Trang chính » Sáng Tác, Truyện ngắn Email bài này

núi oằn lưng


♦ Chuyển ngữ:
1 bình luận ♦ 9.11.2011

 

 

 

Ennis Del Mar thức giấc trước năm giờ, gió lắc lư căn nhà móc kéo, rít quanh kẽ cánh cửa nhôm và khung cửa sổ. Hai chiếc áo sơ mi treo trên một cái đinh rung nhè nhẹ trong gió lùa. Anh dậy, gãi vạt lông bạc ở bụng và mu, lê chân đến lò ga, đổ cà phê thừa vào cái chảo men mẻ; ngọn lửa cuốn lấy nó trong màu xanh. Anh vặn vòi nước và tiểu vào bồn rửa chén, mặc áo sơ-mi và quần jean, mang đôi giày ủng mòn, nện gót lên sàn để luồn hẳn chân vào. Gió thổi lộng suốt chiều dài lượn cong của căn nhà móc kéo và anh nghe tiếng cát sỏi lạo xạo dưới triền gió hú. Chắc sẽ khó kéo xe móc chở ngựa trên xa lộ. Anh phải thu xếp và rời khỏi chỗ này sáng hôm nay. Trại đã rao bán lần nữa và họ đã chở đi con ngựa cuối cùng, trả tiền mọi người ngày hôm trước, người chủ thả chìa khóa vào tay Ennis, nói, “Đưa cho bọn cá mập nhà đất, tui chuồn đây.” Có thể anh sẽ phải ở với con gái đã lấy chồng cho đến anh khi tìm ra việc khác, nhưng anh tràn ngập cảm giác hân hoan vì anh đã thấy Jack Twist trong mơ.

Cà phê cũ sôi lên nhưng anh bắt kịp trước khi nó trào ra ngoài, đổ nó vào chiếc tách cáu cặn và thổi lên làn nước đen, để một mảnh của cơn mơ trượt đến. Nếu anh không chú tâm, nó có thể khơi dậy ngày qua, hâm nóng lại thời xưa lạnh lẽo trên núi khi họ sở hữu thế giới và dường như không có điều gì sai lạc. Gió quất vào căn nhà móc kéo như đống đất trút xuống từ xe đổ, dịu đi, ngưng hẳn, để lại sự im lặng tạm thời.

* * *

Họ lớn lên trong những trại nhỏ, nghèo ở hai đầu tiểu bang, Jack Twist ở Lightning Flat trên biên giới Montana, Ennis Del Mar chung quanh Sage, gần biên giới Utah, cả hai là trai quê bỏ dở trung học, không có triển vọng, lớn lên cùng công việc nặng nhọc và sự thiếu thốn, cử chỉ thô lậu, ăn nói thô lậu, đã quen cuộc sống chai lì. Ennis được anh chị nuôi lớn sau khi cha mẹ lạc tay lái ở khúc quanh duy nhất trên đường Dead Horse, để lại hai mươi bốn đô la tiền mặt và căn trại hai nợ cầm cố, năm mười bốn tuổi anh xin chứng nhận hoàn cảnh khó khăn để có thể lái xe một tiếng từ trại đến trường trung học. Xe pickup cũ, không có máy sưởi, kính xe chỉ còn một cái gạt nước và bánh xe tồi; khi hộp số hư không có tiền để sửa. Anh đã muốn là học sinh lớp mười, thấy mấy chữ đó nghe oai, nhưng trước đó không lâu thì xe truck nằm đường, ném thẳng anh vào việc trại.

Năm 1963, khi anh gặp Jack Twist, Ennis đã đính hôn với Alma Beers. Jack và Ennis cùng khoe đang dành dụm tiền để mua một miếng đất nhỏ; với Ennis điều đó có nghĩa là một lon thuốc lá có hai tờ năm đô la. Mùa xuân năm đó, cần việc làm bất kể là việc gì, họ ký với Tuyển Dụng Nông Trang–trên giấy tờ là người chăn và người giữ trại cho cùng một trại cừu ở phía bắc Signal. Vùng thả mùa hè nằm cao quá hàng cây trên đất của Sở Lâm Nghiệp ở núi Oằn Lưng. Đó là mùa hè thứ nhì của Jack Twist trên núi, thứ nhất của Ennis. Họ cùng chưa đến hai mươi.

Họ bắt tay trong chiếc xe móc kéo nhỏ và ngột ngạt dùng làm văn phòng, trước cái bàn ngổn ngang giấy tờ ghi chép, một gạt tàn Bakelite vun ngọn mẩu thuốc. Màn cửa chớp treo lệch, để lọt vào một mảnh tam giác ánh sáng trắng, bóng bàn tay người cai đi vào đó. Joe Aguirre, tóc gợn sóng màu tro thuốc chẻ giữa, cho họ biết quan điểm của mình.

“Sở Lâm Nghiệp có chỗ cắm trại riêng trên mấy lô đất. Mấy trại đó có thể cách nơi mình thả cừu một hai dặm. Cừu mất nhiều vì thú dữ, không ai ở gần để coi chừng ban đêm. Tao muốn là, người giữ trại ở trại chính như Sở Lâm Nghiệp nói, nhưng NGƯỜI CHĂN–chỉ Jack bằng cái vung tay–lén dựng lều với đám cừu, chỗ khuất, và nó sẽ NGỦ đó. Ăn bữa tối, bữa sáng ở trại, nhưng NGỦ VỚI ĐÁM CỪU, trăm phần trăm, KHÔNG LỬA, ĐỪNG để lại DẤU VẾT. Cuốn lều mỗi sáng lỡ khi Sở Lâm Nghiệp rình. Mang mấy con chó, khẩu .30-.30 của mày, ngủ ở đó. Hè rồi mất tiêu gần hai mươi lăm phần trăm. Tao không muốn vậy nữa. MÀY,” hắn nói với Ennis, nhìn mái tóc bù, bàn tay to có vết trầy xước, quần jean rách, áo không đủ nút, “Thứ Sáu mười hai giờ trưa xuống chỗ cây cầu với danh sách cho tuần tới và mấy con la. Sẽ có người trong xe pickup với hàng tiếp tế.” Hắn không hỏi xem Ennis có đồng hồ không nhưng lấy một cái đồng hồ tròn rẻ tiền buộc dây bện trong một cái hộp trên ngăn kệ cao, lên giây và bắt giờ, quăng cho anh như thể anh không đáng cái với tay. “SÁNG MAI tụi tao sẽ lái xe truck chở tụi bay đến điểm khởi đầu.” Hai thằng ngớ ngẩn chẳng làm nên trò gì.

Họ tìm thấy một quán rượu và uống bia suốt buổi chiều, Jack kể cho Ennis nghe chuyện cơn bão chớp trên núi năm ngoái đã giết bốn mươi hai con cừu, mùi hôi lạ lùng của chúng và chúng trương lên như thế nào, sự cần thiết có nhiều whiskey trên đó. Anh bắn được một con ưng, anh nói, quay đầu khoe chiếc lông đuôi trong dải mũ. Thoạt nhìn Jack khá bảnh bao với mái tóc xoăn và cái miệng hay cười, nhưng so với dáng người nhỏ con, anh nặng phần hông, và nụ cười của anh lộ ra hàm răng thỏ, không đến mức anh có thể ăn bắp rang trong bình cao cổ, nhưng khá rõ ràng. Anh mê cuộc sống rodeo và thắt dây lưng bằng khoá cưỡi bò hạng nhỏ, nhưng ủng anh mòn vẹt, thủng hết mức vá, và anh mong được ở nơi nào đó, bất cứ nơi nào ngoại trừ Lightning Flat.

Ennis, mũi khoằm và khuôn mặt hẹp, vẻ bê bối và ngực hơi lõm vào, thân mình nhỏ cân bằng trên hai chân dài khẳng khiu, người nhiều bắp thịt và mềm dẻo thích hợp cho cưỡi ngựa và đánh lộn. Phản xạ của anh rất nhanh nhạy và anh khá viễn thị nên không thích đọc bất cứ cái gì ngoài sách quảng cáo yên cương của công ty Hamley.

Xe truck chở cừu và xe móc kéo chở ngựa xuống hàng ở đầu con đường mòn và một gã người Basque chân vòng kiềng chỉ Ennis cách chất hàng lên con la, mỗi con hai gói và một gói hàng trên lưng buộc quanh bằng hai nút thoi đôi và thắt chặt bằng nút cẳng ngỗng, bảo anh,”Đừng bao giờ đòi xúp. Thùng xúp khó xếp lắm.” Ba con chó con của một trong mấy con chó chăn cừu Úc vào trong một giỏ đựng hàng, con nhỏ nhất trong áo khoác của Jack, vì anh thích chó con. Ennis lựa con ngựa màu hạt dẻ tên Cigar Butt để cưỡi, Jack thì một con ngựa cái hồng sau này anh mới biết dễ bị giật mình. Chuỗi ngựa dư có một con grullo màu nâu nhạt với dáng vẻ Ennis thích. Ennis và Jack, lũ chó, ngựa và la, một ngàn cừu cái và cừu con tuôn lên đường mòn như nước đục chảy qua rừng, lên quá hàng cây vào những đồng cỏ lớn đầy hoa và không ngớt gió.

Họ dựng lều lớn trên nền của Sở Lâm Nghiệp, cột chặt bếp và thùng thức ăn. Cả hai ngủ ở trại đêm đầu tiên, Jack đã cằn nhằn về lệnh ngủ-với-cừu-và-không-lửa của Joe Aguirre, dù anh không nói gì nhiều khi đóng yên con ngựa cái hồng trong buổi sáng u ám. Bình minh đến với màu cam trong vắt, bên dưới viền một dải xanh lá cây nhạt. Khối núi đen màu muội than nhạt dần cho đến khi cùng màu với khói trong lửa nấu ăn sáng của Ennis. Không khí lạnh ấm lại, sỏi đùm và đất vụn tạo nên những chiếc bóng thuôn dài bất ngờ và những cây thông thẳng đứng bên dưới họ chụm lại trong những mảng đá malachite ảm đạm.

Trong ngày, nhìn qua vực rộng, Ennis đôi khi thấy Jack, một chấm nhỏ đi qua cao nguyên như con bọ đi qua khăn trải bàn; Jack, trong trại tối của anh, thấy Ennis như lửa đêm, một đốm đỏ sáng trên khối đen khổng lồ của núi.

Một buổi chiều tối Jack lê bước về, uống hai chai bia ướp lạnh trong một cái túi ướt bên phía lều có bóng mát, ăn hai tô thịt hầm, bốn bánh nướng cứng như đá của Ennis, một hộp đào, cuốn điếu thuốc, nhìn mặt trời xuống.

“Tao đi đi về về bốn tiếng một ngày,” anh rầu rĩ nói. “Về ăn sáng, trở lại với cừu, tối cho nó đi ngủ, về ăn tối, trở lại với cừu, mất hết nửa đêm dựng dậy coi chừng sói đồng. Đúng ra tao phải ngủ ở đây. Aguirre không có quyền bắt tao làm vầy.”

“Mày muốn đổi không?” Ennis nói. “Tao không ngại chăn. Tao không ngại ngủ ngoài đó.”

“Đó không phải là vấn đề. Vấn đề là, đáng lẽ cả hai đứa mình phải ở trại này. Cái lều nhỏ trời đánh đó có có mùi như nước đái mèo hay cái gì ghê hơn nữa.”

“Tao không ngại ở ngoài đó.”

“Nói mày nghe, ngoài đó ban đêm mày phải dậy chục lần vì sói đồng. Đổi thì tao mừng nhưng báo trước với mày tao nấu ăn không ra gì. Mở đồ hộp.thì khá”

“Vậy không thể tệ hơn tao. Rồi, tao không ngại làm đâu.”

Họ đẩy lùi đêm một tiếng đồng hồ với ngọn đèn dầu vàng và khoảng mười giờ Ennis cưỡi Cigar Butt, một con ngựa giỏi đi đêm, qua làn sương giá lấp lánh trở lại với lũ cừu, mang theo bánh nướng còn dư, một hũ mứt và hũ cà phê cho ngày hôm sau, nói anh ở ngoài đến bữa tối để bớt được một chuyến đi.

“Tao bắn một con sói đồng lúc hừng sáng,” anh bảo Jack tối hôm sau, vừa nói vừa vả nước nóng vào mặt, xoa xà bông và hy vọng dao cạo râu còn cắt được, trong khi Jack gọt vỏ khoai tây. “Con sói bự thấy ghê. Dái cỡ trái táo. Tao dám cá nó đã lấy đi vài con cừu non. Coi bộ nó ăn nổi một con lạc đà. Mày muốn chút nước nóng không? Nhiều lắm.”

“Của mày hết.”

“Tao sẽ rửa mọi thứ tao với tới được,” anh nói, cởi ủng và quần jean (không quần lót, không vớ, Jack để ý), vung chiếc khăn màu xanh quanh người cho đến khi lửa bắn xèo xèo.

Họ dùng bữa tối vui vẻ bên đống lửa, mỗi người một hộp đậu, khoai tây chiên và uống chung một lít whiskey, ngồi dựa lưng vào khúc cây, đế ủng và nút đồng quần jean hực nóng, chuyền nhau chai rượu trong khi bầu trời tím nhạt phai dần và hơi lạnh đổ xuống, uống, hút thuốc, thỉnh thoảng đứng dậy đi tiểu, ánh lửa ném những tia lấp lánh vào vòng cung nước tiểu, quăng những cành cây vào lửa để tiếp tục câu chuyện, nói về ngựa và rodeo, ngày hội gia súc, những lần chí tử và thương tích đã bị, tàu ngầm Thresher thất lạc hai tháng trước với tất cả thủy thủ và những phút định mệnh cuối cùng phải như thế nào, những con chó mỗi người có và biết, quân dịch, trại nhà Jack ba má anh cố giữ, chỗ của gia đình Ennis bị dẹp nhiều năm trước khi ba má anh chết, anh Ennis ở Signal và chị có chồng ở Casper. Jack nói ba anh đã từng là người cưỡi bò khá nổi tiếng hồi xưa nhưng giữ bí quyết một mình, không bao giờ cho Jack một lời khuyên, không đến xem Jack cưỡi bò lần nào, dù ông đã đặt anh trên lưng cừu khi anh còn bé. Ennis nói anh thích loại cưỡi lâu hơn tám giây và có mục đích. Tiền là một mục đích hay, Jack nói, và Ennis phải đồng ý. Họ tôn trọng ý kiến của nhau, cùng vui vì có bạn bất ngờ. Cưỡi ngựa ngược gió về với bầy cừu trong ánh sáng chập chờn ẩn hiện, Ennis nghĩ anh chưa bao giờ vui như vậy, thấy như mình có thể cào màu trắng khỏi mặt trăng.

Mùa hè tiếp tục và họ dời bầy cừu đến đồng cỏ mới, chuyển trại; khoảng cách giữa bầy cừu và trại mới xa hơn và chuyến cưỡi đêm dài hơn. Ennis cưỡi dễ dàng, ngủ mở mắt, nhưng thời gian anh cách bầy cừu càng lúc càng kéo dài. Tiếng kèn harmonica của Jack oang oang rè, hơi lạc vì cái ngã từ con ngựa cái hồng hay sợ, và Ennis có giọng khàn hay; vài tối họ hát sai lời sai điệu đôi ba bài hát. Ennis biết lời tục của bài “Ngựa Màu Dâu.” Jack thử một bài nhạc Carl Perkins, rống lên “tôi noioiói,” nhưng anh thích một bài thánh ca buồn, “Jesus Đi Trên Nước,” học của mẹ anh, người tin Lễ Quá Hải, anh hát chậm thở than, làm mấy con sói đồng xa xa kêu ăng ẳng.

“Ra với bọn cừu mắc toi thì trễ rồi,” Ennis nói, choáng váng say bò càng lúc trời lạnh giá và mặt trăng đã quá mức hai. Những tảng đá trên đồng cỏ tỏa màu trắng xanh và ngọn gió rét thổi ngang, tạt lửa thấp xuống, rồi xáo nó lên thành những dải lụa vàng. “Mày có chăn dư thì tao cuốn chăn ngoài này chợp mắt một chút, rồi cưỡi ngựa ra lúc hừng sáng.”

“Khi lửa tàn mày sẽ lạnh cóng đít. Ngủ trong lều tốt hơn.”

“Không chắc tao cảm thấy gì.” Nhưng anh lảo đảo đến dưới tấm vải che lều, cởi ủng, ngáy trên tấm trải một lúc, hàm răng đánh lập cập làm Jack thức giấc.

“Chúa ơi, đừng nện búa nữa, qua đây. Chăn đủ lớn mà.” Jack nói bằng giọng ngái ngủ quạu quọ. Nó đủ lớn, đủ ấm, và không bao lâu sau thân mật của họ sâu đậm hơn khá nhiều. Chơi hay làm Ennis đều hết ga, và anh không chịu khi Jack chụp tay trái của anh và đưa nó đến dương vật cương cứng của mình. Ennis giật tay ra như chạm phải lửa, quỳ dậy, cởi khoá lưng, kéo quần xuống, lật úp Jack và, với chất nhờn và một chút nước bọt, dấn vào người Jack, chuyện anh chưa bao giờ làm nhưng không cần chỉ dẫn. Họ tiếp tục trong im lặng ngoại trừ vài tiếng thở dốc và giọng nghẹt hơi của Jack “súng nổ,” rồi ra, xuống, và ngủ.

Ennis thức dậy trong bình minh đỏ, quần quanh gối, nhức đầu kinh khiếp, và Jack dựa bên mình; không nói gì, họ cùng biết thời gian còn lại của mùa hè sẽ như thế nào, mặc xác lũ cừu.

Và thật như vậy. Họ không bao giờ nói về chuyện làm tình, để nó xảy ra, thoạt tiên chỉ trong lều ban đêm, rồi giữa ban ngày với mặt trời nóng chiếu xuống, và buổi tối trong ánh lửa sáng, nhanh, bạo, tiếng cười và khịt mũi, không thiếu tiếng động, nhưng không nói một chữ trời đánh nào ngoại trừ một lần Ennis nói, “Tao không phải lại cái,” và Jack nhảy vào “Tao cũng vậy. Lần này thôi. Chuyện của tụi mình, không dính tới ai.” Chỉ có hai người trên núi bay trong không gian hân hoan buốt cóng, nhìn xuống lưng con ưng và ánh đèn xe cộ bò trên đồng bằng phía dưới, lơ lửng trên những chuyện bình thường và xa khỏi lũ chó trại thuần hóa sủa trong đêm tối. Họ tưởng họ vô hình, không biết một ngày kia Joe Aguirre theo dõi họ mười phút bằng ống nhòm 10×42, đợi cho đến lúc họ cài nút quần jean, đợi cho đến khi Ennis cưỡi ngựa trở lại với bầy cừu, trước khi mang tin lên rằng gia đình Jack nhắn là cậu Harold của anh đã vào bệnh viện vì sưng phổi và chắc sẽ không qua khỏi. Dù vậy ông cậu rồi qua khỏi, và Aguirre lại lên để nói vậy, nhìn Jack chăm chăm với cái nhìn trơ tráo, không buồn xuống ngựa.

Tháng Tám Ennis ở trại chính suốt đêm với Jack và trong một trận bão mưa đá gió dữ, bầy cừu chạy về phía tây và lẫn vào một bầy trong khu đất khác. Trong năm ngày khốn khổ, Ennis và gã chăn người Chile không biết tiếng Anh tìm cách lựa chúng ra, công việc gần như vô vọng vì lớp sơn làm dấu đã tróc và phai đi lúc cuối mùa này. Ngay cả khi số cừu đúng, Ennis biết bầy cừu đã bị lẫn lộn. Tất cả mọi chuyện dường như lẫn lộn một cách bất an.

Tuyết đầu mùa đến sớm, ngày mười ba tháng Tám, chất lên ba tấc, nhưng tan nhanh. Tuần sau Joe Aguirre nhắn họ mang cừu xuống–một trận bão khác, lớn hơn đang đến từ Thái Bình Dương–và họ thu dọn trò chơi và xuống núi với bầy cừu, đá lăn dưới gót chân, mây tím đùn phía tây và mùi kim loại của tuyết đang đến dục họ đi nhanh. Ngọn núi sôi sục năng lực ma quỷ, phủ ánh sáng chập chờn qua kẽ mây, gió luồn trong cỏ, dội tiếng ầm ừ hoang dã khi qua khu rừng còi cọc và đá nứt. Trong khi họ xuống triền dốc, Ennis cảm thấy anh đang từ từ ngã chúi xuống, không thể nào gượng lại được.

Joe Aguirre trả tiền họ, không nói nhiều. Hắn nhìn bầy cừu lộn xộn với vẻ không vui, nói, “Có mấy con chưa bao giờ lên đó với tụi bay.” Số đếm cũng không như hắn hy vọng. Mấy thằng bợm ở trại không bao giờ làm khá.

“Hè tới mày làm nữa không?” Jack nói với Ennis trên đường, một chân đã đặt trên chiếc pickup màu xanh của mình. Gió giật mạnh và lạnh.

“Có lẽ không.” Một đám bụi mỏng dâng lên che mờ không khí và anh nheo mắt. “Tao có nói, Alma và tao sẽ cưới tháng mười hai. Sẽ ráng kiếm việc trại. Còn mày?” Anh lảng mắt ra khỏi cằm Jack, bầm xanh vì cú đấm mạnh của Ennis trong ngày cuối cùng.

“Nếu không có gì khá hơn. Định lên chỗ ba tao, giúp ổng qua mùa đông, rồi có thể đi Texas mùa xuân. Nếu tao không bị bắt lính.”

“Vậy, gặp mày đâu đó, ha.” Gió lăn một cái túi thức ăn gia súc rỗng trên đường cho đến khi nó ngừng dưới xe truck của anh.

“Ờ,” Jack nói, và họ bắt tay, vỗ vai nhau, rồi ở giữa họ là khoảng cách mười mấy thước và không còn chuyện gì khác ngoài chuyện lái xe đi về hai hướng ngược nhau. Chưa đến một dặm, Ennis cảm thấy như có ai lôi ruột anh ra từng khúc một. Anh ngừng bên đường và, trong tuyết đầu mùa quay cuồng, gắng nôn nhưng không nôn được gì. Anh cảm thấy khổ sở quá đỗi và lâu lắm cảm giác đó mới phai đi.

Tháng chạp Ennis lấy Alma Beers và làm chị có bầu giữa tháng giêng. Anh có vài việc trại không bền, rồi ổn định với việc cao bồi ở chỗ Elwood Hi-Top phía bắc Lost Cabin ở Hạt Washakie. Anh vẫn làm ở đó tháng chín khi Alma, Jr., tên anh đặt cho con gái, ra đời và phòng ngủ của họ nồng mùi máu khô và sữa và phân con nít, tiếng la khóc và nút và rên ngái ngủ của Alma, tất cả với một người làm việc với gia súc là nỗi an lòng về sự màu mỡ và tiếp diễn của cuộc sống.

Khi Hi-Top thất bại họ dọn về một căn chung cư nhỏ ở Riverton bên trên một tiệm giặt. Ennis vào đội làm việc trên xa lộ, chịu đựng công việc nhưng cuối tuần làm ở Rafter B để đổi lấy chỗ nuôi ngựa của anh. Con gái thứ nhì ra đời và Alma muốn ở trong thị trấn gần bệnh xá vì đứa nhỏ bị suyễn.

“Ennis, xin anh, đừng có cái trại đơn độc mắc toi nào nữa,” chị nói, ngồi trên gối anh, quàng hai cánh tay gầy có tàn nhang quanh người anh. “Mình tìm chỗ trong thị trấn nghe?”

“Cũng được,” Ennis nói, luồn tay lên tay áo chị và lùa lông nách mịn, rồi đặt nhẹ chị xuống, ngón tay dời lên sườn đến bộ ngực mềm, qua bụng tròn và đầu gối và vào kẽ ướt tận đến bắc cực hoặc xích đạo tùy theo bạn nghĩ bạn đang lướt sóng hướng nào, tiếp tục cho đến khi chị rùng mình và cong người trong tay anh và anh lật chị úp xuống, làm nhanh chuyện chị ghét. Họ ở trong căn chung cư bé xíu anh thích vì có thể bỏ đi lúc nào cũng được.

Mùa hè thứ tư sau mùa hè ở núi Oằn Lưng đến và tháng Sáu Ennis nhận lá thư được giữ lại cho anh ở bưu điện từ Jack Twist, dấu hiệu anh còn sống sau từng đó thời gian.

Bạn, thư này trễ nhiều rồi. Mong mày nhận được. Nghe nói mày ở Riverton. Sẽ đi ngang ngày 24, tao định dừng và mua cho mày lon bia. Nếu được thì gửi tao vài hàng, nói mày có ở đó hay không.

Địa chỉ trả lời là Childress, Texas. Ennis viết lại, Chắc chắn rồi, cho địa chỉ Riverton.

Hôm đó buổi sáng nóng, trời trong, nhưng đến trưa mây đã đùn lên từ phía tây, đẩy đằng trước chút không khí oi bức. Ennis mặc chiếc áo sơ-mi đẹp nhất của mình, màu trắng với sọc đen lớn, không biết lúc nào Jack sẽ đến và vì thế đã nghỉ làm cả ngày, đi qua đi lại, nhìn xuống con đường bạc màu bụi. Alma nói gì đó về chuyện dẫn bạn đến Knife&Fork ăn tối thay vì nấu ăn nếu họ kiếm được người giữ trẻ vì trời nóng quá, nhưng Ennis nói chắc anh sẽ đi với Jack và uống say. Jack không phải là người thích ăn tiệm, anh nói, nghĩ đến hai cái thìa dơ thò ra ngoài hai hộp đậu lạnh chông chênh trên khúc gỗ.

Chiều tối, sấm gầm gừ, chiếc pickup màu xanh ngày xưa lăn bánh đến và anh thấy Jack ra khỏi xe truck, mũ Resistol cũ mèm hất ra sau. Ennis bật lên như bị bỏng và anh ra đầu cầu thang, kéo cửa đóng lại sau lưng. Jack nhảy hai bậc một lên thang. Họ chụp vai nhau, ôm cứng, siết nhau đến nghẹt thở, nói, thằng mắc toi, thằng cà chớn, rồi, dễ dàng như chiếc chìa xoay đúng ổ khoá, miệng họ nhập lại, mạnh, răng thỏ của Jack làm chảy máu, mũ của anh rơi xuống sàn, hàng râu lởm chởm chà sước da, nước miếng vã ướt, và cánh cửa mở ra và Alma nhìn bờ vai căng lên của Ennis vài giây rồi đóng cửa lại và họ vẫn còn ôm chặt, áp ngực và háng và đùi và chân vào nhau, dẫm lên ngón chân nhau cho đến khi họ rời ra để thở và Ennis, không thích những lời âu yếm, nói như anh nói với ngựa và con gái của anh, cưng nhỏ.

Cánh cửa lại mở ra vài phân và Alma đứng trong luồng sáng hẹp.

Anh nói được gì đây? “Alma, đây là Jack Twist, Jack, vợ tao, Alma.” Ngực anh phập phồng. Anh có thể ngửi thấy Jack–mùi quá đỗi quen thuộc của thuốc lá, mồ hôi nồng và chút vị ngọt thoang thoảng như cỏ, và cái lạnh của ngọn núi ào tới cùng với nó. “Alma,” anh nói, “Jack và anh không gặp nhau bốn năm rồi.” Như thể đó là lý do. Anh mừng vì ánh sáng ở đầu cầu thang mờ nhưng không quay mặt đi.

“Chắc rồi,” Alma nhỏ giọng. Chị đã thấy điều chị thấy. Sau lưng chị, trong căn phòng, lằn chớp chiếu sáng cửa sổ như một tấm khăn trắng phất phơ và đứa nhỏ khóc.

“Mày có con?” Jack nói. Bàn tay run rẩy của anh chạm phớt qua tay Ennis, luồng điện loé lên giữa họ.

“Hai con gái,” Ennis nói. “Alma Jr. và Francince. Thương tụi nó chết luôn.” Miệng Alma giật giật.

“Tao có con trai,” Jack nói. “Tám tháng. Nói mày biết, tao lấy một cô Texas xinh xắn dưới Childress–Lureen.” Từ nhịp rung của sàn gỗ chỗ họ đang đứng, Ennis có thể cảm thấy Jack run đến độ nào.

“Alma,” anh nói. “Jack và anh ra ngoài uống rượu. Nhậu và nói chuyện, không chừng không về tối nay.”

“Được rồi,” Alma nói, lấy tờ một đô la từ túi áo. Ennis đoán chị sẽ nhờ anh mua bao thuốc lá, tìm cách mang anh về sớm hơn.

“Mừng được gặp chị,” Jack nói, run như con ngựa chạy hết hơi.

“Ennis–” Alma nói bằng giọng khổ sở, nhưng không làm anh xuống thang chậm hơn và anh nói vói lại, “Alma, em muốn thuốc lá thì có vài điếu trong túi áo xanh của anh trong phòng ngủ.”

Họ đi bằng xe truck của Jack, mua chai whiskey và hai mươi phút sau ở trong Motel Siesta nhún cái giường. Vài nắm mưa đá lanh canh trên cửa kính, theo sau là mưa và gió trợt đập cánh cửa không cài ở phòng bên cạnh từ đó đến suốt đêm.

Căn phòng nồng mùi tinh dịch và thuốc lá và mồ hôi và whiskey, thảm cũ và rơm chua, da yên ngựa, cứt và xà bông rẻ tiền. Ennis nằm dạng hai chân, cạn sức và ướt đẫm, thở sâu, vẫn nửa cương cứng, Jack thổi mạnh những đám mây thuốc lá như cá voi xịt nước, và Jack nói, “Chúa ơi, nó sướng như vậy chắc vì mày cưỡi ngựa nhiều. Mình phải nói chuyện này. Tao thề có chúa tao không biết mình sẽ nhảy vô lại chuyện này–ờ, tao biết. Là lý do tao ở đây. Tao biết mà. Vượt đèn đỏ hết quãng đường, vẫn không thấy đủ nhanh.”

“Tao không biết mày ở chỗ quỷ nào,” Ennis nói. “Bốn năm, tao gần bỏ cuộc luôn. Tao đoán mày bực vì cú đấm.”

“Bạn,” Jack nói, “Tao ở Texas làm rodeo. Tao gặp Lureen vì vậy. Nhìn sang cái ghế coi.”

Trên lưng chiếc ghế bẩn màu cam anh thấy chiếc khoá lưng lấp lóe. “Cưỡi bò?”

“Ờ. Tao kiếm được ba ngàn đô mắc toi năm đó. Đói thấy tiá. Trừ bàn chải đánh răng còn cái gì cũng phải mượn mấy thằng khác. Lái mòn đường ngang dọc Texas. Nửa thời gian là dưới cái xe truck quỷ để sửa nó. Dù sao, tao chưa từng nghĩ đến chuyện thua cuộc. Lureen hả? Có nhiều tiền. Ông già của cổ có. Cơ sở làm ăn máy móc nông nghiệp. Dĩ nhiên ổng không cho cổ cầm tiền, và ổng ghét tao thấu xương, bởi vậy bây giờ khó khăn nhưng một ngày gần đây–”

“Mày nhắm đâu thì đi đó. Quân đội không bắt mày hả?” Tiếng sấm vọng xa xa phía đông, dần xa hơn theo những vòng sáng đỏ.

“Họ xài tao không nổi. Mấy đốt xương sống bị bẹp nát. Và nứt chấn thương, xương cánh tay chỗ này, mày biết khi cưỡi bò mình luôn luôn giơ ngang đùi?–nó rạn một chút mỗi lần mày cưỡi. Dù mày bó vải kỹ mày vẫn làm nó nứt ra mỗi lần một chút. Nói mày nghe, sau đó nhức như quỷ. Có lần chân gãy. Ba chỗ. Từ con bò văng xuống, nó bự và nhảy cao, nó hất tao văng sau ba giây đúng và nó rượt tao và nó chắc chắn nhanh hơn. Cũng còn hên. Bạn tao bị thử dầu với cây nhúng là cái sừng và thế là xong đời. Một đống những thứ khác, xương sườn gãy, trặc gân và đau, gân rách. Coi, đâu phải như thời ba tao. Bây giờ là mấy thằng có tiền học đại học, dân thể tháo gia có huấn luyện. Bây giờ mày phải có tiền để làm rodeo. Ông già Lureen sẽ không cho tao một xu nếu tao bỏ cuộc, trừ phi tao bỏ cuộc chuyện khác. Và bây giờ tao biết đủ về trò chơi nên tao thấy tao sẽ không bao giờ khá. Mấy lý do khác nữa. Tao chuồn lúc tao còn đi nổi.”

Ennis kéo tay Jack đến miệng, rít một hơi thuốc, thở ra. “Tao thấy mày còn nguyên vẹn chớ có sao đâu. Mày biết không, tao ngồi đây nãy giờ ráng nghĩ coi tao có phải là–? Tao biết tao không phải. Ý tao là, cả hai đứa mình có vợ con, đúng không? Tao thích làm với phụ nữ, thật đó, nhưng chúa ơi, không giống vầy chút nào. Tao chưa bao giờ nghĩ đến chuyện làm với thằng nào khác nhưng tao chắc chắn đã vắt nó trăm lần trong khi nghĩ tới mày. Mày có làm với mấy thằng khác không, Jack?”

“Không đâu,” Jack nói, dù anh đã cưỡi thứ khác ngoài bò đực, không chơi một mình. “Mày biết mà. Oằn Lưng nắm tụi mình trong tay và rõ ràng chuyện chưa xong. Mình phải tính coi giờ mình làm quỷ gì đây.”

“Mùa hè đó,” Ennis nói. “Lúc mình chia tay sau khi mình được trả tiền tao bị thắt ruột đến nỗi tao phải tấp vào ráng mửa ra, tao nghĩ tao ăn cái gì hư ở cái chỗ ở Dubois. Mất gần một năm tao mới đoán ra tao không nên để mày biến mất. Lúc đó trễ quá cỡ rồi.”

“Bạn,” Jack nói. “Mình có tình huống đây. Phải tính coi mình làm gì.”

“Tao nghi mình không làm được gì,” Ennis nói. “Ý tao là, Jack, mấy năm qua tao đã vun quén cuộc sống. Thương mấy đứa con tao. Alma hả? Không phải lỗi của cổ. Mày có con và vợ, chỗ bên Texas. Tao với mày, với nhau, không thể đàng hoàng nếu chuyện xảy ra hồi nãy”–anh hất đầu về phía căn chung cư–”túm lấy mình như vậy. Mình làm vậy không đúng chỗ là mình chết. Cái này không có giây cương. Làm tao sợ muốn tiểu ra quần.”

“Tao phải nói cho mày biết, bồ tèo, mùa hè đó có thể có người nhìn thấy mình. Tao trở lại tháng Sáu năm sau, nghĩ tới chuyện làm lại–tao không làm lại, mà vù đi Texas–Joe Aguirre ở trong văn phòng và hắn nói với tao, hắn nói, ‘Tụi bay kiếm ra cách qua thời giờ trên đó, ha?’ và tao gờm gờm nhưng lúc tao đi ra tao thấy hắn có ống nhòm bự tổ chảng treo lủng lẳng ở kính chiếu hậu.” Anh bỏ bớt không nói rằng tên cai đã ngả người dựa vào chiếc ghế dựa gỗ cót két, nói, Twist, tụi bay không phải được trả tiền để tụi bay hái hoa và mặc lũ chó canh chừng bầy cừu, và không chịu mướn anh lại. Anh tiếp tục, “Ờ, tao không ngờ tới cú đấm của mày. Tao chưa bao giờ nghĩ mày sẽ đánh lén.”

“Tao lớn lên với anh tao K.E., hơn tao ba tuổi, ngày nào cũng đập tao khùng luôn. Ba tao chán cảnh tao la khóc trong nhà và khi tao khoảng sáu tuổi ổng đặt tao ngồi xuống và nói, Ennis, mày có vấn đề và mày phải giải quyết, nếu không nó sẽ còn đó cho đến lúc mày chín mươi và K.E. chín mươi ba. Tao nói, ảnh bự con hơn. Ba tao bảo, mày phải làm nó bất ngờ, đừng nói gì với nó, làm cho nó đau, rút lẹ và làm vậy hoài cho đến khi nó hiểu. Không có gì làm người ta nghe rõ hơn là làm cho người ta đau. Thế là tao làm vậy. Tao uýnh ảnh trong cầu tiêu, nhào vô ảnh trên cầu thang, qua bên gối của ảnh lúc ảnh đang ngủ ban đêm và đập ảnh thiệt dữ. Mất hai ngày. Từ đó không bao giờ có lộn xộn với K.E. nữa. Bài học là, đừng nói gì và làm cho lẹ.” Điện thoại reo trong phòng bên cạnh, reo và reo, ngừng đột ngột giữa hồi chuông.

“Mày không bắt được tao lần nữa đâu,” Jack nói. “Nghe nè. Tao đang nghĩ, nói mày nghe, nếu tao và mày có cái trại nhỏ, chăn nuôi bò bê, ngựa của mày, sống vậy sướng. Tao có nói, tao sẽ bỏ rodeo. Tao không phải thằng cưỡi cháy túi nhưng tao không có đủ tiền đợi cho qua lần tuột dốc này và tao không có đủ xương để bị gãy hoài. Tao tính xong xuôi rồi, có kế hoạch, Ennis, mình sẽ làm thế nào thì được, tao với mày. Ông già của Lureen, dám cá ổng sẽ cho tao một mớ nếu tao biến. Đã nói gần gần như vậy–”

“Ê, ê, ê. Không được đâu. Không được. Tao bị kẹt chuyện của tao, kẹt trong vòng thắt của chính mình. Không ra được. Jack, tao không muốn giống như mấy người đàn ông mình đôi khi gặp. Và tao không muốn chết. Dưới chỗ gần nhà tao trước có hai ông già làm trại chung, Earl và Rich–ba tao hay nói này kia khi gặp họ. Họ là trò cười dù họ là mấy tay khá dữ dội. Tao đâu đó chín tuổi lúc người ta tìm thấy Earl chết trong rãnh nước. Tụi nó đánh ổng bằng gậy sắt thay bánh xe, đá ổng bằng đinh thúc ngựa, kéo lê ổng vòng quanh bằng con cu cho tới khi nó rớt ra, một đống bầy nhầy máu me. Gậy sắt thay bánh xe làm người ổng như dính cà chua cháy cùng khắp, mũi gãy vì lết trên sỏi.”

“Mày thấy hả?”

“Ba tao muốn chắc ăn là tao sẽ thấy. Mang tao tới coi. Tao và K.E.. Ba tao cười. Quỷ sứ, không chừng dám là ổng làm chớ ai. Nếu ổng còn sống và thò đầu vào cửa ngay bây giờ mày có thể chắc ăn ổng sẽ đi lấy gậy sắt thay bánh xe. Hai thằng sống chung? Không được. Cùng lắm là thỉnh thoảng mình gặp nhau xa xa đâu chỗ khỉ ho cò gáy–”

“Bao lâu là thỉnh thoảng?” Jack nói. “Thỉnh thoảng mỗi bốn năm mắc toi?”

“Không,” Ennis nói, nhịn không hỏi đó là lỗi của ai. “Tao chúa ghét thấy mày lái đi sáng mai và tao trở lại làm việc. Nhưng nếu mình không làm gì được thì mình phải chịu,” anh nói. “Khỉ. Tao từng nhìn người ta ngoài đường. Cái này có xảy ra cho người khác không? Rồi họ sẽ làm gì?”

“Chuyện này không xảy ra ở Wyoming và nếu có thì tao không biết họ làm gì, có lẽ đi Denver,” Jack nói, ngồi dậy, quay mặt đi, “và tao cóc cần biết. Ennis, thằng mắc dịch, nghỉ một hai ngày đi. Ngay bây giờ. Mình đi khỏi đây. Quăng đồ của mày lên sau xe truck của tao rồi mình lên núi. Một hai ngày. Gọi Alma và nói với cổ mày đi. Nghe, Ennis, mày mới bắn rớt chiếc máy bay ước vọng của tao–cho tao cái gì đó coi. Chuyện này không phải chuyện nhỏ.”

Tiếng chuông điện thoại nghèn nghẹt lại bắt đầu trong phòng bên cạnh, và như để trả lời, Ennis nhấc điện thoại trên bàn cạnh giường, quay số của chính mình.

Sự mòn ruỗng dần dà lan ra giữa Ennis và Alma, không có vấn đề gì rõ rệt, chỉ là dòng nước đang lớn dần. Chị làm việc thu tiền ở chợ, thấy rằng với số tiền Ennis kiếm được chị sẽ phải luôn luôn làm việc để đủ tiền tiêu. Alma yêu cầu Ennis dùng túi ngừa thai vì chị sợ có thai lần nữa. Anh không chịu, nói anh sẵn sàng để chị yên nếu chị không muốn có con với anh nữa. Chị lầm bầm, “Em sẽ có nếu anh lo được cho chúng.” Và không nói ra, nghĩ, dù sao đi nữa, cái anh thích làm đâu có tạo ra nhiều trẻ con.

Nỗi tức tối của chị mỗi năm mỗi toác ra một chút: vòng tay ôm chị đã thoáng nhìn thấy, Ennis đi câu cá một hai lần mỗi năm với Jack Twist và không bao giờ đi nghỉ với chị và hai con gái, anh không thích đi ra ngoài chơi, khao khát làm việc trại lương thấp, nhiều giờ, thường lăn vào cạnh tường và ngủ ngay sau khi nằm xuống, không kiếm được việc làm lâu dài lương khá với chính quyền hạt hay công ty điện, đẩy chị vào cái ngã chậm xuống khoảng sâu, và khi Alma Jr. chín tuổi và Francine bảy tuổi chị nói, mình lẩn quẩn bên anh ta làm gì đây, ly dị Ennis và lấy chủ chợ Riverton.

Ennis trở lại với việc trại, làm thuê đây đó, không khá hơn nhưng vui vẻ vì lại được quanh quẩn gia súc, tự do bỏ việc, nghỉ luôn nếu cần, và đi vào núi không cần báo trước. Anh không căm giận, chỉ mơ hồ cảm thấy thiệt thòi, và muốn tỏ ra mọi chuyện không sao, ăn bữa tối lễ Tạ Ơn với Alma và chủ chợ và bọn trẻ, ngồi giữa hai cô con gái và nói chuyện ngựa với chúng, kể chuyện cười, gắng không là người cha ủ ê. Sau phần bánh nướng tráng miệng Alma gọi anh vào bếp, vừa gạt thức ăn vụn ra khỏi đĩa vừa nói chị lo lắng cho anh và anh nên thành hôn lần nữa. Anh thấy chị có thai, anh đoán khoảng bốn, năm tháng.

“Đã bị bỏng một lần,” anh nói, dựa người vào quầy bếp, cảm thấy thân thể mình quá lớn so với căn phòng.

“Anh vẫn đi câu cá với Jack Twist?”

“Chút chút.” Anh nghĩ chị sẽ cào mất hoa vẽ trên đĩa.

“Anh biết không,” chị nói, và nghe giọng chị anh biết sắp có chuyện, “em vẫn thắc mắc tại sao anh không bao giờ mang con cá nào về nhà. Anh luôn nói anh bắt được nhiều lắm. Bởi vậy đêm trước một trong mấy chuyến đi của anh em mở thùng câu của anh—năm năm rồi mà giá tiền vẫn còn trên thùng–và em cột một mảnh giấy vào đầu sợi dây câu. Nó ghi, chào Ennis, mang vài con cá về, thương, Alma. Và rồi anh trở lại và nói anh bắt một đống cá nâu và ăn hết. Anh nhớ không? Khi có dịp em nhìn vào thùng và mẩu giấy của em vẫn còn cột ở chỗ cũ và sợi dây đó chưa đụng nước bao giờ.” Như thể chữ “nước” đã gọi tên bà con trong nhà của nó, chị vặn vòi nước, tráng đĩa.

“Cái đó không có nghĩa gì.”

“Đừng xạo, đừng tìm cách lừa em, Ennis. Em biết nó có nghĩa gì. Jack Twist hả? Jack Tởm. Anh và hắn–”

Chị đã vượt quá giới hạn của anh. Anh chụp cổ tay chị; lệ ứa ra và lăn xuống, một cái đĩa loảng choảng.

“Im đi,” anh nói. “Lo chuyện của em đi. Em không biết gì hết.”

“Em sẽ hét gọi Bill.”

“Em làm đi. La hét nữa đi. Anh sẽ cho nó đo ván, em cũng vậy.” Anh vặn tay chị thêm lần nữa, để lại lằn rát bỏng quanh cổ tay, chụp ngược mũ lên đầu, đi ra và đóng sập cửa. Anh đến quán rượu Black And Blue Eagle tối đó, uống say, ẩu đả rồi bỏ đi. Anh không tìm cách gặp hai con gái một thời gian dài, đoán rằng chúng sẽ tìm anh khi chúng nó biết chuyện và đủ tuổi để rời khỏi nhà Alma.

Họ không còn là những chàng trẻ tuổi với tất cả tương lai trước mặt. Jack mập ra ở vai và đùi, Ennis vẫn gầy như cây cột treo quần áo, hè cũng như đông đi đôi ủng mòn, mặc quần jean và áo sơ mi, thêm áo khoác vải bố khi trời lạnh. Một cục thịt lành mọc trên mí mắt anh làm nó trông sụp suống, cái mũi bị gẫy khi lành lệch qua một bên.

Năm này qua năm khác, họ lần đường qua những đồng cỏ cao và khe núi, đi ngựa vào Big Horns, Medicine Bows, cực nam của Gallatins, Absarokas, Granites, Owl Creeks, rặng Bridger-Teton, Freezeouts và Shirleys, Ferrises và Rattlesnakes, rặng Sông Salt, vào Sông Wind nhiều lần, Sierra Madres, Gros Ventres, Washakies, Laramies, nhưng không bao giờ trở lại Oằn Lưng.

Dưới Texas ba vợ của Jack chết và Lureen thừa hưởng cơ sở nông cụ, tỏ ra có tài quản lý và thương lượng. Jack thấy mình có một chức danh quản lý mơ hồ, đi dự những buổi trưng bày máy móc nông nghiệp và gia súc. Bây giờ anh có chút tiền và tìm cách tiêu trong những chuyến mua hàng. Chút giọng Texas lẫn vào câu nói của anh, “bò” vặn thành “boò” và “vợ” nói thành “dzợ.” Anh đi mài và bịt mấy răng cửa, nói anh không thấy đau, và hoàn tất bằng cách để bộ râu mép rậm.

Tháng năm 1983 họ trải qua vài ngày lạnh lẽo trên vùng cao ở một chuỗi hồ nhỏ vô danh tuyết phủ, rồi vượt qua khe sông Hail Strew.

Đường lên, ngày tốt trời nhưng con đường ngập tuyết và ướt nhẹp bên lề. Họ bỏ nó để vòng vèo qua một vùng cây mới đốn, dẫn mấy con ngựa qua những cành cây giòn. Jack, vẫn chiếc lông chim ưng trên chiếc mũ xưa, ngẩng đầu trong buổi trưa nóng để hít không khí thơm mùi nhựa thông, lá thông khô mục và đá nóng, dâu thông đắng vỡ nát dưới vó ngựa. Ennis, quen nhìn thời tiết, nhìn về phía tây tìm đám mây đùn có thể tụ lại trong một ngày như vậy, nhưng Jack nói, màu xanh không đáy, nhìn lên anh có thể chết đuối.

Khoảng ba giờ họ vòng qua đường đèo hẹp đến triền núi đông nam có nắng mùa xuân ấm, xuống trở lại con đường mòn không có tuyết ở bên dưới. Từ xa họ đã nghe thấy tiếng dòng sông thầm thì và tiếng còi xe lửa xa xa. Hai mươi phút sau họ bắt gặp một con gấu đen ở bờ phía trên họ đang lăn khúc cây để tìm sâu, và ngựa của Jack giật mình và chồm hai chân trước, Jack nói “Nè! Nè!” và con ngựa hồng của Ennis nhảy quanh và khịt mũi nhưng không bỏ chạy. Jack với lấy khẩu .30-.06 nhưng điều ấy không cần thiết; con gấu giật mình chạy vào rừng với dáng cục mịch, trông như sắp rời ra từng mảnh.

Dòng sông lẫn tuyết tan màu nước trà chảy xiết, sủi đầy bọt ở mỗi phiến đá cao, những chỗ trũng và bờ lõm ngập nước. Liễu cành màu đất son khẽ lắc lư, hoa đuôi sóc đã thụ phấn như dấu tay màu vàng. Hai con ngựa uống nước và Jack xuống ngựa, vốc nước lạnh giá trong tay, những giọt nước trong vắt rơi xuống từ ngón tay anh, miệng và cằm anh bóng ướt.

“Làm vậy sẽ bị sốt hải ly,” Ennis nói, rồi thêm, “Chỗ này cũng được,” nhìn mặt bằng bên trên dòng sông, hai ba vòng lửa của những trại săn cũ. Phía sau mặt bằng là đồng cỏ thoai thoải dốc, có hàng thông che. Nhiều củi khô. Họ lặng lẽ dựng trại, cột ngựa trong đồng cỏ. Jack xé dấu niêm một chai whiskey, uống một ngụm cay dài, thở hắt ra, nói, “Đó là một trong hai thứ tao cần lúc này,” đậy nắp và quăng cho Ennis.

Sáng ngày thứ ba có những đám mây Ennis dự đoán, một cụm mây xám từ phía tây lướt nhanh đến, phía trước là một lằn tối mang theo gió và những bông tuyết nhỏ. Sau một giờ, tuyết dịu đi thành làn tuyết nhẹ mùa xuân chất cao ướt và nặng. Đến tối trời lạnh hơn. Jack và Ennis chuyền điếu thuốc qua lại, đống lửa cháy đến khuya, Jack không yên và cằn nhằn trời lạnh, dùng cành cây khơi lửa, xoay nút chiếc máy radio bán dẫn cho đến khi hết pin.

Ennis nói anh đang lăng nhăng với một cô làm bán thời gian ở quán rượu Wolf Ears ở Signal nơi anh đang làm cho đội bò bê của Stoutamire, nhưng chuyện không đi đến đâu và cô ta có những vấn đề anh không muốn. Jack nói anh đang lẹo tẹo với vợ của một người chủ trại gần nhà ở Childress và mấy tháng gần đây anh lén lén lút lút, đinh ninh sẽ bị Lureen hay thằng chồng bắn. Ennis bật cười và nói anh có lẽ đáng đời. Jack nói anh sống tạm được nhưng đôi khi anh nhớ Ennis nhiều đến nỗi muốn đánh đòn trẻ con.

Mấy con ngựa hí trong bóng tối bên ngoài vòng lửa sáng. Ennis quàng tay qua người Jack, kéo anh lại gần, nói anh gặp con gái mỗi tháng một lần, Alma Jr. mười bảy tuổi, nhút nhát và có chiều cao cây đậu của anh, Francine sống động. Jack luồn bàn tay lạnh của mình vào giữa hai chân Ennis, nói anh lo cho đứa con trai, chắc chắn bị bệnh khó đọc và viết hay gì đó, không làm được gì ra hồn, mười lăm tuổi và gần như không biết đọc, anh có thể nhìn thấy mặc dù Lureen mắc toi không chịu nhận và giả vờ như thằng nhỏ không sao, không chịu tìm cách chữa trị. Anh không biết câu trả lời là quỷ gì. Lureen cầm tiền và quyết định mọi việc.

“Tao hay muốn có con trai,” Ennis nói, cởi nút, “nhưng chỉ có con gái.”

“Tao chẳng muốn trai hay gái,” Jack nói. “Nhưng chẳng có gì theo ý tao. Không có gì đến tay tao cho ra hồn.” Không đứng dậy, anh quăng gỗ chết vào lửa, tàn lửa bay lên với sự thật và dối trá của họ, vài đốm lửa nóng rớt lên mặt lên tay họ, không phải lần đầu, và họ lăn xuống đất. Một điều không bao giờ thay đổi: rung cảm rực rỡ của những lần hiếm hoi họ đến với nhau, vẩn gợn bóng tối của nhận thức rằng thời gian đang vút qua, không bao giờ đủ thời gian, không bao giờ đủ.

Một hai ngày sau, trong bãi đậu xe ở đầu đường mòn, ngựa đã chất vào xe móc kéo, Ennis đã sẵn sàng trở về Signal, Jack lên Lightning Flat thăm ông già. Ennis nghiêng người vào cửa kính xe của Jack, nói điều anh lần lữa cả tuần không nói, rằng chắc anh không thể đi được trước tháng mười một, sau khi họ gửi gia súc đi và trước lúc kỳ cho ăn mùa đông bắt đầu.

“Tháng mười một. Chuyện quỷ gì xảy ra với tháng tám? Nói mày nghe, mình nói tháng tám, khoảng chín, mười ngày. Chúa ơi, Ennis! Sao mày không nói trước? Mày có một tuần mắc toi để nói vài câu. Và tại sao mình luôn luôn ở trong thời tiết lạnh như quỷ? Mình phải làm cái chi đó. Mình phải đi về hướng Nam. Một ngày nào đó mình phải đi Mexico.”

“Mexico? Jack, mày biết tao mà. Xưa giờ tao chỉ đi vòng quanh ấm cà phê kiếm cái tay cầm. Và tao sẽ chạy máy đóng kiện rơm suốt tháng tám,vấn đề với tháng tám là thế. Bớt nhăn nhó đi, Jack. Tháng mười một mình có thể săn, giết một con nai ngon lành. Để tao thử mượn căn cabin của Don Wroe lần nữa. Năm đó mình vui ghê.”

“Bạn, mày cũng biết đây là tình huống không vừa ý chút nào. Thường mày đi được dễ dàng. Bây giờ gặp mày giống như gặp Giáo Hoàng vậy.”

“Jack, tao phải làm việc. Lúc trước tao thường bỏ việc luôn. Mày có vợ giàu, việc tốt. Mày quên lúc nào cũng túng tiền là như thế nào. Mày có bao giờ nghe tới tiền cấp dưỡng nuôi con chưa? Tao trả bao nhiêu năm rồi và sẽ còn trả dài dài. Tao nói mày nghe, tao không bỏ được việc này. Và tao không thể lấy ngày nghỉ. Lần này nghỉ đã khó–có mấy con bò cái sanh trễ. Mày không bỏ tụi nó được. Mày không bỏ được. Stoutamire hay la lối và hắn làm trời làm đất về chuyện tao nghỉ một tuần. Tao không trách hắn. Từ lúc tao đi chắc hắn không ngủ được đêm nào. Tháng tám là trao đổi cho lần này. Mày có ý kiến nào hay hơn không?”

“Có lần tao có.” Giọng nói cay đắng và cáo buộc.

Ennis không nói gì, chậm rãi đứng thẳng dậy, xoa trán; một con ngựa dậm chân trong xe móc kéo. Anh bước đến xe truck của mình, đặt tay lên xe móc kéo, nói điều gì chỉ có mấy con ngựa nghe, quay trở về với vẻ chủ đích.

“Mày có đi Mexico hả, Jack?” Chính là Mexico. Anh có nghe. Bây giờ anh đang cắt rào, lấn vào vùng bắn bỏ.

“Ờ, tao đi rồi. Có sao không?” Gồng mình chờ điều ấy suốt bao nhiêu năm và bây giờ nó đến, trễ và bất ngờ.

“Tao phải nói cái này với mày một lần, Jack, tao không có giỡn chơi. Chuyện tao không biết,” Ennis nói, “mọi chuyện tao không biết có thể giết mày nếu tao biết ra.”

“Thử cái này coi,” Jack nói, “và tao chỉ nói một lần thôi. Nói mày nghe, mình có thể sống chung cuộc sống vui vẻ, thiệt là vui vẻ. Mày không muốn, Ennis, bởi vậy bây giờ mình chỉ có núi Oằn Lưng. Mọi thứ xây trên đó. Mình chỉ có vậy thôi, bao nhiêu đó thôi, bởi vậy tao mong mày biết điều đó nếu mày không bao giờ biết hết mọi chuyện. Đếm thử coi trong hai mươi năm mình gặp nhau được bao nhiêu lần. Nhắm thử coi mày kềm chế tao như thế nào, rồi hỏi tao về Mexico và rồi nói mày giết tao vì tao cần chuyện đó và hầu như không bao giờ có nó. Mày không hiểu được khổ ra sao. Tao không phải là mày. Tao không thể sống nổi chỉ với vài ba lần làm tình ở độ cao một hai lần mỗi năm. Mày quá đáng, Ennis, thằng mắc dịch. Tao ước chi tao biết cách bỏ mày.”

Như những vầng hơi nước mênh mông của suối nước nóng trong mùa đông, những năm dài của những điều không nói và bây giờ không nói được–thú nhận, tuyên ngôn, hổ thẹn, tội lỗi, sợ hãi–dâng lên chung quanh họ. Ennis đứng như thể bị bắn vào tim, mặt xám lại, nhăn nhúm những vết hằn sâu, mắt nhắm nghiền, nắm tay siết chặt, hai chân khụyu gối quỳ xuống đất.

“Jesus,” Jack nói. “Ennis?” Nhưng trước khi anh ra khỏi xe truck, đang tìm cách đoán xem là đột biến tim hay căm giận sôi trào, Ennis đứng dậy và bằng cách nào đó, như cái mắc áo được kéo thẳng ra để mở cửa xe bị khóa và rồi bẻ cong lại như hình dáng cũ, họ xoay mọi chuyện trở lại gần như trước, vì điều họ nói không có gì mới mẻ. Không có gì chấm dứt, không có gì bắt đầu, không có gì được giải quyết.

Điều Jack nhớ và khao khát, nỗi khao khát anh không hiểu được và không đừng được, là lần trong mùa hè xa xôi ở núi Oằn Lưng khi Ennis đến sau lưng anh và kéo anh lại gần, vòng tay yên lặng thoả mãn nỗi khát khao họ cùng chia sẻ, không vẩn gợn dục tính.

Họ đã đứng như vậy rất lâu trước đống lửa cháy tung lên những vệt sáng đỏ hồng, bóng họ nhập thành một trên phiến đá. Những phút trôi qua với tiếng tíc tắc của chiếc đồng hồ tròn trong túi Ennis, với những cành cây trong lửa dần lụi thành than. Những vì sao mờ đi qua hơi nóng gợn trên lửa. Hơi thở của Ennis chậm và yên ả, anh hát âm ư, đu đưa người nhè nhẹ trong ánh sáng lập lòe, và Jack dựa sát vào nhịp tim đều hoà, độ rung của tiếng âm ư như dòng điện nhẹ và, đứng đó, anh rơi vào giấc ngủ không hẳn là giấc ngủ mà là một trạng thái mơ màng và mê hoặc cho đến khi Ennis moi lại một câu cũ kỹ nhưng vẫn còn dùng được từ ấu thơ trước khi mẹ anh chết, “Cao bồi, đến lúc đi ngủ rồi, tao phải đi. Coi kìa, mày ngủ đứng như con ngựa,” và lắc người Jack, đẩy anh ra, đi vào bóng tối. Jack nghe đinh thúc ngựa của anh rung nhẹ khi anh lên ngựa, mấy chữ “ngày mai gặp,” và cái khịt mũi rung mình của con ngựa, tiếng móng gõ trên đá.

Sau này, vòng tay mơ ngủ đó đông lại trong ký ức anh như khoảnh khắc duy nhất của niềm hạnh phúc đơn sơ, kỳ diệu trong cuộc sống xa cách và khó khăn của họ. Không có gì làm vẩn đục nó, ngay cả nhận thức rằng lúc đó Ennis không muốn ôm anh mặt đối mặt vì không muốn thấy hay cảm thấy rằng người anh ôm là Jack. Và có lẽ, anh nghĩ, họ sẽ không bao giờ đi xa hơn thế bao nhiêu. Thôi đành, thôi đành.

Ennis không biết tai nạn xảy ra cho đến khi, nhiều tháng sau, tấm bưu thiếp anh gửi cho Jack nói rằng có vẻ như tháng mười một vẫn là cơ hội đầu tiên trở về, đóng dấu QUA ĐỜI. Anh gọi số điện thoại của Jack ở Childress, điều anh chỉ làm một lần trước đó khi Alma ly dị anh và Jack đã hiểu lầm lý do anh gọi, đã lái lên miền bắc một ngàn hai trăm dặm vô ích. Sẽ không sao, Jack sẽ trả lời, phải trả lời. Nhưng Jack không trả lời. Lureen trả lời và nói, ai? ai đó? và khi anh nói với chị lần nữa, chị nói bằng giọng bình tĩnh phải, bánh xe nổ khi Jack đang bơm bánh xe bị xẹp trên một con đường nhỏ. Không rõ tại sao vòng bánh bị hư và sức nổ đã đập niền bánh xe vào mặt anh, làm gãy mũi và cằm anh và khiến anh ngã ngửa ra sau bất tỉnh. Đến khi có người đi ngang qua, anh đã chết nghẹn trong máu của mình.

Không, anh nghĩ, người ta đã dùng gậy sắt thay bánh xe giết nó.

“Trước kia Jack hay nhắc tới anh,” chị nói. “Anh là bạn câu cá hay bạn săn, tui biết. Muốn báo cho anh,” chị nói, “nhưng tui không biết chắc tên và địa chỉ của anh. Jack giữ địa chỉ của phần lớn bạn trong đầu ảnh. Kinh khủng quá. Ảnh mới ba mươi chín tuổi.

Nỗi buồn mênh mang của những đồng bằng phương Bắc phủ xuống người anh. Anh không biết thật ra là gậy sắt thay bánh xe hay tai nạn, máu sặc xuống cổ họng Jack và không ai lật anh lại. Dưới tiếng gió vi vu anh nghe tiếng thép dội vào xương, tiếng vang nghèn nghẹt của niền bánh xe xoay chậm lại rồi ngưng hẳn.

“Nó chôn dưới đó hả?” Anh muốn nguyền rủa chị vì để Jack chết trên con đường đất.

Giọng Texas kéo dài qua đường dây. “Tụi tui có dựng bia. Ảnh hay nói ảnh muốn được thiêu, tro rải lên núi Oằn Lưng. Tui không biết nó ở đâu. Bởi vậy ảnh được thiêu, như ảnh muốn, và như tui nói, nửa phần tro chôn ở đây, phần còn lại tui gửi cho ba má ảnh. Tui nghĩ núi Oằn Lưng ở gần chỗ ảnh lớn lên. Nhưng theo như tui biết Jack, thì nó có thể là chỗ tưởng tượng có chim xanh hót và suối whiskey.”

“Tụi tui chăn cừu trên núi Oằn Lưng một mùa hè,” Ennis nói. Anh gần như không nói nên lời.

“Ui cha, ảnh nói đó là chỗ của ảnh. Tui tưởng ảnh muốn nói chỗ để say sưa. Uống whiskey trên đó. Ảnh uống nhiều lắm.”

“Ba má nó vẫn ở Lightning Flat hả?”

“Chớ sao. Họ sẽ ở đó tới chết. Tui chưa bao giờ gặp họ. Họ không xuống dự đám tang. Anh liên lạc với họ. Tôi đoán họ sẽ muốn thấy ước nguyện của ảnh được hoàn thành.”

Không còn nghi ngờ gì, cô nhã nhặn nhưng giọng nói nhỏ lạnh như tuyết.

* * *

Con đường đến Lightning Flat băng ngang vùng đất đìu hiu quá một chục trại bỏ hoang cách nhau khoảng tám, mười dặm trên đồng bằng, những căn nhà mắt rỗng đứng trong cỏ dại, vòng rào thú xiêu đổ. Hộp thư đề John C. Twist. Trại nhỏ nghèo nàn, cây đại kích lá to mọc lấn khắp nơi. Gia súc ở xa quá nên anh không thấy chúng ra sao, chỉ biết chúng là lọai bò baldy đen. Hàng hiên trải trước căn nhà nhỏ trát vữa màu nâu, bốn phòng, hai dưới, hai trên.

Ennis ngồi ở bàn bếp với ba của Jack. Mẹ của Jack, đậm người và cử chỉ cẩn thận như thể đang phục hồi sau một ca mổ, nói, “Chắc cháu muốn uống cà phê? Miếng bánh anh đào?”

“Cám ơn dì. Cháu uống cà phê, nhưng không ăn được bánh bây giờ.”

Ông già ngồi im lặng, hai tay xếp trên khăn bàn ny lông, nhìn Ennis chằm chằm với vẻ giận dữ và hiểu biết. Ennis nhận ra ông là loại khá thông thường thích độc tài. Anh thấy Jack không giống hai người bao nhiêu, hít vào.

“Cháu rất buồn về chuyện Jack. Không nói nên lời. Cháu biết nó lâu rồi. Cháu đến để nói với dì dượng là nếu dì dượng muốn cháu mang tro cốt của nó lên núi Oằn Lưng như vợ nó nói là nó muốn thì cháu sẽ sẵn sàng.”

Im lặng. Ennis hắng giọng nhưng không nói gì thêm.

Ông già nói, “Nói mày nghe. Tao biết núi Oằn Lưng ở đâu. Nó tưởng nó hay ho đến nỗi không chôn được ở đất mộ gia đình.”

Mẹ Jack làm ngơ, nói, “Nó thường về nhà mỗi năm, ngay cả sau khi nó lấy vợ và ở dưới Texas, và giúp ba nó việc trại một tuần, sửa cổng và cắt cỏ và mọi thứ. Tui giữ phòng nó như lúc nó còn nhỏ và tui nghĩ nó thích như vậy. Cháu muốn lên phòng nó thì cứ đi.”

Ông già bực tức nói. “Tui không có ai phụ giúp ngoài này. Jack hay nói, ‘Ennis Del Mar,’ nó hay nói, ‘con sẽ mang ảnh lên một ngày gần đây và mình sẽ vực dậy cái trại mắc toi này.’ Nó có ý tưởng vớ vẩn là hai đứa bay sẽ dọn lên đây, xây nhà cabin gỗ súc và phụ tui làm trại này và dựng lại nó. Rồi, mùa xuân này nó có người khác sẽ đến đây xây nhà và phụ làm trại, một chủ trại hàng xóm của nó dưới Texas. Nó sẽ bỏ vợ và về đây. Nó nói vậy đó. Nhưng cũng như hầu hết dự định của Jack, nó không bao giờ xảy ra.”

Như thế anh đã biết là gậy sắt thay bánh xe. Anh đứng dậy, nói, cháu muốn coi phòng Jack là chắc rồi, nhớ lại một chuyện Jack kể về ông già này. Jack cắt quy đầu và ông già thì không; chuyện ấy làm bận lòng người con trai đã khám phá ra sự không đồng nhất về thể chất này trong một cảnh dữ dội. Anh khoảng ba, bốn tuổi, anh nói, luôn vào cầu tiêu muộn, vật lộn với nút, ghế cầu, chiều cao bồn cầu và thường đi tiểu ra chung quanh. Ông già nổi quạu và một lần giận điên lên. “Chúa ơi, ổng đập tao muốn lòi ruột, đánh tao ngã xuống sàn phòng tắm, đánh tao bằng dây lưng. Tao tưởng ổng sẽ giết tao. Rồi ổng nói, ‘mày muốn biết nước đái cùng khắp là sao không? Tao cho mày biết,’ và ổng kéo nó ra và đái lên tao, làm tao ướt đầm, rồi ổng quăng tao cái khăn lông và bắt tao chùi sàn, cởi quần áo ra giặt trong bồn tắm, giặt khăn lông, trong lúc tao la khóc lảm nhảm. Nhưng trong lúc ổng xịt tao thấy ổng có thứ tao không có. Tao thấy cái của tao cắt kiểu khác, như người ta cắt tai hay đóng dấu trại cho gia súc. Sau hôm đó giữa tao với ổng cứ làm sao đó.”

Phòng ngủ, ở đầu thang lầu dốc có nhịp điệu leo riêng, nhỏ và nóng, nắng chiều gay gắt đổ vào qua cửa sổ hướng tây, hắt lên chiếc giường con nít hẹp sát tường, một cái bàn lấm mực và chiếc ghế gỗ, một khẩu súng bắn hơi trên giá treo đẽo bằng tay phía trên cái giường. Cửa sổ nhìn xuống con đường trải sỏi chạy dài về hướng nam và anh chợt nghĩ trong những năm Jack lớn lên đây là con đường duy nhất Jack đã biết. Một tấm hình tạp chí rất cũ của một tài tử tóc đen nào đó dán trên tường cạnh giường, màu da đã đổi thành đỏ tía. Anh có thể nghe tiếng mẹ của Jack dưới lầu, đổ đầy ấm nước và để nó lại lên lò, hỏi ông già một câu loáng thoáng.

Tủ áo là một lỗ hổng cạn có thanh gỗ treo ngang, che bằng tấm màn vải phai màu trên một sợi dây. Trong tủ áo treo hai quần jean ủi nếp, treo gập đôi gọn ghẽ bằng mắc áo dây kẽm, trên sàn là đôi ủng cao cổ đã mòn anh nghĩ anh có nhớ. Ở phía bắc tủ áo, một vết lõm cạn của bức tường tạo thành một chỗ dấu hẹp và ở đó, cứng đơ vì treo lâu ngày trên cái đinh, là một chiếc áo. Anh nhấc nó ra khỏi cái đinh. Áo sơ mi cũ của Jack từ những ngày Oằn Lưng. Máu khô trên tay áo là máu của anh, máu mũi ào ra trong buổi chiều cuối cùng trên núi, trong lúc họ vặn vẹo vật lộn, đầu gối Jack thúc mạnh vào mũi Ennis. Máu khắp nơi, đầy người họ, Jack dùng tay áo chặn máu, nhưng không chặn được lâu vì Ennis bất ngờ vung tay và khiến thiên thần đang chăm sóc cụp cánh nằm dài trong đám hoa columbine dại.

Chiếc áo có vẻ nặng cho đến khi anh thấy có chiếc áo nữa ở bên trong, tay áo cẩn thận luồn trong tay áo của Jack. Đó là chiếc áo sơ mi ca rô của Ennis, anh cứ nghĩ đã lạc mất lâu lắm rồi trong một tiệm giặt mắc toi nào đó, chiếc áo dơ của anh, túi ngực rách, nút thiếu, Jack đã trộm và dấu ở đây trong áo của mình, hai chiếc áo như hai làn da, lồng vào trong nhau, hai như một. Anh áp mặt vào lớp vải và chầm chậm hít vào qua miệng và mũi, hy vọng ngửi thấy thoang thoảng mùi khói và lá xô thơm núi và mồ hôi ngọt mằn mặn của Jack, nhưng không có mùi gì rõ rệt, chỉ là ký ức về mùi hương, quyền năng tưởng tượng của núi Oằn Lưng đã không còn lại gì ngoài hai chiếc áo anh nắm trong tay.

* * *

Cuối cùng ông già độc tài không chịu buông tro cốt của Jack. “Nói mày nghe, tụi tui có phần mộ gia đình và nó sẽ vào đó.” Mẹ của Jack đứng ở bàn cắt ruột táo bằng một dụng cụ sắc, cạnh răng cưa. “Cháu đến nữa nghe,” bà nói.

Ennis chạy xe trên con đường lót ván gập ghềnh qua nghĩa trang vùng quê rào bằng dây kẽm cừu xiêu vẹo, một vuông đất nhỏ bé có rào chung quanh trên đồng cỏ bao la, một vài ngôi mộ tươi tắn với hoa ny lông, và không muốn biết Jack sẽ vào đó, để bị chôn vùi trên cánh đồng thương tiếc.

Ngày thứ bảy vài tuần sau anh quăng hết chăn ngựa dơ của Stoutamire lên sau xe truck và mang xuống chỗ rửa xe Quick Stop để xịt chúng bằng vòi nước mạnh. Khi mấy tấm chăn sạch còn ướt được xếp lại trên lòng xe truck, anh vào tiệm bán quà của Higgins và bận rộn bên giá bưu thiếp.

“Ennis, anh kiếm gì mà lục bưu thiếp?” Linda Higgins nói, quăng một miếng lọc cà phê rỉ nước vào thùng rác.

“Cảnh núi Oằn Lưng.”

“Bên quận Fremont?”

“Không, phía bắc.”

“Tui không đặt tấm nào. Để tui lấy danh sách đặt hàng. Họ có thì tui đặt cho anh một trăm tấm. Dù sau tui cũng cần đặt thêm thiệp.”

“Một tấm đủ rồi,” Ennis nói.

Khi nó đến–30 xu–anh gắn nó lên ở nhà móc kéo, ghim đinh đồng thau bốn góc. Bên dưới anh đóng một cái đinh và trên cái đinh anh treo chiếc mắc áo dây kẽm và hai cái áo treo trên mắc. Anh lùi lại và nhìn tất cả qua vài giọt lệ cay.

‘Jack, tao thề–” anh nói, dù Jack chưa bao giờ yêu cầu anh thề điều gì và chính anh cũng không thuộc loại người thề thốt.

Khoảng thời gian đó Jack bắt đầu đến trong giấc mơ của anh, Jack như thuở đầu anh gặp, tóc xoăn và hay cười và răng thỏ, nói về dự định làm chủ cuộc đời, nhưng lon đậu với cán thìa thò ra chông chênh trên khúc cây cũng có đó với hình dạng hí hoạ và màu sắc nhợt nhạt, khiến giấc mơ có một nét thô tục buồn cười. Cán thìa là loại có thể dùng làm cây sắt thay bánh xe. Và anh sẽ thức dậy, đôi khi trong nỗi đau buồn, đôi khi với cảm giác hoan lạc cũ; đôi khi chiếc gối ướt, đôi khi là khăn trải giường.

Có một khoảng trống bao la giữa điều anh biết và điều anh gắng tin, nhưng chẳng thể làm gì được, và nếu người ta không làm gì được, thì người ta phải chịu.

 

 

Nguyên tác: “Brokeback Mountain”

bài đã đăng của Annie Proulx


1 bình luận »

  • K Nguyen viết:

    Ai đã xem film nầy chắc chắn sẽ không quên được đoạn Ennis ôm vào lòng hai chiếc áo sơ-mi, the pair like two skins, one inside the other, two in one. And the last sentence of the story “if you can’t fix it you’ve got to stand it.”

    Cảm ơn Hồ Như đã chuyển sang lời Việt.

Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)