Trang chính » Biên Khảo, Đọc và Đọc lại Email bài này

đọc NEFELEJCS – ĐỪNG QUÊN EM của Nguyễn Hồng Nhung

 

 

 

A. MỞ

Thơ là âm-nhạc trong ngôn-ngữ rất tự-nhiên (a priori) của con người, mặc zù không fải ai cũng là thi-sĩ. Thơ hay (tuyệt vời) là đỉnh cao nhất của ngôn-ngữ, và thi-nhân đúng là một vũ-trụ nhỏ có trong tâm-hồn mình nhiều sợi “tơ” va vào cảm-jác để thành thơ.

Bài thơ sau đây của Szabó Lőrinc có cái tên Nefelejcs mà Hồng Nhung chuyển sang Việt-ngữ gọi là NefelejcsĐừng Quên Em.

 

B. NEFELEJCS – ĐỪNG QUÊN EM

Trong các loài hoa tôi yêu trước nhất Nefelejcs – Đừng Quên Em
xanh biếc: ôi cái tên xinh, biết trò chuyện thỏ thẻ
như muốn thổ lộ í ngĩa đóa hoa xinh:
như muốn van nài người khác lắng nghe
em muốn thế (chắc em cần như thế, đúng không
khi đã van nài?) rằng ĐỪNG QUÊN EM! Anh nghe
rất rõ, tiếng bầu trời trăm sắc, để đôi khi thì thầm
anh tự nhủ, hay anh không thì thầm nhỉ, chỉ
chờ đợi, vô cùng chờ đợi, tiếng tim anh nói hộ, hay từ tai anh:
anh không biết, có phải anh mường tượng?
hay anh đánh lừa hoa bằng thảng thốt tên hoa? … Nhưng
cho zù đánh lừa đi chăng nữa, anh đã tự yên lòng, bởi chút
giải bày chẳng là jì cả – bởi anh rất yêu hoa
sao quên được, anh, không bao giờ quên em được.

 

C. ĐỌC

Không thể nói tôi đọc thơ của Szabó Lőrinc. Thật jản-zị tôi không biết tiếng Hung.

Tôi đọc thơ của Hồng Nhung, vì ngôn-ngữ và chữ viết là tiếng Việt, và ngay cả tâm-tình, zù cho cảm-ứng của Hồng Nhung đến từ tác-fẩm của Lőrinc.

Chúng ta đọc Chinh-fụ Ngâm-khúc của Fan Huy-Ích (theo Hoàng Xuân Hãn), hay Đoàn thị Điểm, chứ chúng ta không đọc tác-fẩm đó bằng chữ Nho của Đặng Trần Côn. Hơn nữa, chính Fan Huy-Ích cũng đã xác-nhận là: “Nhân khi thanh nhàn ta fiên thành khúc mới.”

Thực tình chúng ta không biết ngôn-ngữ và tình-cảm của Lőrinc và Hồng Nhung gần-gũi và xa cách nhau thế nào trong bài Nefelejcs. Đây không fải là bản zịch trong lớp học để trắc-ngiệm khả-năng tiếng Hung. Đây là sáng-tạo.

Chúng ta nói về THƠ trong mọi ngôn-ngữ (languages), nhưng chúng ta không thể bảo THƠ trong ngôn-ngữ A jống THƠ trong ngôn-ngữ B. Cho nên câu nói “zịch là jiệt” rất đúng trong thơ. Zịch đúng là vô tình hay cố-í xóa bỏ Identity của chính-bản và thay thế bằng một Identity khác. Người zịch thơ bỗng nhiên trở thành tác-jả một bài thơ, nhất là bản-zịch là một tuyệt-fẩm.

Tôi thích tiếng thơ (âm-điệu) và cách jeo chữ trong bài NefelejcsĐừng Quên Em của Hồng Nhung. Tôi thích luôn cả bố-cục của bài thơ. Không hiểu vì sao, ngay cái đầu đề bài thơ cũng đã làm tôi lưu í.

Đầu-đề này có mấy vần? Xin thưa ngay nó có có sáu vần. Nếu tôi đặt nó vào thể “Lục Bát”, chúng ta sẽ thấy ngay:

Nefelejcs – Đừng Quên Em
Zù năm tháng đã khuây zần nhớ mong!1

Chữ “Nefelejcs” có ba âm hợp với ba âm Việt “Đừng quên em”. Thế nên, theo jai-điệu thơ Việt đầu đề đã là một câu thơ.

“Nefelejcs” là một chữ trong tiếng Hung, chúng ta nge chắc fải lạ tai, nhưng “Nefelejcs” nge ra độc-đáo. Nó gây cho người đọc một cảm-jác bâng-khuâng về cái tên. Chẳng hạn, tên của một người đẹp chưa bao jờ thấy ở cõi trần. Đúng thế! Họa may chỉ có những người như Hồng Nhung ở Hungary, và fải để í đến hoa, đến Nefelejcs, mới biết mà thôi.

Đối với chúng ta, Nefelejcs là một bí mật trở nên mông-lung và huyền hoặc rất tâm-đắc với cái mông-lung và huyền-hoặc của thơ – đặc-biệt trong bài “Đừng Quên Em” tiếng thơ thì thầm: “độc-thoại” hay “với ai” cũng chỉ là lối nói của tâm-tình.

Câu nói nào cũng có jai-điệu thấp cao – tôi ngĩ rằng ngay cả ở những ngôn-ngữ nge ra rất oái-oăm và lỗ mãng, Người Tầu trong thời Tiền Lê nhận xét rằng tiếng Việt nói nge “ríu rít như chim”, còn ngày nay người Anh-Mĩ lại liên-tưởng tiếng Việt nói ra như ca-hát (sing song).

Thế thì trong “Nefelejcs –Đừng Quên Em”, “Nefelejcs” là cung bậc cao, còn “Đừng Quên Em” là cung bậc thấp. Âm-hưởng nge rất riêng-tư nên rất trữ-tình. Có fải Hồng Nhung muốn thế không?

Í-muốn có thể ở trong thời-jan khoảnh-khắc lúc này, tức là kinh-ngiệm hay í-thức; hoặc í-muốn là vận-hành tiềm tàng chảy trong vô-thức. Nếu vậy, í-muốn fải là của một người. Trong í-muốn ấy có biết bao nhiêu biểu-trưng của người ấy (xin xem Đọc và Fê-bình Sein und Zeit của Heidegger, kì thứ tư, zo Nguyễn Quỳnh đề-án trên VCV).

Câu tiếp theo bắt đầu là hai âm “xanh biếc”. “Xanh biếc” rồi có hai chấm (:) thế thì những jì sau đó sẽ bổ ngĩa cho hình-zung từ “xanh biếc” – trong cảm-jác xa gần, trực-tiếp và ján-tiếp, biểu-thị, biểu-tượng, siêu-thực hay trừu-tượng?

“Xanh biếc” là quán-ngữ miêu-tả “tính-từ” và “trạng-từ”. Khi ta nói: “Trời xanh biếc” thì “xanh biếc” là tính-từ”. Nhưng nếu ta chỉ nói bâng-quơ: “rất là xanh biếc”; thì “xanh biếc” là trạng-từ chỉ sự mơ-hồ, thiên về cảm-xúc (emotive) hơn là mầu sắc.

“Xanh biếc:” trong bài thơ này là một gợi-í hơn là chỉ vào tính-chất, cho nên “xanh biếc” ở đây là “trạng-từ”.Trạng-từ trong tiếng Việt thường có hai tiếng (chữ) rất lung-linh. Bởi vậy fải nhìn vào nội-zung để biết hai tiếng (chữ) lung-linh ấy là tính-từ hay là trạng-từ, hay là nó thay đổi, bất-thường, qua lại như con thoi trong tai ta, rồi trở thành suy-tưởng của chúng ta. Tiếng thơ là tiếng đầy ám-ảnh, và bất-thường.2

“Xinh” và “đẹp” là hai vẻ ưa nhìn, nhưng không luôn luôn chỉ vào cùng một đối-tượng. Có đối-tượng “xinh” nhưng không “đẹp” và ngược lại. Vẻ “xinh” là vẻ zễ-thương hay đáng mến. Vẻ “đẹp” quyến rũ cái nhìn nhưng có loại “đẹp” xa cách và không gây cảm-jác êm đềm. Ta có thể nói “Xinh không ác đẹp không hiền.”

“Xanh biếc” có hai chấm (:) đưa người đọc đến cái ji sau đó? Đến “xinh” (záng vẻ), đến “thỏ-thẻ” (âm-thanh). Điều này khiến tôi tự hỏi những động-từ và tính-từ ở đoạn này là nguyên-ngữ tiếng Hung của Lőrinc hay là chữ-ngĩa của Hồng Nhung?

Bản-chất của mỗi ngôn-ngữ khác nhau, cho nên zù cùng một ngĩa, hai chữ trong hai ngôn-ngữ rất khác nhau. Chúng ta chỉ cần đọc lên hay nhìn vào hai chữ “beautiful” (Anh) và “đẹp” (Việt) sẽ rõ là ở vào hoàn-cảnh cao hơn trong thẩm-mĩ hai chữ này đòi hỏi vị-trí khác nhau trong tương quan với những chữ đứng gần chúng và với những âm bên cạnh chúng. Có như thế, “xinh” hay “đẹp” mới đưa ta tới một fương-trời thẩm-mĩ khiến ta đọc thơ hay nge thơ cảm ra một thứ tính tình.

Bây jờ chúng ta hãy bàn đến vài tiếng (chữ) khác trong bài Nefelejcs Đừng Quên Em của Hồng Nhung.

tiếng bầu trời trăm sắc. Làm sao có thể nge được tiếng trong không-jan, ngoại trừ những tiếng như sấm nổ hay tiếng chim kêu, mặc zù ở lúc hoàng-hôn là thời điểm có khi mầu sắc vô cùng rực rỡ. Thế thì chỉ là mường-tượng khi chính tiếng nói của người trong cuộc vang ra rồi lại vọng về.

Nếu vậy những tiếng như: “Ôi cái tên xinh…trò chuyện, thỏ thẻ …ĐỪNG QUÊN EM trong mộng lung zù độc-thoại nhưng tỏa khắp không-jan của người trong cuộc. Chính ở điểm của không-jan và cũng là thời-jan như thế âm-thanh và mầu-sắc mới rộn-ràng trong cái tâm siêu-thực (surrealistic) để thấy fi-lí (absurdity) lúc này chính là thực-tại.

mường tượng? Phải ở trong trạng-thái “có” và “không” lung-linh đến độ lí-trí “thấy” và cũng “không thấy” mới khiến cho người trong cuộc tự hỏi “có hay không?”

Nếu chỉ là tưởng-tượng thì có khi người trong cuộc không cần đặt câu hỏi, và cũng không cần đến câu trả lời. Ví-zụ có người nói thế này: “Tôi tưởng-tượng tôi là con thuyền đi đến cung-trăng.” Nói như thế tức là hành-động của lí-trí đang ngụy tạo ra một cái jì không-thực.

Trong ngôn-ngữ, “mường-tượng” vừa là “trạng-từ” vừa là “động-từ” và cũng có thể là ‘zanh-từ”. Trong khi ấy, “tưởng-tượng” không có ngĩa “trạng-từ”. “Trạng-từ” là chữ rất ưu-việt trong thi-ca, nhưng thường vắng mặt trong thế-jan zuy-lí.

thảng thốt tên hoa? Có lẽ đây là một câu hay nhất trong bài.

Vì văn-fạm trong thơ không theo qui-luật tất-định (deterministic), nên câu thơ sẽ có thể lướt rất nhanh để nắm bắt “mường-tượng” hay sẽ ngừng lại chập-chờn bất-định (indetermnistic) để người đọc “nhâm-nhi”.

Vậy thì, “thảng-thốt” có thể gợi lên một khoảng trống sau hai chữ đó, để hiểu ngầm có tiếng “gọi” như: “thảng thốt [gọi] tên hoa?” Nhưng vì “thảng thốt” là tính-từ kép, qúa mông-lung, nên người đọc có thể loay xoay xếp đặt theo tình cảm của mình. Theo đó: “thảng thốt tên hoa” có thể trở thành “hốt-hoảng [khi biết] tên hoa”, hay “bất ngờ gọi tên hoa”.

Zù thế nào cả bốn chữ “thảng thốt tên hoa” là một ziễn-tả lung-linh, mà người đọc nge xong cần iên-lặng. Từ iên-lặng lại trở về … lẩn thà lẩn thẩn. Có người bảo “say thơ” là thế.

Nói chung, Nefelejcs – Đừng Quên Em là bài thơ mềm mại với tâm-tình, lúc nhắn nhủ, lúc thỏ thẻ, lúc băn-khoăn. Đây là tình iêu đẹp và ngây thơ như bông hoa vừa nở, một thứ ần zụ thế này “có nhiều hoa, nhưng chỉ có một bông-hoa là đáng iêu thôi. Và rất mong-manh!”

Bài thơ tiếng Hung thế nào chúng ta không biết, và có khi ngay cả rất nhiều người Hung đọc Nefelejcs nhưng không cảm thấy mãnh-liệt trong lòng.

Nhưng Nefelejcs – Đừng Quên Em thực sự là của Hồng Nhung và là một bài thơ tuyệt-vời.

 

Gi-chú:

1. Câu thứ hai là chữ của tôi, để làm ví-zu.

2. Trong khi trạng-từ trong tiếng Anh, Fáp, Đức được nói hay viết theo thể khác nhau rõ ràng, ví-zụ: “profound” (tính-tự) “profoundly” (trạng-từ). Hai chữ “bâng-khuâng” trong tiếng Việt chỉ có một thể, được fân-biệt là tính-từ hay trạng-từ tùy vào nội-zung ziễn-tả. “Tâm-trạng bâng-khuâng.” (tính-từ). “Lòng nhẹ bâng-khuâng” (trạng-từ). Trong câu này “nhẹ” là tính-từ, còn “bâng-khuâng” là trạng-từ.
 

(El Paso. 2011.09.17)

bài đã đăng của Nguyễn Quỳnh


2 bình luận »

  • Quỳnh Thi viết:

    Thưa Giáo sư Nguyễn Quỳnh.

    Tôi có một thắc mắc đã lâu, nếu để mãi trong lòng thì ấm ức. Hôm nay nhân bài viết của ông bình luận về bài thơ Nefelejcs của tác giả Szabó Lõrine do Nguyễn Hồng Nhung dịch ra Việt Ngữ. Và cuối bài viết ông đã kết luận “Nefelecs – Đừng quên em thực sự là của Nguyễn Hồng Nhung và là một bài thơ tuyệt vời”.

    Trong bài viết trên. Phân tích văn phạm của ông về bài thơ và nhận xét của ông về bài thơ trên “là tuyệt vời”. Đó là nhận xét và quyền của ông, còn người đọc có đồng cảm hay không là một chuyện khác. Riêng tôi thì ngạc nhiên và thất vọng bởi ông là một giáo sư, một nhà nghiên cứu uyên bác về văn học và triết học, nhất là về Phật học mà tôi đã có dịp theo dõi tìm hiểu qua sách vở và trên các trang mạng điện tử chuyên về văn chương.

    Một bài thơ hay theo tôi, thì bài thơ đó, chỉ riêng nói về phần ngôn ngữ, phải cô đọng xúc tích và ẩn dụ, đấy là chưa kể những khía cạnh khác phải thuyết phục và rung động, cảm xúc, như nhạc tính, tư tưởng. . . thì mới gọi được là một bài thơ hay.

    Song bài thơ trên phần nhiều chúng ta không biết tiếng Hung, nhưng phần ngôn ngữ rườm rà, kể lể lê thê, thiếu cô đọng, không gợi được sự suy nghĩ sâu xa mường tượng nơi người đọc tuy tác giả có nhiều cảm xúc. Thì theo tôi không thể coi là “tuyệt vời” được.

    Bài thơ lời Việt “Đừng quên em” của Nguyễn Hồng Nhung giống như một bài thơ Tân Hình Thức (THT). Có khác chăng chỉ là tác giả không vắt dòng, còn thể thơ thì giống như một đoạn văn xuôi xúc tích không thể hiện đủ để tứ thơ toát ra. Chính vì vậy trước đây tôi đã là người làm thơ Tân Hình Thức và đã cộng tác với nhóm thơ THT đã xuất bản một quyển thơ, có tên là “Thơ Không Vần.” Nhưng đã từ lâu tôi không còn hào hứng là thơ THT nữa.

    Nhưng thôi, mỗi người đều có cách suy nghĩ và nhận xét riêng của mình. Ở đây tôi muốn bàn về cách dùng Mẫu tự 24 chữ cái A, B,C, D … của tiếng Việt chúng ta.

    Những từ ngữ như: Phải, ông Nguyễn Quỳnh viết là Fải, (mặc) dù = Zù, cảm (giác) giác = Jác, giản (dị) Dị= Zị. Ý (nghĩa) nghĩa = Ngĩa.v.v… Tôi không rõ ông Giáo sư đã phát minh ra những mẫu tự mới trong tiếng Việt hay đây chỉ là cách lập dị của một nghệ sĩ tạo hình?

    Nếu học sinh theo lối viết như ông, thì ông là một thày giáo chấm chính tả hay là chấm luận văn, ông có cho điểm cao hay ông trừ điểm? (Vì theo văn phạm, cách viết trên không có trường lớp nào dạy.)

    Nếu ông phát minh ra Mẫu Tự mới để Cách tân Việt ngữ, đề nghị ông công bố để dư luận,và người Việt Nam được học hỏi. Còn cách viết lập dị như những bài viết của ông, thú thật tôi rất phiền lòng, đến nỗi tôi không muốn đọc nữa, dù bài viết của ông rất công phu hữu ích.

    Tôi người đọc với lòng thành, vì cầu toàn và xây dựng, mong ông giáo sư châm chước nếu có sai sót.

    Kính chúc ông GS vui mạnh và nghiên cứu văn học những bài hữu ích hơn nữa, đề làm giàu ngôn ngữ Mẹ.

    Trân trọng.

  • Trương Đức viết:

    Trong khi chờ đợi giáo sư Nguyễn Quỳnh trả lời nhà thơ Quỳnh Thi, tôi xin được góp một vài ý kiến của mình nhân chuyện “thơ dịch” như thế này:

    Hôm trước, tôi cũng đã suy nghĩ khá lâu khi đọc được cái ý này trong một bài thơ của anh Viện: “Nhưng tôi chỉ có thể là thi sĩ khi thơ của tôi làm cho người chết sống lại và những người đang sống cần phải biết chết đi.” Tức là, sáng tác thơ ca, đối với anh Viện, như một cách bốc thang thuốc “cải tử hoàn sinh” cho những người chết và, nếu chẳng may có “những người đang sống” uống đúng thang thuốc này, “cần phải biết chết đi”! “Sống” hay “chết”? Câu trả lời, chính là ở vị thế của “kẻ uống thuốc”, hay chính xác ra, “người đọc”!

    Và, theo tinh thần đó, tôi nghĩ, cái ý của anh Viện, đối với những người “dịch thơ dịch văn” – dịch giả -, nó cũng có thể đúng trong rất nhiều trường hợp!

    Chúng ta đã chứng kiến rất nhiều những tác phẩm văn học dịch, mà dịch giả dường như hoàn toàn làm cho tác giả nguyên tác “sống lại”, tức là dịch rất thành công.

    Và chúng ta cũng gặp phải không ít những trường hợp ngược lại, tức là dịch giả “vô tình làm chết” tác giả nguyên tác một cách không thương xót! Để tránh đụng chạm, tôi xin được miễn trích dẫn ra đây cụ thể là những trường hợp “dịch chết người” nào.

    Cụ thể về bài thơ dịch “Ne felejcs – Đừng quên em” của Nguyễn Hồng Nhung: Một phần vì biết tiếng Hungary, một phần tự thấy sự cảm thụ thơ (tiếng Việt hay tiếng Hung) của mình không có lắm, nên tôi chẳng muốn “bàn loạn” về bài thơ dịch này của chị Nhung ra ở đây. Và tôi nghĩ, giáo sư Nguyễn Quỳnh đã “bình” rất hay về bài thơ dịch này rồi, tôi đã đọc được trên vanchuongviet.org.

    Tuy vậy, tôi vẫn muốn nêu ra đây cái ý kiến của mình như thế này: Riêng THƠ, “hay ho” nhất là thưởng thức trong ngôn ngữ nguyên tác, bởi vì, như nhà thơ Nguyễn Đăng Thường đã có nói: “Với tôi thơ làm xong là xác chết, thơ đăng báo là xác ướp”, tức là bản “thơ dịch” của bài THƠ gốc, sau khi “làm xong” và “đăng báo”, có lẽ đã trở thành một cái gì đó… “tệ hại” hơn “xác chết” và “xác ướp” từ lâu rồi!

    Tất nhiên, việc “sống” hay “chết” của thơ dịch, cụ thể là bài thơ dịch này của Nguyễn Hồng Nhung, như tôi có nói ở trên, tùy thuộc vào “góp nhìn” của từng người đọc chúng ta, tôi không đi sâu vào nữa.

    Tiện đây, tôi xin nêu ra đây với nhà thơ Quỳnh Thi rằng, trên trang vanchuongviet.org có bài viết của giáo sư Nguyễn Quỳnh về “cách viết lập dị” của ông rất rõ ràng, thi sĩ họ Quỳnh có thể tham khảo thêm.

    Trân trọng.
    Trương Đức

Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006*2018 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)