy hay tám tháng. Đa số bỏ việc sau vài tuần. Bạn phải học cách làm sushi và một loại cơm nếp. Ông chủ là Jimmy Shimazo. Năm mươi năm trước, trong thế chiến thứ hai, ông là một đứa trẻ trong trại tập trung ở núi Heart, và ông nói rằng khi gia đình ông về lại California với những chiếc xe và tiền và bờ biển rực rỡ, ông nhớ Wyoming, sự nghiệt ngã của nó đã in dấu trong ông. Nhìều năm sau, ông trở lại với đủ tiền để mua Wig-Wag, có lẽ mắc phải chứng bệnh tai quái nào đó khiến ông cần đến sự thù nghịch ông tìm thấy ở đây. Không có ai khác trở lại và làm sao trách họ? Khách của ông toàn là du khách Nhật lang thang trong nhà trọ ngắm những yên ngựa cũ và xương sọ bò, mua trong tiệm bán quà những khẩu súng sáu nhỏ và quần phủ ngoài bằng ny-lông cho bọn trẻ, xâu chìa khoá bằng lông ngựa bện làm ở nhà tù tiểu bang. Jimmy là ông chủ khó, dễ quạu, nhưng cẩn thận chọn đàn bà để la hét sau khi tay bảo trì, một tay làm việc trại trước kia gốc ở Spotted Horse, lấy cột hàng rào đánh ông vãi đái và bỏ ông nửa sống nửa chết cạnh thùng rác. Josanna chưa bao giờ có chuyện với ông cho đến lúc cuối, nhưng cô nấu món Nhật giỏi và ở ngoài này ai cũng biết nên để đầu bếp yên.

Cô có hai bạn gái, Palma Gratt và Ruth Wolfe, cả hai cháy với mức độ chậm hơn Josanna, nhưng cũng đang tan rã thành tro bụi theo lối tuyệt vọng riêng của họ. Ba người gọi tối thứ Sáu là tối vui chơi của các cô, rượu pha margarita và cánh gà Buffalo ở Gold Buckle trong khi họ đọc hết mục tìm bạn bốn phương trong tờ báo. Rồi gọ đến Stockman ăn sườn. Đôi khi Palma mang con đi cùng. Đứa nhỏ ngồi trong góc và xé khăn giấy. Sau món bánh praline và cà phê họ xem phim ở Silver Wing, rồi họ có thể trở lại Gold Buckle, có thể không. Nhưng tối thứ Bảy là tối quan trọng khi họ mặc quần jean chật và áo sơ mi Josanna gọi là sơ mi xác da đen, gặp nhau ở Rawhide hay Bud’s hay Double Shot hay Gold Buckle và làm chuyện điên rồ.

Họ nghĩ lúc đó họ thực sự đang sống, uống, hút, la hét với bạn, và họ không hẳn khiêu vũ mà dạng chân hai bên đùi đàn ông và ngã ngớn. Có lần Palma lột áo để lộ ngực trần, Josanna vung tay đánh một gã say nói bậy, bị đánh trả, cô chửi thề xanh rờn qua đôi môi rách, đá tên cao bồi trong lúc năm, sáu tên bạn khoái chí của hắn vừa giữ chặt hắn, vừa cổ võ cô. Không có gì quá bạo, không có gì quá liều lĩnh, họ gạn lọc bọn đàn ông ở quầy rượu và chọn ba người khá nhất, dùng bất cứ thuốc gì có trong bãi đậu xe, có thể leo lên đùi một gã đàn ông nào đó trong xe truck của hắn. Nếu Josanna vẫn còn đó lúc hai giờ sáng, cô trông thật sự là mình, người đàn bà đang vào tuổi trung niên, son môi loang lổ, khuôn mặt tầm thường và da thịt xồ xề, vừa ngáp vừa ra đi trong bóng đêm của một ngày mới, cô độc và buồn tủi. Khi Elk đến, cô có người về nhà chung, và tôi nghĩ đó là lý do chính.

Khoảng một tháng một lần cô đến trại Skiles ở phía nam Sundance với cảnh gò Black phía xa. Con trai cô ở đó, mười sáu, mười bảy tuổi, thường xuyên ra vào nhà quản thúc vị thành niên. Cha mẹ cô từng vượt qua những lúc khó khăn. Cô bảo tôi bầy thú của họ mang di truyền bệnh còi từ thời ông bà, hồi thập niên 40. Họ cố gắng từ từ loại những trường hợp rõ rệt đã hai thế hệ rồi. Đáng lẽ họ nên bán hết bò để làm thịt, bắt đầu lại, nhưng không hiểu sao không làm được. Bệnh di truyền lộ ra khi bà của cô đang quản lý trại, ông cô đi đánh trận trong thế chiến thứ hai với Trung Đoàn Kỵ Binh Sông Power, đoàn 115 nổi tiếng. Chính phủ lấy ngựa của họ và cho họ xe truck, đưa những kỵ mã giỏi về bàn giấy và đoàn xe tạm. Ông về nhà với những con bê chân lùn và gắng hết sức. Năm 1960 ông chết đuối ở sông Belle Fourche, điều không dễ làm, nhưng Josanna nói, gia đình cô luôn chọn con đường gan góc.

Cô mang cho tôi một hũ mật của ong họ nuôi. Trại nào cũng nuôi ong. Tôi và Riley, chúng tôi có hai mươi tổ và có lần tôi bảo cô tôi nhớ mật ong.

“Nè,” cô nói. “Không nhiều, nhưng có còn hơn không. Tui lên trển,” cô nói. “Kiểu đời mắc dịch. Clayton muốn bỏ đi–nó nói đi Texas nhưng tui không biết nữa. Họ cần nó. Tui đoán họ sẽ hiểu lầm, sẽ trách tui nếu nó đi. Quỷ thần ơi, nó lớn rồi, để nó làm cái gì nó muốn. Rồi nó cũng sẽ đâm đầu vô rắc rối mà thôi. Thằng nhỏ phiền phức.”

Riley và tôi chưa bao giờ có con, tôi không biết tại sao. Cả hai cùng không muốn đến bác sĩ để biết. Chúng tôi không nói đến chuyện đó. Tôi nghĩ có lẽ nó dính dáng đến lần tôi phá thai trước khi gặp anh. Nghe nói nó có thể làm bạn rối lọan. Anh không biết chuyện đó và tôi đoán anh có những suy nghĩ riêng.

Riley không thấy được phần lỗi trong chuyện anh làm. Anh nói, “Nè, tui thấy cơ hội, tui chụp lấy,” trở lại lối nói vùng Sweetwater, quê của anh, và đó là lời cuối cùng của anh về vấn đề ấy.

Ai biết rõ hơn tôi là anh có một điểm hứng trên người? Con nhỏ ấy có thể đã chạm vào đấy. Nếu nó chạm vào, anh không thể đừng. Riley chỉ có sườn và xương, khuôn mặt ốm, dữ, miệng như vết giấy cắt và không nói nhiều. Nhưng chạm vào điểm hứng đó, khiến anh nổi cơn thèm, khi nằm với anh, miệng anh sẽ sưng to lên, tôi sẽ tan rã vì những nụ hôn đầy, ướt và vì anh cương to như thế nào. Cởi hết quần áo, ngựa và chó và dầu và đất, cởi hết quần áo, mùi thật của anh ở trên làn da, một thứ mùi khô như ruột của cành cây bạch dương khi bẻ ra ở chạc nhánh để lộ ngôi sao đốm ở giữa. Dù sao, ai cũng có điều không phải và tùy theo người ta biết điều gì người ta có thể chịu được.

Trong chín năm hôn nhân chúng tôi chỉ có một kỳ nghỉ, đến Oregon nơi em tôi sống. Chúng tôi đi ra một mỏm đá và ngắm sóng tràn vào. Trời sương mù và lạnh, không có ai ngoài chúng tôi nhìn sóng. Lúc đó là chiều tối và những vòng nước cuốn trông như đang rực sáng từ bên trong. Phía xa trên bờ biển cô đơn, một tia sáng nhấp nháy ngắt quãng cảnh giác tàu tránh xa. Tôi nói với Riley đó là điều chúng tôi cần ở Wyoming–hải đăng. Anh nói không phải, điều chúng tôi cần là bức tường quanh tiểu bang và tháp canh với súng máy.

Một lần Josanna cho tôi đi nhờ xe truck của anh cô–anh ta xuống vài ngày để mua phụ tùng ống bơm và vài ống dẫn–và nó quả là chiếc xe truck bình dị, cặp quần da phủ ngoài treo sau ghế, xích, mũ cũ mèm trên sàn xe, áo khoác Carhartt bẩn, bảy tám chiếc găng rách, lông chó và bụi, lon bia rỗng, khẩu .30-.06 trên giá súng cạnh kính sau xe và trên ghế ở giữa chúng tôi, trong mớ rối rắm của dây, thừng, và thư cũ chưa mở, khẩu Ruger Blackhawk .44 thò một nửa ra ngoài bao súng. Tôi nói cho bạn nghe nhé, xe truck đó làm tôi nhớ nhà. Tôi nói điều gì đó như anh cô có đủ lửa phải không, và cô cười nói khẩu Blackhawk là của cô, cô để ở ngăn đựng găng tay trong xe truck của riêng cô, nhưng hôm đó chiếc xe của cô lại nằm tiệm lần nữa vì chứng mất sức ép, căn bệnh có vẻ như họ không sửa được; khẩu súng ở trên ghế vì cô không muốn bỏ quên nó khi anh cô về.

Tóc dài, uốn lọn và buông lơi, đang là thời trang, và trong những dòng tóc rối rũ xuống, khuôn mặt những người phụ nữ trông hẹp và dễ tổn thương. Tóc Palma màu cam chói. Lông mày cô tỉa cong, hai mắt nằm xa nhau, da bên dưới thâm và trông như bị đánh. Cô sống với con gái, một đứa bé u ám mười, mười một tuổi với khuôn mặt buồn và tóc nâu thẳng, giống tóc Palma nếu cô không sửa soạn. Con bé luôn xé cái gì đó.

Cô kia, Ruth, có hàng râu mép lờ mờ, và trong mùa hè chân lông cứng lộ ra dưới cánh tay. Cô trả bốn mươi lăm đô để tuốt lông chân hai lần mỗi tháng. Cô có giọng cười to, như đàn ông.

Josanna vai u thịt bắp như phần lớn phụ nữ đồng quê, cố gắng dấu đi dưới quần áo có cổ tròn, nhiều nếp gấp và ren. Tóc cô màu nâu đỏ, thô, dầy và nhiều tĩnh điện. Cô có mùi hơi hôi, mùi gia đình vì anh cô cũng có, nồng và hơi chua, và xe truck của anh cũng có mùi như vậy. Với Josanna mùi ấy nhẹ và bạn có thể lầm là hương vị lạ của Nhật, nhưng mùi tỏa từ người anh đủ mạnh để làm con ngựa ngã lăn. Anh là trai già độc thân. Họ gọi anh Woody bởi vì, Josanna nói, khi anh bốn năm tuổi anh trần truồng khệnh khạng vào bếp để lộ cương cứng trẻ con và ba của họ cười cho đến khi sặc và gọi anh là Woody, cái tên đeo đẳng theo anh mãi và làm anh nổi tiếng trong vùng. Bạn không thể không nhìn khi bạn nghe chuyện, và anh sẽ mỉm cười.

Cả ba người đàn bà đã từng thành hôn, những cuộc hôn nhân trắc trở nhiều cãi vả và mắt bầm và chửi rủa nức nở, cả ba biết thứ phiền phức đến cùng người đàn ông nhậu nhẹt và nóng tính. Dân Wyo thích đụng chạm, máu nóng và nhanh, khao khát thể chất. Có lẽ vì quá nhiều thời gian của họ dùng để chăn gia súc, nhưng người ở đây luôn luôn bắt tay, vỗ, vuốt, mơn trớn, ôm. Bản năng này cũng lộ ra trong cơn giận dữ, cái tát bằng lưng bàn tay như lằn chớp, cái đẩy bằng hông làm mất thăng bằng, khuỷu tay, giật và vặn, cú đánh giáng, và rồi những thứ nghiêm trọng để giết người và đôi khi giết thật. Chuyện kể về Josanna là khi cô bỏ chồng, cô bắn anh ta, viên đạn sước ngang vai anh ta trước khi anh ta vồ lấy cô và lấy súng đi. Không ai bắt nạt cô được. Nó cho cô vẻ quyến rũ nguy hiểm đã lôi cuốn vài người đàn ông, người mới nhất là Elk Nelson, cô gặp qua báo. Khi họ sống chung, gã thu hết băng đạn trong nhà và giấu chúng nơi nhà mẹ gã ở Wyodak, như thể Josanna không thể mua thêm. Nhưng khi Elk đến, cô Josanna táo bạo cũ đã bị chôn vùi ở đâu đó.

“Nè, nếu nó có bốn bánh hoặc con cu, bảo đảm mày sẽ có rắc rối với nó,” Palma nói trong một tối thứ Sáu vui chơi của họ. Họ đang đọc to lên những quảng cáo trái tim cô đơn trên báo. Nếu không sống ở đây, người ta không thể nghĩ có thể cô đơn đến mức nào. Chúng tôi cần mấy quảng cáo đó. Điều đó không có nghĩa chúng tôi không thể cười nhạo chúng.

“Cái này thì sao: ‘Cao một mét chín mươi, nặng một trăm kí, ba mươi bảy tuổi, mắt xanh, chơi trống và thích nhạc đạo.’ Tụi mày nghe thấy chưa, bài ‘Thánh giá thô sơ’ chơi bằng trống bongo?”

“Cái này hay hơn: ‘Cao bồi nhìn muốn nựng, cao một mét chín ba, nặng chín mươi, không hút thuốc, không phải quà của Chúa cho phụ nữ, thích nắm tay, chữa lửa, tập kèn tuba.’ Tao đoán có thể có nghĩa là ồn ào, ốm, xấu, chơi diêm quẹt. Chắc muốn nựng như một đống que.”

“Mày nghĩ ‘không phải quà của Chúa cho phụ nữ’ có nghĩa là gì?”

“Cái đó bằng hột đậu phọng.”

Josanna đã vẽ vòng mực chung quanh Gấu ôm đẹp trai, thân hình thể thao, mắt nâu, ria mép đen, thích nhảy, vui chơi, ở ngoài trời, đi dạo dưới sao. Sống đến tận cùng. Đó hóa ra là Elk Nelson và gã là loại lang thang không yên chỗ, đã làm dàn khoan dầu, xây dựng, mỏ than, chất hàng xe truck. Gã đẹp trai, nói nhiều, hay cười. Tôi nghĩ gã là loại đểu cáng từ đôi ủng trầy sước đến mái tóc cột đuôi ngựa nhờn mỡ. Điều đầu tiên gã làm là đặt khẩu .30-.30 trên giá súng trong xe truck của Josanna và cô không nói câu nào. Gã có đôi mắt nâu nhạt như màu bánh bích quy, hàng râu mép dầy như đôi cánh chim hét. Khó đoán gã bao nhiêu tuổi; lớn hơn Josanna, bốn mươi lăm, bốn mươi sáu có lẽ. Hai cánh tay gã toàn thú rừng, hình xâm lờ mờ của nhện, sói nhe nanh, bò cạp, rắn rung chuông. Với tôi gã trông như đã thử qua mọi thứ dơ bẩn ít nhất vài lần. Josanna mê gã hết thuốc chữa từ lần đầu gặp gỡ và ghen như điên. Gã thích như vậy chứ gì? Dường như đó là cách gã đo lường và thử thách tình cảm của cô. Khi người ta chán cô đơn đến xương tủy, khi tất cả người ấy muốn chỉ là ai đó kéo mình lại gần và nói, không sao, bây giờ không sao, và người ấy gặp phải một người như Elk Nelson, người ấy hẳn phải biết mình đã xuống đến đáy mất rồi.

***

Cuối tuần tôi pha rượu ở quán Gold Buckle và ngắm ngọn lửa chiếm lấy cô. Cô sẽ mỉm cười vì điều gã nói, lắng nghe và nghiêng người, mồi điếu thuốc mắc dịch cho gã, săm soi bàn tay gã xem có chỗ nào bị cắt–gã làm hàng rào hai tuần ở 5 Bar. Cô sẽ sờ mặt gã, vuốt thẳng nếp nhăn trên áo gã và gã sẽ nói, đừng rờ rẫm tui nữa. Họ ngồi hàng giờ ở Buckle cãi qua lại về chuyện gã có tán tỉnh đàn bà nào đó không, cho đến khi gã chán và bỏ đi. Dường như gã chọc tức cô, xem thử gã có thể đẩy bao xa trước khi cô bị dồn vào chân tường. Tôi tự hỏi khi nào cô sẽ nhận ra rằng với gã cô chẳng đáng chút gì.

Tháng Tám nóng và khô, nhiều châu chấu và lạch cạn. Người ta nói phần này của tiểu bang là vùng tai ương. Tôi nghe điều đó trước khi bọn châu chấu đến. Tối thứ Bảy ngột ngạt, không khí nặng như trong tủ treo áo khoác mùa đông. Đó là tối rodeo và nó kéo người ta đến. Quán rượu đông sớm, bắt đầu từ khoảng ba giờ chiều với đám làm thuê việc trại vẫn còn mặc áo đẫm mồ hôi, những khuôn mặt đỏ lấm tấm hơi nóng và đất, đẩy giạt hầu hết đám nếp nhăn, những khách già bắt đầu uống từ buổi sáng. Palma đến sau năm giờ một chút, một mình, tươi mát và hồng hào, mặc áo satin màu quế đỏ óng ánh theo mỗi cử động. Cánh tay cô đeo đầy vòng bạc, vòng kim loại này trên vòng khác, leng keng và đổi chỗ. Khoảng năm giờ rưỡi quán đông nghẹt và nóng, thân người chạm nhau, vài đứa khờ gắng nhảy–mấy cô gái quê chơi cây bài duy nhất của mình, uốn éo cọ sát vào bọn con trai–người ta nhét tám mạng vào bàn bốn người, xếp sáu lớp ở quầy, đàn ông mũ chạm mũ. Có ba chúng tôi làm việc, tôi và Zeeks và Justin, và làm nhanh hết sức chúng tôi cũng không thể làm kịp. Người ta đang nốc rượu. Ai cũng la hét. Ngoài kia bầu trời xanh đen và xe truck lái trên đường mở đèn, những ánh đèn chìm đi trong những lằn chớp liên tục. Điện tắt khoảng mười lăm giây, quán tối như trong hang, máy chơi nhạc kêu worrr rồi ngừng lại, và một tiếng rên lớn, mê đắm, say sưa và lạc thú nổi lên từ đám đông đổi thành chửi rủa khi ánh đèn lung linh bật lên.

Elk Nelson vào, áo đen và mũ vành. Gã nghiêng người qua quầy, móc ngón tay vào lưng quần jean của tôi và kéo giật tôi về phía gã.

“Josanna đến chưa?”

Tôi lùi lại, lắc đầu.

“Tốt. Vậy thì mình vào góc ngoáy mông.”

Tôi lấy cho gã ly bia.

Ash Weeter đứng bên Elk. Weeter là chủ trại trong vùng, không bao giờ cho vợ đặt chân vào quán rượu, tôi không biết tại sao. Bọn hay đùa nói chắc hắn lo cô ta bị giết trong một trận ẩu đả ở phòng bida. Hắn đang nói chuyện bán ngựa sắp đến ở Thermopolis. Thật ra, hắn không có trại, hắn quản lý cho nhà giàu nào đó ở Pennsylvania, và tôi nghe rằng nửa số bò hắn thả trên cỏ của họ là của hắn. Cái họ không biết không hại họ.

“Uống ly bia nữa, Ash,” Elk nói giọng bè bạn.

“Hông, tui về nhà, đi ị rồi đi ngủ.” Không có cảm xúc nào trên khuôn mặt to bóng lưỡng đó. Hắn không ưa Elk.

Giọng Palma nổi lên trong một lúc tiếng ồn tạm lắng, Elk nhìn lên, thấy cô ở cuối quầy, ngoắc tay.

“Gặp sau,” Ash Weeter nói không với ai cả, kéo mũ xuống và chuồn ra.

Elk giơ điếu thuốc cao quá đầu trong lúc đi qua đám đông. Tôi mở chai Coors mới, mang đến cho gã, nghe gã nói cái gì đó về Casper.

Lệ thường là thế, họ bắt đầu ở Buckle rồi lái xe xuống Casper, năm sáu mạng, một trăm ba mươi dặm, ngồi trong quán rượu nào khác có lẽ không khác Buckle bao nhiêu, uống cho đến khi say mèm, rồi đến quán trọ. Elk kể rằng có lần Josanna say đến nỗi cô tiểu ra giường trong quán trọ và gã phải kéo cô vào vòi sen và vặn nước lạnh, quăng khăn trải giường lên người cô. Sống cho đến tận cùng. Gã kể lại như đó là chuyện hay nhất trên đời và mỗi lần gã kể cô cúi đầu, đợi cho xong chuyện với nụ cười mỉm căng thẳng. Tôi nghĩ đến đêm cuối cùng của tôi với Riley ở trại, sự im lặng đè nén và nghẹt thở, đồng hồ tíc tắc như những nhát rìu, nước nhỏ giọt từ vòi nước rỉ vào bồn tắm cáu bẩn nghe muốn điên. Anh không muốn sửa đổi, chỉ không muốn. Không thể nào sửa chuyện kia và không có chút cố gắng nào. Tôi đoán anh nghĩ tôi sẽ chỉ nấn ná và lét chét.

Palma dựa vào Elk, trượt qua lại như cô đang gãi lưng bằng nút áo của gã. “Không biết. Đợi Josanna coi nó muốn làm gì.”

“Josanna sẽ muốn đi xuống Casper. Phải đó, cổ sẽ muốn bởi vì tui muốn.” Gã nói thêm điều gì nữa tôi không nghe thấy.

Palma nhún vai, đi với gã đến chỗ đám đang nhảy. Gã cao hơn cô ba tấc, điếu thuốc của gã lách tách trong tóc cô khi gã kéo cô lại gần. Cô hất mái tóc ra sau, áp mạnh hông của mình vào gã và suýt nữa gã nuốt luôn đầu thuốc.

Có tiếng sấm và chớp nổ dữ dội và đèn lại tắt và có mùi ozone làm mê mụ đầu óc. Màn mưa đập xuống mặt đường, theo sau là mưa đá ầm điếc tai. Đèn bật lên nhưng yếu và vàng vọt. Không thể nghe thấy gì qua tiếng mưa đá lộp độp.

Một thứ cuồng loạn vui thích vào phòng, mọi thứ bay trước gió, xe ngoài kia bị móp mẹp như điên, đám đông đẫm mồ hôi và mùi nước hoa cạo râu, phân bò, áo quần phơi trên dây, nước hoa rẻ tiền, khói thuốc, rượu; tiếng nhạc chìm đi trong tiếng la hét và chuyện trò mặc dù vẫn người ta vẫn có thể cảm thấy tiếng đập bass trầm qua lòng bàn chân, bắn theo đường hai chân đến ngã ba của thân thể, trung tâm của tất cả. Đó là loại tối thứ Bảy đốt cháy đời người trong vài giờ, khiến người ta cảm thấy như thể điều gì đó đang xảy ra.

Có lúc tôi nghĩ Buckle là chỗ tuyệt nhất trên thế gian, nhưng nó có thể thay đổi và rồi nó dường như là một đống hỗn loạn những tên vô dụng mặt méo, đàn bà lông mày như xà beng, đàn ông đầy lông đỏ cứng, khớp ngón tay cỡ khoai tây non, cho thấy vũng di truyền nhỏ và những con lạch có lần chảy vào đấy đã cạn mất. Tôi nghĩ đôi khi Josanna cũng thấy như vậy vì một tối cô ngồi yên lặng và rũ rượi ở quầy xem chừng cánh cửa, chờ Elk, và gã không đến. Thật ra gã đã ở đó, vớ được một cô du khách mặc quần cụt trắng không thể nào quá hai mươi tuổi. Nói với cô không ích lợi gì.

“Đây là chỗ tồi tàn,” cô nói. “Chúa ơi là tồi tàn.”

Cửa mở và bốn năm người đàn ông từ sân đấu vào, râu mép dầy, áo mưa và mũ lòng ròng nước, ủng lấm bùn, chen qua đám người đang nhảy, vào uống vội vài ly trước giờ rodeo. Không khí nóng và ẩm. Ai cũng mặc đẹp. Tôi có thể thấy Elk Nelson ở cuối quầy, dựa vào Palma, một cánh tay choàng qua vai áo satin của cô, những ngón tay bự phớt qua ngực bên phải của cô, móng tay cào núm vú cương thẳng.

Họ vẫn chơi trò chơi của họ khi cánh cửa lại giật mở ra , gió đập nó vào tường, và Josanna bước qua cửa, lắc lắc đầu, ướt nhẹp, mái tóc cầu kỳ dính bết vào đầu. Áo sơ mi màu đào dán vào người cô, có chỗ trong suốt, những chỗ nhăn nhúm sẫm lại trông như da bị bỏng. Mắt cô đỏ, miệng mím lại vẻ nhạo báng.

“Cho tui whiskey, ăn mừng một ngày thiệt là quá cỡ tồi tệ.”

Justin đổ đầy ly, cẩn thận đẩy nó đến bên cô.

“Chị hơi bị ướt, ” anh nói.

“Coi nè.” Cô giơ tay trái, kéo cánh tay áo đẫm nước lên. Cánh tay và bàn tay cô lấm tấm vết bầm đỏ. “Mưa đá,” cô nói. “Xe truck của tui bị quay vòng trước cửa tiệm Cappy và đụng cột đậu xe tính tiền, chốt gài nắp xe hư luôn. Tui chạy hai dãy phố tới đây. Nhưng chuyện đó không ăn thua gì. Tui bị đuổi việc. Jimmy Shimazo đuổi tui. Như trên trời rớt xuống. Đừng có ai láng cháng lại gần tui tối nay.”

“Chắc vậy rồi,” Justin nói, ép đùi vào tôi. Dường như anh muốn bắt đầu chuyện gì đó, nhưng anh sẽ thất vọng. Tôi không biết, có thể tôi sẽ nghĩ như vậy là huề. Nhưng sẽ không phải thế.

“Bởi vậy tui sẽ uống, mưa tạnh là tui đi ngay, tui sẽ đi một thời gian, thử Casper coi có đỡ hơn không. Chó đẻ tụi nó, nói tụi nó liếm đít tui nè.” Cô nốc cạn whiskey, đập ly xuống quầy mạnh đến nỗi vỡ ly.

“Hiểu tui nói gì chưa?” cô nói. “Cái gì tui đụng vô cũng đổ bể.”

Elk Nelson đến sau lưng cô, luồn hai tay đỏ bự của gã dưới cánh tay cô, úp vào ngực cô và bóp. Tôi tự hỏi cô có thấy gã mò Palma không. Tôi nghĩ cô thấy. Tôi nghĩ gã muốn cô nhìn thấy gã sờ soạng bạn gái thuận tình của cô.

“Ờ,” gã nói. “Em muốn làm gì? Casper, phải không? Anh mong là đi ăn. Anh đói tới nỗi anh có thể ăn đít chưa chùi của một tên chủ trại nào đó.”

“Anh muốn cánh gà Buffalo không?” Tôi nói. “Cũng cùng một thứ.” Chúng tôi gọi qua tiệm Cowboy Teddy bên kia đường và họ mang đến trong vòng một giờ. Mười lần thì hết năm lần thịt chưa chín. Elk lắc đầu. Gã đang vuốt ve Josanna, một tay trong áo ướt của cô, nhưng mắt nhìn đám đông sau lưng gã trong kính quầy rượu. Palma vẫn ở cuối quầy, theo dõi gã. Ruth đến, vỗ vào mông Josanna, nói cô đã nghe chuyện Shimazo, thằng cà chớn. Josanna vòng tay qua eo Ruth. Elk hơi lùi lại, nhìn Palma trong kính, nở nụ cười vàng toe toét. Nhiều chuyện đang xảy ra.

“Ruth, cưng, tao chán cái chỗ không đáng này. Hay mình xuống Casper chơi một lúc đi. Tao chỉ nói chó đẻ, chó đẻ thằng Jimmy Shimazo. Tao nói, ê, coi nè, ít ra cho tui biết lý do. Tao bỏ quá nhiều wasabi vào mấy viên cá mắc toi sao? Mắc dịch. Nó chỉ đuổi tao vậy thôi, thậm chí tao không biết tại sao nữa.”

Elk bàn vào. “Chu choa, chỉ là việc không ra gì. Kiếm việc khác đi.” Như thể kiếm việc là dễ. Không có việc gì hết.

“Chốt cài nắp xe truck của tao hư rồi. Tao không đóng được. Nếu mình đi Casper thì phải sửa nó.” Xe truck của Josanna đủ chỗ cho cả bọn. Họ luôn đi bằng xe cô, và cô trả tiền xăng nữa.

“Buộc nó xuống bằng khúc giây kẽm cột kiện rơm.”

Ở máy tính tiền, Justin thì thầm với tôi điều anh nghe được ở mấy bàn phía sau–Jimmy Shimazo đuổi Josanna vì ông bắt gặp cô đang hít thuốc trong tủ lạnh chứa thịt. Ông không dung tha chuyện đó. Bây giờ ông đang tự nấu nướng. Ông đang nói chuyện mướn một đầu bếp chính gốc Nhật từ California.

“Làm như chưa đủ bọn Nhật,” Justin nói. Nghe nói bây giờ người Nhật làm chủ trọn phần tây nam của tiểu bang, nhà máy lọc dầu, những ống khói lớn..

Rồi điều gì đó xảy ra, và trong tiếng ồn tôi không thấy họ rời khỏi, Josanna, Elk, Palma, Ruth và người cô mới quen–Barry, đang nhảy cà tưng trong cơn say whiskey. Có thể họ đi trước khi quả cầu lửa đến. Mặt tiền của Buckle có một khung cửa kính lớn, bên ngoài có gờ bằng gỗ đủ rộng để đặt chai bia lên. Ông Thompson chủ quán rượu bày trong khung kính bộ sưu tập của ông gồm có đinh thúc ngựa, cuộn thừng, đôi ủng mòn, vài ba yên ngựa, vài quần phủ ngoài bằng len nhiều nhậy đến nỗi chúng như bão tuyết mùa xuân rơi ngược chiều, những thứ lặt vặt khác. Khung kính như là sân khấu. Bây giờ, trên gờ khung kính là một quả cầu sáng chói vừa xịt lửa vừa mở ra, tỏa ánh sáng lên những đồ dùng cao bồi bụi bặm. Mưa vẫn đang rơi. Bạn có thể nghe trái cầu lửa xèo xèo và một lớp muội than hình trái thông lấm tấm những hạt mưa đang hình thành trên mặt kính. Justin và khoảng chục người ra ngoài xem là cái gì. Anh cố đẩy nó ra khỏi gờ nhưng nó cháy dính vào đó. Anh chạy vào lại.

“Đưa bình nước cho tui.”

Mấy người ở phía trước đang cười, ai đó gọi, đái vào nó đi, Justin. Anh đổ ba bình nước nó mới tắt, một đống cháy đen, không biết ai để vào đó và đốt cháy. Có tiếng như súng nổ và tấm kính rạn từ trên xuống dưới. Sau đó Justin nói đấy là tiếng súng, không phải hơi nóng. Đấy là hơi nóng. Tôi biết tiếng súng như thế nào.

Buổi tối, từ phía bắc lái xe xuống Casper, bạn có một cảm giác, và không phải chỉ khi đến đó, mà tất cả những nơi chốn khác bạn đi qua trong những giờ đêm tối không có ánh đèn nào ngoại trừ ánh sáng xe truck của các trại trườn quanh và nhấp nháy xa xa. Bạn xuống dốc và đột nhiên thị trấn sáng ngời nằm phía dưới, trải dài như mọi thị trấn miền tây, sau lưng là khối cong của núi. Ánh đèn trải về phía đông trong những chùm vàng lởm chởm nổi bật trong bóng tối. Và nếu bạn đã từng đến bờ biển cô đơn, bạn đã thấy dốc đá hụt hẫng rơi vào làn nước đen như thế nào và ánh đèn ở mỏm tận cùng như thế nào. Xa hơn nữa là những cuộn sóng vẫn tràn vào như đã từng tràn vào hàng triệu triệu năm. Buổi tối ở đây cũng vậy, nhưng là gió thay vì sóng. Nhưng nước đã từng ở đây. Bạn nghĩ đến biển bao phủ nơi này hàng trăm triệu năm trước, nước bốc hơi chậm, bùn hóa đá. Những ý nghĩ đó không có chút nào bình yên. Mọi chuyện chưa xong, vẫn còn có thể tan rã. Không có gì chấm dứt. Bạn thử thời vận.

Có thể họ đã thấy như thế, khi trượt xuống về phía ánh đèn, uống bia và chuyền nhau thuốc vấn, Elk say thuốc và lái xe và không ai nói gì nhiều, chỉ đi Casper. Palma nói vậy. Ruth nói khác. Ruth nói Josanna và Elk cãi nhau lớn suốt dọc đường và Palma là nguyên nhân. Barry nói ai cũng say thuốc đến loạn óc, còn anh ta chỉ say rượu thôi.

Mùa xuân năm đó, Riley và tôi cực vì bò sanh nở. Mấy con bò đực Saler lớn của chủ trại láng giềng vào trong bãi cỏ của chúng tôi và cấn thai vài con bò cái. Chúng tôi không biết chuyện cho đến khi lúc bò sanh nở mặc dù Riley nhận xét một hai lần rằng có mấy con bò cái phì lên thật to và chúng tôi đoán là sinh đôi. Chúng tôi biết khi con bê đầu tiên ra đời. Con bò cái là một con bò tốt, mình dài, nhiều thịt, thon với rất nhiều cơ bắp, nhưng không nhiều quá, gọn và yểu điệu, loại bò mẹ chúng tôi muốn, và nó gần như bị xé đôi vì con bê lớn nhất chúng tôi từng thấy. Đấy là con quái vật, lớn bằng một phần ba mẹ nó.

“Thằng con hoang Coldpepper. Coi con bê kìa. Nó là của tụi bò đực khổng lồ mắc toi, bự như xe tăng. Tụi nó chắc lọt vào tháng Tư vừa rồi, thằng đó chắc chắn biết, mà không hề nói một lời. Anh đoán mình sẽ biết có bao nhiêu con lọt vào.”

Thời tiết cũng khốn khổ, bão mùa xuân, tuyết và mưa đủ lọai. Chúng tôi qua mười ngày đầu tiên không ngủ, ướt và lạnh, nhất là Petey Flurry đã làm cho chúng tôi chín năm, ở bên ngoài trên lưng ngựa trong mưa lạnh giá lùa bò cái vào sân sanh. Ai biết đâu được anh bị sưng phổi lúc chúng tôi cần anh nhất và họ chở anh đến bệnh viện. Vợ anh gửi đứa con gái mười lăm tuổi đến để phụ và con nhỏ là tay làm khá giỏi, lớn lên ở trại, cả đời quanh súc vật, bàn tay mạnh nhưng nhỏ thuôn có thể luồn vào con bò cái đang rặn và nắm lấy mấy chiếc móng non. Chúng tôi đều mệt chết người.

Khoảng giữa chiều tôi để họ trong chuồng bò sanh với một con bò sinh khó, lên nhà để ngủ một chút, nhưng tôi mệt quá, căng thẳng, không ngủ được, và sau mười phút tôi dậy và đặt ấm cà phê, lấy bột bánh khỏi tủ đá và sau một lúc có cà phê bốc khói và bánh nướng hạnh nhân nóng. Tôi để ba cái tách vào trong một hộp giấy, bánh trong túi cách nhiệt, và trở lại chuồng bò sanh.

Tôi vào với thùng cà phê và bánh, đẩy nhẹ cửa. Anh mới xong, mới rút ra khỏi con nhỏ, đứng lên. Con nhỏ vẫn nằm trên một kiện rơm, đôi chân gầy trẻ con gập lại dang rộng. Tôi nhìn anh, con nhỏ ngồi dậy. Trong đó ánh sáng không nhiều và anh đang vội vã cố nhét nó vào quần nhưng tôi thấy máu trên người anh. Hơi nóng cà phê xuyên qua thùng giấy và tôi đặt nó xuống bàn giấy cũ đựng dụng cụ kéo bê và thừng và thuốc mỡ và đồ khâu vết thương. Tôi đứng đó trong khi họ kéo quần áo lên. Con nhỏ thút thít. Chắc rồi, nó đang trên đường trở thành một con chó cái nhơ bẩn, nhưng nó mới mười lăm tuổi và đây là lần đầu tiên ba nó làm công cho tên đàn ông làm chuyện đó với nó.

Anh nói với nó, “Đi, tui chở em về,” và nó nói, “Không,” và họ ra ngoài. Không nói gì với tôi. Anh đi cho đến chiều hôm sau, trở về và nói mấy lời của anh. Tôi nói mấy lời của tôi và ngày hôm sau tôi bỏ đi. Con bò cái trời đánh đã chết với con bê chết vẫn còn trong bụng.

Với đa số mọi điều, người ta không bao giờ biết chuyện gì đã xảy ra và tại sao. Ngay cả Palma và Ruth và Barry có mặt ở đó cũng không thể nói mọi chuyện đổ bể chính xác ra sao. Từ những gì họ nhớ cho đến những gì báo chí tường thuật, dường như họ đang ở trên đường đông nghẹt xe và truck và Elk gắng đi vòng một xe móc kéo chở đầy bê. Không có xe nào trên xa lộ cho đến khi họ rẽ vào Poplar, và rồi giao thông kẹt cứng từ đèn đỏ phía đông lối ra xa lộ, xe cộ chung quanh họ, và với xe cộ là bao nhiêu phiền phức. Trong khi gã vượt xe móc kéo, một chiếc xe pickup xanh vượt gã, lấn vào dòng xe ngược lại và buộc chúng leo lề. Xe pickup xanh cắt ngang ngay trước mũi xe móc kéo đầy bê. Anh chàng xe móc kéo thắng và Elk tông vào xe móc kéo khá mạnh, mạnh đến nỗi Palma nói mũi cô ta chảy máu. Josanna la hét chuyện xe truck của cô và dây buộc kiện rơm ở chốt cài nắp xe lỏng ra và nắp xe nhấp nhô lên xuống vài phân như con cá sấu có mồi trong miệng. Nhưng Elk đang cáu, gã không ngừng, vòng sang bên cạnh xe móc kéo và đuổi chiếc xe pickup xanh đã vào đường 20-26 và chạy hết ga về phía tây. Josanna hét Elk, gã quạu lắm rồi, Ruth nói, mắt gã gần như toé máu. Ngay sau Elk là xe móc kéo bê chớp đèn và bóp còi.

Elk bắt kịp xe truck xanh khoảng tám dặm sau đó và ép nó xuống rãnh, tấp xe vào chặn đầu nó. Đằng xa, ánh đèn của xe móc kéo bê ào ào chạy đến. Elk nhảy ra và bổ nhào đến xe pickup xanh. Tài xế say thuốc coke. Người ngồi cạnh hắn, một con nhỏ mảnh khảnh mặc chiếc áo đầm nhạt, ra khỏi xe và la hét, ném đá vào xe truck của Josanna. Elk và tên tài xế đánh nhau, trượt té trên đường, gầm gừ, và Barry và Ruth và Palma lảo đảo tìm cách kéo họ ra. Rồi tên chở bê, Ornelas, từ sao Hoả hét vọng đến.

Ornelas làm cho nhà máy điện Natrona thứ Hai đến thứ Sáu, có việc thứ nhì là sửa yên ngựa buổi tối, và cuối tuần cố gắng làm việc ở một trại nhỏ gã thừa hưởng của mẹ. Khi Elk đụng gã, gã đã không ngủ hai đêm, mới uống xong lon bia thứ tám và đã mở lon thứ chín. Ở tiểu bang này uống rượu và lái xe là hợp lệ. Người ta phải biết suy xét.

Sau đó, cảnh sát nói rằng Ornelas gây ra cớ sự vì khi gã ra khỏi xe truck gã cầm súng trường nhắm chung chung về phía Elk và tài xế xe pickup, Fount Slinkard, và phát súng đầu tiên bắn thủng kính sau của Slinkard. Slinkard hét bạn đồng hành của hắn lấy cho hắn khẩu .22 trên giá súng nhưng cô ta đang co quắp cạnh bánh xe trước, hai tay ôm đầu. Barry hét, coi chừng nghe cao bồi, chạy băng qua đường. Không có xe nào. Slinkard hay con nhỏ đi cùng xe với Slinkard có khẩu .22 nhưng đánh rơi. Ornelas bắn nữa và trong tiếng ồn và nỗi sợ của lúc đó không ai hiểu đâu là nguyên nhân đâu là hậu quả. Ai đó nhặt khẩu .22 của Slinkard lên. Barry say trong rãnh bên kia đường và không thể thấy gì nhưng nói anh ta đếm được ít nhất bảy phát súng. Một trong mấy người phụ nữ thét lên. Ai đó nện còi. Mấy con bê kêu rống và xô vào bên hông xe móc kéo, một con bị trúng đạn và mùi máu trong đó.

Khi cảnh sát đến, Ornelas đã bị bắn xuyên qua cổ và tuy không chết gã không còn hát hò nổi. Elk đã chết. Josanna đã chết, khẩu Blackhawk nằm trên mặt đất bên dưới cô.

Bạn biết tôi nghĩ sao không? Như Riley có thể nói, tôi nghĩ Josanna thấy cơ hội của mình và nắm lấy nó. Bạn ơi, xuôi theo thúc đẩy đen tối dễ hơn là bạn tưởng.

 

Nguyên tác: The Lonely Coast

bài đã đăng của Annie Proulx


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)