Trang chính » Sáng Tác, Truyện ngắn Email bài này

trăng trên đồi ma

 

                                                                                                                                             Hồn tử sĩ gió ù ù thổi
                                                                                                                                                                                   (Chinh Phụ Ngâm)

 

“Ỉnh lả ơi, sao noòng ơi,
Khắp núi rừng Tây Bắc sáng ngời.
Mùa Xuân đến ngàn hoa khoe cười.
Ỉnh lả ơi, sao noòng ơi.”
Con bé ngồi vắt vẻo trên chiếc xe cút-kít chất đầy rau, vừa cất tiếng líu lo, vừa đong đưa hai cái chân khẳng khiu ra chiều khoái chí.
“Ỉnh lả ơi, sao noòng ơi.” Tiếng ca thánh thót ngân vang trên con đường vắng.
Con bé ngước mặt nhìn sao, chốc chốc lại cúi đầu chăm chú nhìn bóng mình dưới đất, rồi nó lại ngoái ra sau nhìn mẹ. Người đàn bà cứ im lặng, lầm lũi đẩy chiếc xe kêu lộc cộc.
Đêm trăng vằng vặc.
Con đường sáng trắng, thẳng tắp như một lưỡi dao rạch ngang hai vùng núi Đất. Bên này là núi Đất, bên kia núi Bạc. Lần nào ngang qua chỗ này, con bé cũng kinh hãi trố mắt nhìn vào một khoảnh rừng tối đen. Nó phát hiện, một mảng rừng đang rùng rùng di động.
“Ma. Ma.” Con bé phát hoảng, la lớn“Ma kìa. Mẹ ơi.” Nó rụt hai chân, sợ hãi bụm mặt rồi run rẩy cuốn mình như một con sâu.
“Suỵt. Im nào.” Giọng người đàn bà thầm thì, bí mật. “Ma nào? Bộ đội đấy.”
“Bộ đội à?” Con bé bán tín, bán nghi. Nó ngẩng đầu, mắt mở lớn, đăm đăm nhìn vào rừng cây.

Sáu giờ chiều ngày 12 tháng 7 năm 1984, ba trung đoàn* nhận lệnh chuyển quân. Theo kế hoạch tái chiếm, quân chia hai cánh men theo sườn đồi. Hai trung đội ém mình trong hai khoảnh rừng rẽ ra hai hướng, đợi trời tối. Nông văn Phương, Lò A Khén nguyên là những người thợ rừng chuyên nghiệp, dẫn đơn vị trinh sát đi đầu.
Men theo con đường độc đạo một khúc thì bắt gặp một vách núi đá, bám đầy rêu. Lưng chừng vách, một miệng hang nhỏ trông xa như tổ tò vò. Nhưng khi quẳng dây leo lên, chỉ những người thợ rừng ở đây mới biết đó là một cái hang khá rộng, miệng thông lên tận đỉnh núi.
Đúng nửa đêm, những đơn vị pháo binh ở hai cao điểm 500 và 800  sẽ mở màn bằng một trận mưa pháo. Đợi ngớt pháo, đội trinh sát ém trong hang sẽ đột kích từ đỉnh núi. Lúc đó, ba trung đoàn thiện chiến của 316, 336 và 356 từ chân núi sẽ đánh từ dưới lên, ép chặt từ hai cánh sườn Đông Tây. Ba mặt giáp công, tiêu diệt địch đóng trên núi bằng một trận tử chiến. Một đơn vị thiết giáp đóng dọc những tỉnh lộ phía Nam chốt ngay trên các hiểm lộ. Sâu trong các làng bản, những con sông con suối, những nương rẫy xa xa, các đơn vị dân quân cũng dàn ngang, đón lõng đám tàn quân.

Ngồi thù lù trong hốc đá đợi đêm xuống, Lò A Khén, miết mãi con dao rừng trong lòng bàn tay. Lâu lắm rồi hắn không có dịp sử dụng, nhưng con dao vẫn sắc, lưỡi bén ngót, lụi rất ngọt. Xưa nay chưa có con thú nào vuột khỏi tay hắn. Cả ngày ngồi ém trong bìa rừng, trong đầu hắn lóe lên hình ảnh những trận xáp lá cà, những ánh dao sáng lóe, một cái nháy mắt lúc đó cũng gọi là lâu. Trận tối nay là trận sinh tử, một địch mười. Kinh nghiệm chow hắn biết cơ hội rất mong manh. Phải thanh toán nhanh, một nhát một mạng. Hắn tưởng tượng ra những thế độc, lựa những chỗ hiểm, tấn công bất ngờ. Hắn xoay xoay đốc dao qua nhiều chiêu thế, đâm xốc, phập ngược, làm thế nào để chơi một nhát thật tận lực, địch chết không kịp kêu. Hắn nhíu mắt lầm lỳ nâng dao ngang mũi. Tia nắng mặt trời bị cắt đôi qua sống dao, ánh sáng tím lịm tắt dần bên kia núi. Trời vẫn chưa tối hẳn.

Đêm đó trăng mọc sớm.
Trăng như một miếng ngọc trắng ngần treo lơ lửng giữa ngàn sao. Trời vẫn còn ửng tím. Mây lạt nhạt lảng ra xa như dồn lại phía sau lưng núi.
Mặt trời vừa khuất đã có lệnh tiến quân. Trung đội theo hàng một, bám sát nhau. Kẻ trước người sau, ôm súng lom khom. Mấy thằng vác bắp chuối1 đi đầu, tiểu đội Tấn đoạn hậu. Đi sau cùng không có nghĩa là may mắn. Vừa đi vừa chạy tới nhưng mắt phải để đàng sau. Địch có thể đánh bộc hậu hay lọt vào ổ phục kích thì cầm chắc cái chết.Vũ khí nặng thường tập trung ở phía trước, phải khai hỏa bất ngờ để chiếm ưu thế.
Đêm ập xuống nhanh. Bóng đen dầy đặc, phía trước đồng đội phóng rào rào. Những người lính vừa nương theo tiếng động, vừa theo lắng nghe động tĩnh phía sau. Trần văn Tấn là người cuối cùng. Lâu lâu hắn rớt lại một quãng. Vài người phải chậm lại chờ, kẻo hắn mất dấu. Tấn quê ở Kiếp Bạc, vợ con bán vàng mã gần cửa đền Trần. Hắn tự hào, hắn là hậu duệ đích thực của Đức Thánh2. Trong đơn vị ai cũng nhạo, hàng triệu triệu người họ Trần bây giờ có ai không phải là hậu duệ của nhà Trần. Tấn ốm yếu, đánh chết cũng không có một miếng võ phòng thân, nói ra thật hổ danh các tướng nhà Trần. Nhưng có lẽ ít ai biết, Tấn giỏi nhất môn nhịn. Nhịn đói, nhịn khát, và nhịn nhục. Tài nhịn của hắn không thua chi Hàn Tín3 lòn trôn đời Hán. Mới đây, cả đơn vị đều chửi hắn một trận té tát. Trên đường chuyển quân, đơn vị đặc cách chow vài người được phép về thăm nhà. Trần văn Tấn là một trong những số ấy. Mấy năm xông xáo ở Cam-pu-chia, không biết làm thế nào hắn tích cóp sắm được một khâu vàng. Cái món trang sức quý giá mà cả anh và ả chỉ nghe qua những câu chuyện cổ tích chứ chưa bao giờ thấy được bằng mắt. Trong chuyến về phép, hắn định bụng sẽ mang về tặng vợ. Chả là ngày cưới hồi trước, hai họ chỉ uống nước trà và ăn bánh ngọt. Phần lễ vật trao hôn thì phải mượn cặp nhẫn bạc của người trong họ, “diễn” xong là trả. Còn bây giờ, vàng thật đấy nhé. Thỉnh thoảng, hắn vẫn ngồi một mình đâu đó, tay mân mê cái khâu, mắt lim dim mơ màng cái giờ phút thiêng liêng xỏ chiếc nhẫn vào ngón áp út của vợ. Chỉ vậy thôi cũng làm hắn sướng mê người. Nhưng rồi hắn về nhà không đúng lúc. Cái lúc định gõ cửa gây chow vợ sự bất ngờ thì chính hắn lại không ngờ. Ả đang có khách. Khách là cái lão cán bộ Phòng Thu Mua Lương Thực. Cái lão này Tấn biết, lão vẫn xoay thóc chow vợ hắn mỗi khi. Vợ con Tấn chưa bao giờ phải ăn độn dù tình hình đang lúc tồi tệ nhất. Đêm đó, Tấn ngủ gục trước cửa nhà để chờ chow tới sáng. Cả tiểu đội phẫn nộ giùm hắn.
“Bây giờ cậu tính sao?” Cả đơn vị đều ủng hộ, họ hỏi. “Thịt nó hay cả đôi?”
“Phải tẩn lão một trận chow thật đã.” Nhiều người hăng hái.
“Dần nó nhừ như cháo ấy.”
“Chow đi mò tôm mới đáng tội.”
“Không nên. Tỉa nó đi. Tỉa gọn hơn.”
Bầu không khí nóng ran. Chính trị viên đơn vị can.
“Bình tĩnh nào, các đồng chí. Tôi sẽ đưa vấn đề ra chi bộ. Tệ nhất cũng phải khai trừ ra khỏi Đảng.”
“Chỉ khai trừ thôi ư?” Cả bọn tức tối.
“Mất Đảng. Mất sổ gạo. Hắn sẽ sống giống như một con chó.” Chính ủy khẳng định.
Nhưng cuối cùng, cả bọn chưng hửng khi nghe Tấn ẩn nhẫn một cách xuôi xị, “Thôi đi, chỉ tại con vợ em yếu lòng…Cảnh nhà bức bách quá nên mới thế…”
Có người trách hắn hèn, nhưng cũng có thể hắn đang nhịn. Những kẻ hèn không dám liều. Ở Campuchia có lần vì ham trao đổi linh tinh mà cả đơn vị lọt trúng ổ phục kích của bọn Pol Pot. Vậy mà lần đó, một mình Tấn đã liều mạng mở đường máu thoát thân chow cả đội.

Càng lên cao con dốc càng gập ghềnh. Rừng thưa dần. Trăng đã lên tự bao giờ. Từ lưng chừng núi, những mỏm đá cheo leo nổi bật dưới trời xanh. Cánh quân di chuyển âm thầm. Máy truyền tin cũng đã tắt từ lâu. Phóng qua một con lạch, trung đội trưởng dừng lại, khoát tay ra hiệu. Cả trung đội phóng theo ào ào. Nhiều người chạy tạt ngang, nấp vào sau một mỏm đá lớn. Mỏm đá có hình dáng một cái tai voi gie ra từ trong núi. Bên dưới có lỏm đất vừa đủ chow cả mươi người. Đây là vị trí đắc địa, một công sự thiên nhiên giống như trời đã vầy sẵn. Phạm Công Tạo, lưng vác củ chuối1 nhấp nhỏm lú đầu nhìn qua khe đá.
“Chậc, chậc,… Bọn khựa4 đông nghịt.” Tạo đổi tư thế, chuyển B.40 lên vai.
Cả trung đội bắt đầu bò bằng khuỷu, ghìm AK, lựa điểm bắn. Hồng và Hà chọn một mô đất cao đặt khẩu đại liên. Họ bẻ một cành cây rậm lá gắn lên giá súng để ngụy trang. Vài người trong tổ súng máy khiêng những thùng đạn lom khom chạy tới.
Trung đội trưởng ra hiệu cánh quân dàn mỏng. Những ổ súng đã lên nòng. Những họng AK chĩa lên đỉnh núi, sẵn sàng khạc đạn.
Đêm Hè, gió lồng lộng. Những cành lá ngụy trang phấp phới. Dưới lùm cây những hơi thở nóng ran. Người ta nghe rõ tiếng tim đập thình thịch. Trên cao, vài con chim nghe động đập cánh chập chowạng vụt lên. Tiếng côn trùng sột soạt đây đó. Thời gian nhích từng tiếng. Tích. Tắc. Tích. Tắc. Từng nhịp đều như ngưng đọng.
Mười Một giờ.Trăng hạ tuần sáng một màu xanh mướt. Ánh trăng như một thứ nắng đêm phơn phớt rải khắp núi rừng. Trong bóng tối, những cặp mắt đang mở lớn, những tia nhìn sắc mạnh như rọc suốt màn đêm. Các đơn vị xung kích vẫn nằm im. Họ đang chờ một trận pháo. Thần kinh căng thẳng đến tột độ.
Các trung đội trưởng chốc chốc lại rời vị trí, tạt ngang từng ụ, truyền khẩu lệnh. “Phải kiên nhẫn. Không được khai hỏa. Chờ pháo dập.”
Theo kế hoạch, sau trận mưa pháo, các tay B.40 sẽ thụt thẳng vào doanh trại, truy diệt những nơi pháo sót. Địch sẽ rối loạn hàng ngũ và tháo chạy. Đúng lúc đó, các tổ súng máy sẽ quạt mạnh, lia thật nhanh những chỗ dầy đặc, tỉa bớt mật độ địch. Các đơn vị xung kích lập tức sẽ đồng loạt xung phong. Từ trong mật động, cánh của Lò A Khén, Nông văn Phương sẽ đột kích từ đỉnh núi. Trên dưới đánh thốc, cùng ép địch vào giữa.
Trung đội trưởng Lâm văn Diên dặn, khi xung phong phải cố gắng hỗ trợ nhau, nên nhớ địch nhiều ta ít. Diệt 5 thì huề, diệt 10 mới thắng.
“Thế có tiếp viện không?”
“Không.” Trung đội trưởng trấn an, “Hai đơn vị thiết giáp đã chận hai tỉnh lộ. Đừng lo, một con ruồi Trung Quốc cũng không bay lọt.”
Nửa đêm, trăng treo ngay đỉnh đầu. Vẫn chưa có pháo.
Một giờ đêm. Không nghe động tĩnh.
Trên đỉnh núi, doanh trại địch mới dựng đài radar tạm thời, một ngọn đèn đỏ trên ngọn antenna liên tục chớp tắt không ngừng.

Lò A Khén thắt chặt cuộn dây chuyên dụng leo núi quanh dải túi giắt đồ nghề rồi bắt đầu mở đường.Vừa leo hắn vừa dùng búa đóng nêm gõ gõ vào vách đá vừa dỏng tai nghe ngóng. Gặp chỗ đá cứng, âm thanh cao và trong, hắn lần tay tìm khe nứt rồi quyết định chọn thứ nêm đóng hay nêm chèn. Hắn đóng nêm, cái nào cũng thẳng góc vách đá và sâu độ một tấc rưỡi, rõ đúng là một tay chuyên nghiệp.
Đợi Lò A Khén lần lên đến gần cửa hang, Nông văn Phương mới bắt đầu leo. Mắc chiếc thang dây vô những chiếc khoen nêm, hắn trèo từ từ. Khi cả hai lọt thỏm vào hang thì trời đã tối sụp. Bên ngoài bộ đội trinh sát nối nhau từng người một, lần lượt bám mình trèo trên vách núi. Đồ đạc cùng những thứ vũ khí nặng được chuyển lên sau cùng.
Trong hang, ánh sáng từ chiếc đèn pin của Lò A Khén không đủ để soi đường. Quanh vách động bóng của những người lính hiện lờ mờ thành những hình người khổng lồ bị biến dạng. Trên trần hang, những tai đá gie ra trông như những hình thù quái dị. Lòng hang ẩm ướt, rêu phủ đó đây. Khi tất cả đã hiện diện đầy đủ, họ tháo dây và soát lại vũ khí. Đường dẫn lên đỉnh dốc và trơn, Lò A Khén, Nông văn Phương dẫn đầu. Họ đi chậm như đếm từng bước. Tay bám từng tai đá, chân lừa từng ghè đất để bấu. Cả đơn vị nương thế nhau, vừa đi vừa chống.
Đến Mười Hai giờ đêm, họ lên đến đỉnh núi. Lò A Khén nhìn thấy một mảng trời xanh thăm thẳm trên đầu. Cỏ lún phún thưa. Trăng ẩn đâu đó, ánh sáng không đủ làm hắn nheo mắt. Hai tổ đại liên ém ngay miệng hang. Đợi sau khi pháo dập, họ sẽ lú lên bất ngờ và quạt hàng tràng loạt đạn ngay sau lưng địch. Những người khác lùi lại phía sau.
Họ đang đợi pháo. Những đôi mắt thao láo mở lớn hết cỡ chăm chú nhìn về phía miệng hang.
Một giờ đêm. Chưa có pháo.
Hai giờ. Vẫn chưa động tĩnh.
Lê Minh Hạnh ôm khẩu súng máy, mắt nhẩm đếm những con dơi đang treo toòng teng trước mặt. Cái giống này gớm ghiếc làm anh ghét, hình dáng chúng chẳng ra chim cũng không giống chuột. Nếu sau này có dịp quay trở lại, anh sẽ tiêu diệt không chừa một mống. Nhưng anh còn có cơ hội trở lại đây không? Anh tự hỏi mình. Tập kích từ trên đỉnh núi là chui đầu vô rọ, là lâm cảnh tứ bề thọ địch, phải đánh phá vòng vây. Mười phần chết, nửa phần sống. Đây là nhiệm vụ tự sát. Anh đảo mắt nhìn quanh đơn vị, bây giờ còn đầy đủ, nhưng chỉ chốc nữa thôi sẽ có người sống kẻ chết. Đột nhiên anh xúc động, từng giây từng phút này là những khoảnh khắc sống đáng quý nhất. Có lẽ chỉ có người lính mới biết giá trị của sự sống khi phải đương đầu với cái chết. Hết nhìn anh em, anh lại đưa mắt nhìn lũ dơi đang treo ngược, có lẽ lũ dơi này sẽ sống thọ hơn bọn anh.
Nhiều người cũng định tranh thủ chợp mắt để lấy sức, nhưng không ai ngủ được. Trong giờ phút sinh tử, con người ta không còn sợ chết. Thỉnh thoảng, họ vỗ vỗ vai nhau như một lời ước thệ, chuyền chung một điếu thuốc, trao đổi một ánh mắt. Cái cảm giác có chung một sinh mạng, thở cùng một hơi, tim đập cùng một nhịp, nghĩ cùng một điều. Làm thế nào để giết địch nhanh, giết nhiều nhất? Trước khi chết, một mạng mình phải đổi lấy một trăm mạng khựa, thế mới hả.
Lý văn Dĩnh sửa thế ngồi, ghì lại AK. Nguyễn Hữu Xuân cứ rờ rẫm bao lưỡi lê như sợ nó tuột mất. Đinh văn Thọ cứ đăm chiêu nhìn Võ Đình Bình. Cả hai cùng quê, cùng học cùng trường, cùng yêu một người. Mối tình tay ba chớm nở từ thuở nhỏ kéo dài chow tới sau này. Nhưng bây giờ Thọ ước chi anh có dịp nói chow Bình biết, anh quyết định rút lui. Trong tích tắc anh chợt nhận ra tình yêu không còn quan trọng nữa. Đời người có những thứ lớn lao hơn. Có một cái gì đó đột nhiên thôi thúc anh phải nói chow Bình biết ngay lúc này. Một linh cảm bất an? Của anh hay của Bình? Không biết nữa. Nhưng anh không thể nhẩy nhổm lên, tiến lên chỗ Bình, nói một chuyện không đúng lúc. Cả người anh như thể cứ đóng đinh vào một chỗ, bất động trong sự nôn nóng.
Ba giờ sáng. Rừng đang ngủ.
Bốn giờ. Có một tiếng cú rúc lên trong đêm vắng.

Năm giờ. Rừng rạng. Mây bên kia núi ráng một màu hồng ửng.
Đột nhiên có tiếng ầm ỳ từ xa như sấm dội. Rồi những ánh chớp lóe lên như xé toạc cả cánh rừng. Những quả cầu lửa không biết xuất phát từ đâu rót vào lưng núi.
Tiểu đoàn trưởng Phan Lạc Thu chết ngay trong loạt pháo đầu tiên.
Tiếp theo là những trận mưa pháo. Pháo dồn dập và dầy đặc. Pháo nả vào các ghè đá, lùm cây, những lỏm đất. Những tiếng nổ gần, chát chúa, xé thủng màng nhĩ. Xác người tung tóe, thịt da tan nát trộn lẫn với đồ đạc, lá rừng, đất đá và cây cỏ. Khói mù mịt, từng lùm khói như những tảng mây xám xịt phủ kín rừng cây.
Trời bây giờ đã sáng rõ. Nắng lên. Pháo vẫn rền trời. Tọa độ chính xác như chính “mình” đánh “ta”. Lại mất thêm một tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 3.
Trên trời những quả pháo rót xuống để lại những đường khói chưa tan chằng chịt như mạng nhện. Đại đội trưởng Trần Trung Hậu, trung đội trưởng Lâm văn Diên vừa chạy, vừa tránh pháo. Nhác thấy bóng họ, những người bộ đội bật dậy tức tốc chạy theo. Họ dồn vào những chỗ pháo đã cày nát. Kinh nghiệm chiến trường chow biết, khó ai pháo một chỗ hai lần. Nhìn qua trận địa, biết ngay địch pháo theo lối rải thảm. Có lẽ kế hoạch tái chiếm núi đã bị lộ. Nhìn xuống chân núi, đây đó những vạt rừng bị đạn pháo róc gốc, xé toạc từng mảng. Rừng ngã rầm rầm. Cây cối đổ rạp, lăn tròn xuống dưới chân núi. Một ngọn lửa bốc cao rồi lan nhanh theo gió. Rừng cháy. Khói bốc mù trời, un tỏa vạn vật. Trận địa nóng kinh người. Lửa tạt mạnh, sức nóng hực lên da thịt. Những quả cối vẫn ầm ầm như mưa trút. Đất đá rơi rào rào. Lẫn trong không, mùi nhựa rừng, mùi khét của thịt da cháy sém phà đi trong gió,…
Không chịu giam chân, “Xung phong,…” Đại đội trưởng Trần Trung Hậu vừa phất tay vừa quạt một tràng trung liên rồi xông lên phía trước.
“Xung phong,…”, “Xung phong,…”  Những người bộ đội từng đợt, từng đợt, bật mình chạy theo. Họ vừa chạy vừa bắn như điên. Súng giật bần bật, đạn lóe đỏ nòng.
Địch phản công. Hàng loạt đại liên trong các lô cốt nả đạn không ngừng. Trần Trung Hậu trúng một loạt đạn, thân ngã bật về phía sau. Toán bộ đội theo sau cũng chỉ tiến được dăm bước rồi lần lượt ngã gục. Xác họ nằm ngược, mắt vẫn còn hướng lên đỉnh núi.
Phạm Công Tạo đang nấp sau một mô đất, điên tiết nhô người lên nhắm ngay công sự địch thụt một quả. Một tiếng nổ long trời. Lô cốt tanh bành, đất đá lẫn xác địch văng tung tóe. Hàng tràng loạt đạn bắn như mưa lên mô đất của Phạm Công Tạo.
Trung đội trưởng Lâm văn Diên ra hiệu, “Ém quân.” Từng nhóm rải rác đây đó tìm cách tập hợp lại. Hồng và Hà cũng rê đại liên tới một hốc đá đã bị pháo nả toang hoác.
Cánh bộ đội trụ lại chờ đêm xuống. Buổi tối, lẫn trong bóng đêm họ sẽ mở một đợt tấn công khác. Trong khi chờ đợi, Lâm văn Diên và Ngô An Huy, bộ đội truyền tin cùng lần mò các tần số để liên lạc. Nhưng mọi nổ lực đều vô vọng. Mất liên lạc với bộ chỉ huy, tình trạng ở những trung đoàn khác cũng giống nhau, cùng tổn thất nặng.
Không đợi pháo ngớt, Lâm văn Diên đã vác súng chạy đi khắp nơi xác định tình hình. Có những tuyến không còn ai sống sót. Xác người nằm la liệt. Cả một vùng rộng lớn tan hoang, cơ hồ không còn một bóng cây nào đứng thẳng. Rừng cũng chảy máu. Vậy mà ở đây hàng ngàn quả cối lẫn tên lửa đủ loại vẫn bắn tới tấp. Những tiếng nổ kinh hồn không ngừng như muốn toạc đôi quả núi. Thỉnh thoảng hàng tràng AK lại bật lên từng loạt lia ngang một cách bâng quơ. “Không lẽ bọn khựa dư súng đạn đến nỗi muốn giết cả những người đã chết?”  Ngực đau nhói, mắt cay sè, cố giữ bình tĩnh, Lâm văn Diên tháo ống nhòm đang đeo trên cổ ngóng lên đỉnh núi. Có bóng khựa nhộn nhịp, nhưng tình hình vẫn im ắng. Không hiểu cánh Lò A Khén ra sao mà tới giờ này vẫn chưa nghe động tĩnh.

Trong lòng núi.
Năm giờ sáng, ngày 13 tháng 7.
Khi nghe tiếng pháo đầu tiên rót vào lưng núi, Lò A Khén bật người dậy như chiếc lò xo. Cả trung đội cũng nhổm dậy, sốc lại súng ống, chờ lệnh. Lò A Khén nhón chân, vạch cỏ, nhóng mắt nhìn. Không thấy gì lạ, hắn áp tai vào khe núi. Lạ, sao tiếng pháo lại nhỏ và xa hơn dự đoán, đúng ra, nó phải nổ ầm ầm ngay trên đỉnh đầu. Nông văn Phương cũng áp tai vào lòng núi. Quả, nhiều tiếng nổ nghe như là tiếng dội đâu đó. Tiếng tên lửa tiêm kích từ đâu réo lên từng tiếng sắc nhọn đâm vào lưng chừng núi. Đất dưới chân rung chuyển, đá sỏi lăn rào rào.
Lò A Khén, Nông văn Phương bối rối nhìn nhau, khó đưa ra quyết định nào khi chưa xác định rõ tình hình. Trên chiến trường, một sai lầm nhỏ cũng gây ra những tổn thất lớn, đảo ngược tình thế.
Trong lúc còn đang lúng túng thì đột nhiên một đường khói chui tọt vào miệng hang. Ầm. Ầm. Những tiếng nổ long trời lở đất. Xác người băm bắn ra thành từng mảnh. Đất đá trên trần rơi lộp độp. Miệng hang sụp một mảng lớn. Đất đá, cát bụi, da thịt và khói quyện vào nhau cuồn cuộn bốc lên. Lửa phựt mạnh. Cái hang đỏ rực. Một sức nóng phần phật thiêu đốt mọi vật. Khi những cột khói chưa kịp thoát lên khỏi miệng hang thì những quả B.40 thứ hai, thứ ba lại liên tiếp phóng vào. Những tiếng nổ ầm ầm rung chuyển nguyên quả núi. Cái hang cơ hồ bị bể ra từng mảng. Trong phút chốc, ngọn lửa hung hãn liếm quanh trên miệng hang. Những đám cỏ khô cũng bắt đầu bốc cháy.
Đến chiều, lửa tắt, chỉ còn lơ thơ vài ngọn khói lơ đễnh bay lên. Bên ngoài, một toán lính Trung Quốc vẫn đang chực sẵn cả chục khẩu AK sẵn sàng nhả đạn xuống miệng hang.

Đinh văn Thọ còn thở. Hơi thở nặng nhọc ngắt đoạn từng khoảng. Anh rướn cổ cố hít thật đầy không khí vào hai cuống phổi để thở vài hơi thật dài. Cái đầu nặng trĩu, thần trí chập chờn nửa mê nửa tỉnh. Khi tiếng nổ đầu tiên phát ra, một sức đẩy khủng khiếp đã bắn anh văng vô vách núi, đầu đập vào một vật gì đó khiến anh bất tỉnh. Lúc mở mắt, lửa vẫn còn âm ỹ, mùi khói mùi khét đặc quánh trong không khí. Qua bóng tối lờ mờ, anh định thần quan sát, không gian bất động, một sự im lặng kỳ lạ. Anh cất tiếng kêu nhưng cổ họng bị nghẹn, miệng mồm khô khốc bật thành những tiếng rên. “Không lẽ mọi người đã chết hết rồi ư?” Anh định chỗi tay ngồi dậy nhưng đột nhiên phát hiện, anh không điều khiển được tay chân, thậm chí anh không có một cảm giác nào liên hệ với tứ chi. Anh cố gắng trở mình nhưng hoàn toàn bất lực. Chỉ có cái đầu, đúng hơn là bộ não còn hoạt động. Anh biết mình bị thương rất nặng, máu đang chảy ngược ra ngoài. Anh đếm từng hơi thở của mình, cái nào là cái hơi thở cuối.
Anh lại tỉnh dậy, không biết đây là lần thứ mấy. Bóng đêm đen ngòm tràn ngập chung quanh. Trên cao, một mảng trời xanh trong vắt in rõ hình cái miệng hang. Cửa hang hẹp và nhỏ chỉ vừa lọt một người, bên ngoài phủ đầy cỏ. Sự nghi ngờ chợt lóe lên trong đầu, làm thế nào địch bắn ba quả đều lọt cả ba? Không thể nào có một sự chính xác ngẫu nhiên đến thế. Có lẽ bí mật quân sự đã bị lộ. Cũng có thể địch đã biết rõ trước khi ta đổ quân. Và bọn anh đã bước vào trận địa như chui vào cửa tử. Anh không muốn chết, nhưng cái chết đang xâm chiếm trên mình mẩy như vết dầu loang. Trong tích tắc cuộc đời anh vụt về như một khúc phim. Hình ảnh mẹ anh và những ngày thơ ấu bên con sông Đáy thoắt hiện như mới hôm nào. Rồi nhập nhằng giữa vô vàn ký ức là hình ảnh Nụ, cô bạn học anh và Bình cùng yêu. Ối, trời ơi! Không có ai báo tin Bình đã chết. Không có ai báo tin chow mẹ của anh. Mội anh mấp máy, đôi tai lùng bùng nghe rõ những tiếng kêu thảm thiết của chính mình. Mẹ ơi! Ôi, Mẹ ơi!
Đêm đó, khi trăng vừa khuất qua khỏi cửa hang thì anh trút hơi.

Nhưng Đinh văn Thọ không phải là người cuối cùng chết trên cao điểm 1509.
Bên ngoài, lúc trời vừa chập tối, các đơn vị bộ đội từ nhiều hướng khác nhau mở những đợt tấn công lên đỉnh núi. Nhiều công sự địch bị phá tan, nhưng với quân số ít ỏi, những mũi xung kích mỏng không có yểm trợ đã lần lượt ngã xuống.
Lâm văn Diên, Phạm Công Tạo, Trần văn Tấn, Hồng và Hà,… ngồi chụm đầu bên Ngô An Huy đang cố mò mẫm chiếc máy truyền tin. Không liên lạc được, từ chiều hôm qua nó chỉ độc phát ra những tiếng rè rè.
“Đừng bõ công nữa.” Hồng và Hà vụt đứng dậy, bực tức hét, “Quẳng cái cục sắt ấy đi chow rảnh nợ.”
“Trên đã câm cả rồi ư?” Một vài người bộ đội mới nhập bọn bực tức đá bừa mấy chiếc vỏ đạn lăn lóc dưới chân.
“Đứt liên lạc với tổng đài.” Ngô An Huy thở ra, “Có lẽ đường dây đã bị cắt.”
“Họ bỏ rơi chúng mình ư?”
Không có ai trả lời. Một khoảng im lặng đến nín thở.
Thời gian trôi qua rất lâu.
Tiếng trung đội trưởng trầm ngâm. “Không có yểm trợ, chúng ta tấn công tức là tự sát.”
“Không tấn công cũng là tự sát.” Phạm Công Tạo thì thầm.
“Chúng ta không có cách nào rút lui ư?”
“Không.”
“Có vượt qua được khu pháo dầy đặc cũng sẽ bị địch chận dưới chân núi.”
“Đàng nào rồi cũng chết.” Có người thở dài.
Đó đây tiếng pháo vẫn ầm ỳ như tiếng sầm dội về. Những cột lửa phụt ngược lên trời rải những tàn tro bay lả tả. “Tạch, tạch, tạch… đùng.” Giữa rừng đêm, lâu lâu lại bật lên những tiếng súng lẻ loi không định hướng.
“Đánh đi.” Có ai đó lên tiếng.
“Phải, phải.” Nhiều người tán đồng. “Đánh đi.”
“Có chết cũng phải chơi một trận chow ra trò.”
Trung đội trưởng cầm một nhánh cây vạch một đường ngang dưới đất, rồi ngửa mặt lên trời suy tính. Gom hết mọi người ngồi đây cũng chưa đủ hai chục, không tới một trung đội, tấn công thì tiến được mấy bước, phá bao nhiêu tuyến, giết bao nhiêu địch? Có lẽ chẳng bao nhiêu, con số có thể ít hơn số người bên ta. Không, không thể như thế được. Mỗi tấc đất Việt Nam phải bắt chúng trả bằng xương máu. Một ý nghĩ chợt lóe lên trong đầu.
Theo lệnh trung đội trưởng, mọi người túa ra tìm mìn và gom đạn dược. Họ gài mìn dọc theo con đường chính mà quân xa hoặc xe tăng địch sẽ lên xuống. Gài mìn xong, trăng đã quá bóng. Mọi người thở phào tự kiếm chow mình một chỗ nghỉ chân. Lâm văn Diên mò mẫm mãi mới rút được một điếu thuốc ra châm. Điếu thuốc cuối cùng cong vòng như một ngón tay thương tật. Anh lật bật rít một hơi dài rồi chuyền tay nhau. Anh ngậm môi, hơi thuốc dồn lên trên não rồi ém xuống xông đầy hai cánh mũi. Chưa có hơi thuốc nào hút ngon như hơi này. Anh thèm làm thêm một hơi nữa, một hơi cuối cùng rồi thôi, nhưng đốm thuốc đang lóe lên và chuyển ra xa. Anh phóng mắt cố nhìn hết con đường hun hút dẫn xuống chân núi. Dưới ánh trăng, khúc đường lồi lõm bằm xới như một đường cày vụng. Bọn anh đã gài vội quá. Bây giờ chỉ còn hy vọng sau khi chiến trường kết thúc, với niềm vui chiến thắng, kẻ địch sẽ bất cẩn. Anh tưởng tượng đến cảnh những bánh xe cán lên những kíp mìn, đoàn quân xa nổ tung, xác giặc bắn khắp nơi. Một cách diệt địch sau khi đã nằm xuống. Anh chỉ tiếc số mìn không đủ để chôn một quãng dài hơn.
Khi trời gần sáng thì cả nhóm quyết định tấn công. Trăng cuối trời nhàn nhạt, ánh sáng hòa lẫn với màu mây. Họ đoán đây là lúc địch mỏi mệt, ngủ say nhất. Tiếng pháo bấy giờ cũng thưa dần.
Để bắt đầu đợt tấn công, Lâm văn Diên không hô xung phong, anh chỉ lẳng lặng khoát tay.Từng người từng người lom khom ôm súng chạy lên phía trước rồi nấp tạt vào một gốc cây. Họ tiến từng gốc rồi từng gốc. Chạy lên một đỗi, trại địch hiện ra rõ dần. Trên cao, những họng pháo đen ngòm hung hiểm nổi bật giữa trời xanh. Đỉnh núi lấp lóe đỏ rực một ngọn đèn chớp tắt.
Phạm Công Tạo nhắm thật kỹ rồi khai hỏa. Một trái B.40 phóng ngay vào giữa đài radar. Một tiếng nổ kinh hồn phát ra, lửa cuồn cuộn bốc lẫn theo một lùm khói đen lan rộng.
Trại nhốn nháo. Lính Trung Quốc đổ ra đông như kiến.
Súng nổ. Tạch, tạch, tạch, tạch,…. Từng tràng đại liên giòn giã không ngừng.
Lâm văn Diên trụ lại trong một cái hố. Súng của anh giật rung bần bật. Cái nòng khạc ra lửa đỏ rực liên hồi. Anh bắn như điên, hai tay tê rần, nhiều lúc có cảm giác cái nòng súng nóng đến nỗi mềm ra và sắp quặt xuống bất ngờ.
Tới lúc tia nắng đầu tiên lấp lóe qua đọt cỏ, tiếng súng hai bên đã ngơi, anh nhấc chân trườn lên mới hay vỏ đạn lấp đầy đôi chân. Anh bò đi, kiểm điểm cả bọn, nhóm chỉ còn lại sáu người.
Mọi người tập hợp bên Lâm văn Diên trong một hố pháo mới. Phạm Công Tạo, Ngô An Huy, Trần văn Tấn, Võ Hồng và Lê văn Hà bê theo một số đạn mới thu.
Chỉ trong phút chốc thì trời sáng rõ. Có tiếng loa kêu gọi đầu hàng trên núi vọng xuống. Bọn khựa kêu bằng tiếng Tàu lẫn tiếng Việt.
“Này, đầu hàng không?” Có tiếng hỏi.
“Không bao giờ.”
“Tôi cũng không.”
“Còn đạn còn bắn.”
“Mình sẽ bắn tới viên đạn cuối cùng.”
“Chết bây giờ là còn được chết trên đất Việt Nam đấy.”
“Có nhìn lên trời thì bầu trời này cũng của Việt Nam.”
Họ nắm tay nhau rồi bất chợt vùng lên, ôm súng chạy về hướng loa.
“Tạch, tạch, tạch, tạch,…”
Họ bắn nhưng không còn để ý nghe tiếng súng. Bên tai, ngọn gió mai phấp phới. Gió tràn lên mặt, mát rượi. Bất giác, họ cùng quay mặt về một hướng. Sau những hàng cây, mặt trời lấp lóa như dát bạc. Trong nháy mắt họ nhận ra, chỉ có nắng là đang sống, sống vĩnh cữu. Tất cả ánh sáng chói lòa đang lùa ngược về phía họ.

xXx

Nửa khuya, trăng vằng vặc, bóng hai mẹ con người Tày rọi xuống mặt đường. Đêm vắng lặng. Con bé người Tày dỏng tai nghe. Có tiếng hát văng vẳng hòa lẫn tiếng rừng âm u từ xa đưa lại.
“Đường dài hành quân xa.
  Đi khắp non sông nhà
Ngày ngày quàng trên vai
Ba lô và cây súng
Chân băng qua gió mưa
Đầu đội trời sao thưa…”5
“Mẹ có nghe gì không?” Con bé níu lấy áo mẹ, sợ hãi, “Hình như có ai đang hát.”
“Đừng sợ.” Người đàn bà vẫn lầm lũi đẩy xe. “Bộ đội đấy mà.”
Con bé len lét ngó về phía núi. Núi chập chùng. Những ngọn đen sừng sững nổi bật giữa trời trăng. Bỗng nó giật mình, dụi mắt liên tục, đăm đăm ngó. Từ trong những mảng rừng thâm u lấp lóe những tia chớp sáng rực giật tắt liên hồi. Không phải sấm sét, không nghe trời gầm. Con bé kinh ngạc quá đỗi.
“Mẹ ơi.”
“Đừng sợ. Súng bắn đấy.” Mẹ nó trấn an. “Người ta chỉ pháo vào núi thôi.”
“Nhưng họ đã chết hết rồi mà.”
“Những người chết oan, linh hồn không siêu thoát. Mỗi ngày họ đều sống lại cái ngày cuối cùng của họ.”
“Mỗi một ngày hở mẹ?”
“Ừ, mỗi một ngày.” Người đàn bà thở dài.
Hai mẹ con dừng lại đứng nhìn. Trên cao những bông lửa vùn vụt bay ngợp trời rồi rơi về hướng núi. Mãi lúc gần sáng có một bông lửa bay lạc ra ngoài. Con bé sợ hãi giơ hai tay che lấy đầu. Nhưng khi lửa rót phụt xuống, sáng hôm sau người ta thấy tàn tro phủ trắng cả một khúc đường.

xXx

“Dongfang hóng, taiyáng sheng
Zhongguó chu liao ge Maozedong5….
Đây là Đài Tiếng Nói Công Hòa Nhân Dân Trung Hoa, buổi phát thanh trên làn sóng… ”6
Mỗi buổi chiều, tiếng loa phát thanh đặt ở trên đài radar trên đỉnh núi cứ bật ra những tiếng nói nhão nhoét. Âm thanh bị gió cuốn hòa loãng trên không. Tiếng còn, tiếng mất,…

Khi mặt trời khuất sau lưng núi, bóng tối bắt đầu phủ đều lên những dải rừng. Gió bắt đầu thổi mạnh. Gió thốc qua từng hẽm núi, đuổi nhau trên những ngọn rừng. Núi bấy giờ sừng sững một màu đen. Ánh trăng như một thứ nắng đêm làm bóng tối trở nên lấp lánh.
Từ trên triền núi, bóng rừng lay động, những đoàn quân di chuyển chập chờn. Bóng họ loáng thoáng, nhè nhẹ như hơi, bay là đà trên đất.
“Các đồng chí ơi! Gượm đã.” Những bóng đen đang nằm la liệt bên đường bỗng đứng bật dậy. “Chờ tôi với.”
“Đừng vội.”
“Phải, đừng vội. Tới khuya cũng chưa có pháo.”
“Sáng mai, khi trúng loạt pháo đầu tiên thì mình lại sẽ ngã xuống ở chỗ này này.” Phan Lạc Thu chỉ ngay một chỗ gần đó.
Nhưng, những chiếc bóng lại không ngừng lại. Họ vẫn tiếp tục lao mình về phía trước.
Trời càng tối, gió càng lớn, những luồng khí lạnh dưới các khe rãnh nương theo gió đông cứng núi đồi. Từ các hẽm núi, sương bốc lan dọc theo triền xanh xóa nhòa vạn vật. Gần nửa đêm, sương muối rắc lên cây cỏ một màu băng giá lóng lánh.
“Ôi, lạnh quá.” Có tiếng răng đánh lập cập.
“Bọn mình thì lúc nào cũng nóng như thiêu đây này, bất kể là thời tiết nào.” Vài bóng người loạng chowạng ngã xuống rồi nằm lại ngay khoảnh đất bị cháy sạm.
Trên bãi pháo xưa, những mảnh vỏ đạn nằm ngổn ngang, vài quả tên lửa han rỉ vẫn còn cắm sâu trong đất. Trời lạnh, đất thở hơi sương, nhè nhẹ tỏa lên vài làn khói mỏng. Trăng nhợt nhạt, tai tái một màu ma quái.
“Màu trăng ở đây y như trăng ở quê mình sau mỗi đêm mưa ấy.”
“Ôi, nhớ nhà quá.”
“Mình nhớ mẹ đến thắt ruột.”
“Trước khi đi, tớ đã hứa kỳ phép tới sẽ lợp lại chái bếp chow nhà. Thế mà,…”
Đột nhiên, cả bọn ngưng bặt. Có một bóng đen mải miết đi về phía trước. Tới những xác người, hắn cuối xuống lật dò từng mặt một.
“Ai thế nhỉ?” Cả bọn ngạc nhiên.
“Tạo đấy. Phạm Công Tạo của đơn vị mình đấy.” Trần văn Tấn nhíu mắt nhìn kỹ, rồi xác định.
“Hắn làm gì thế?”
“Tìm người quen. Anh ta muốn gửi một ít đỗ tiêu chuẩn về chow mẹ ấy mà.” Tấn giải thích. “Ước mơ của cả nhà hắn là gói được một cái bánh chưng thật ngon để cúng bố. Nhưng năm nào cũng vậy, khi có đường lại thiếu đỗ, lúc có đỗ lại thiếu đường.”
Cả bọn im lặng nhìn về phía trước. Bóng Tạo xa dần, một lúc thì mờ hẳn.
Không bàn về Tạo nữa, họ quay qua Tấn.
“Tấn này, mình vẫn không hiểu tại sao cậu “tha” chow lão ấy được?”
“Lão nào?” Tấn hỏi lại.
“Thì cái lão Trưởng Phòng Lương Thực, cái lão tằng tịu với vợ cậu ấy.”
“May chow lão, bọn mình chưa kịp dạy chow lão một bài học.” Có tiếng chậc lưỡi, tiếc rẻ.
“Thôi đi. Đời bộ đội, không nằm lại chiến trường này thì cũng nằm ở chiến trường khác. Mất em, giờ trăm sự đành nhờ lão.” Tấn tỏ vẻ an phận.
“Cái thằng này, đúng là nhịn chow tới chết?”
Nửa đêm, trăng đội đỉnh trời. Ánh vàng vằng vặc rót lên kẽ lá. Sương cũng bay ra từ những hang hốc, hơi bốc như mây, giăng mắc khắp nơi.
Từ trên đỉnh núi có những bóng người men giữa đám cỏ lao lần mò đi xuống. Thỉnh thoảng họ dừng lại sục sạo, rồi giơ những cái móc sắt vút vào những hốc đá trồi sụt dưới chân.
“Không phải cái hang này.” Có ai đó lên tiếng.
“Cái kia cũng không phải.”
“Không lẽ chúng ta lạc đường?”
“Chúng ta đã nhầm hang rồi.”
“Không phải. Bọn mình nhầm núi đấy. Nghe nói, núi này tên là Lão Sơn.”
Có tiếng gắt khẽ, “Lão Sơn là tên tạm chiếm, trước là núi Đất đấy. Lò A Khén, Nông văn Phương sinh đẻ ở đây đấy. Nhầm thế nào được.”
Một đợt gió bỗng nhiên tạt mạnh. Cả bọn lúi húi thụp mình, kéo cao cổ áo.
Khi bóng họ sắp khuất sau sườn núi, có tiếng kêu vói theo, “Các đồng chí ơi,…” Âm thanh trượt dài trong gió.
“Suỵt, suỵt…” Lâm văn Diên đưa tay lên môi huýt khẽ.
“Gọi họ đi. Giờ này mà họ còn ngỡ mình đi lạc kìa.” Có tiếng thúc giục.
“Thôi, cứ để họ đi. Thà tưởng đi lạc còn hơn biết mình bị phản bội.”
Những tiếng nói đột nhiên ngưng bặt, văng vẳng trên cao chỉ còn tiếng gió xào xạc, tiếng cành khô rơi. Nằm dưới lòng đất, người ta nghe rõ tiếng đất thình thịch, tiếng lá bị giẫm, tiếng người lao xao.
“Bình ơi, chờ mình với.” Bóng Đinh văn Thọ cố kéo cái chân lặc lìa, lếch thếch chạy theo. Chưa bắt kịp bạn, anh đã nói vói,
“Bình ơi, cậu về đi.” Giọng anh giục giã. “Mau về đi. Về mà thăm cái Nụ.”
“Còn cậu?” Võ Đình Bình tỏ vẻ ngạc nhiên. “Cậu không muốn gặp Nụ à?”
“Ồ, không. Không.” Đinh văn Thọ cương quyết, “Nụ là của cậu. Mình rút lui rồi.”
“Rút lui? Tại sao?” Một ý nghĩ lóe lên. Anh liếc xuống đôi chân của bạn. “Vì cái chân gãy này ư?”
“Không. Không phải.” Thọ đính chính, “Mình rút lui trước khi lên núi, chỉ có điều chưa kịp nói với cậu đấy thôi.”
“Nhưng tại sao?” Bình vẫn chưa hết ngạc nhiên. “Thế, cậu không nghĩ đến Nụ nữa ư?”
“Vẫn… Nhưng bây giờ, tình yêu đối với mình không còn quan trọng nữa.” Bất chợt, ánh mắt Thọ trở nên xa xăm.
“Hết chiến tranh, mình đi suốt chiều dài đất nước, từ Bắc chí Nam, từ Nam ra Bắc, cũng không thấy có gia đình nào không mất mát vì chiến tranh.”
Nói đến đây, bỗng Thọ xoay mặt nhìn Bình, giọng anh trở nên vui. “Gặp lại cậu, mình chợt phát hiện nhà của cậu là một gia đình toàn vẹn nhất.  Đúng là tam đại đồng đường7. Thế nên,…”
“Cậu quyết định rút lui?” Bình tiếp lời Thọ.
“Mình muốn thấy một bức tranh toàn bích.” Thọ lại giục, “Về đi. Cậu về ngay, nhé.”
“Mình đã. Hôm mới chết, mình chạy một mạch về làng, tuồn ngay vào giấc mơ của Nụ. Nhưng,… Nụ không nhận ra. Cô ấy khiếp đảm, la toáng lên. Rồi tỉnh dậy.” Anh nhìn lại mình, rồi cười buồn, “Mình dính ngay một quả, thân thể cháy trụi, mặt mày đen ngòm như thế này, Nụ nhìn không ra… là phải.”
Đúng lúc đó, có lệnh “tập hợp” của Lò A Khén. Tiếng kêu văng vẳng từ bên kia triền núi. Võ Đình Bình vội đứng lên, anh đỡ bạn gấp rút chạy về bên kia núi.

Quá nửa khuya, gió trở trời, xô trăng giạt về một mé. Cánh quân di chuyển nhanh dần. Nhiều bóng đổ tràn xuống núi, lấp đầy những hầm hố, mương hào. Bóng họ cúi xuống ngàn cây, luồn trong những khe núi, vờn nhau trên tận đầu rừng. Lướt qua những nơi họ ngã xuống trước đây, bóng họ lại rớt lại như một thứ định mệnh đã sắp sẵn. Tan trong cõi vô thường.
Lâm văn Diên ngã ập xuống cạnh Ngô An Huy. Bởi vì, từ sau phát đạn nổ như chớp loé đêm hôm ấy, bọn anh đã ngã xuống, bị rơi tỏm vào một khoảng không vô trọng lực. Rồi bỗng dưng anh cảm thấy mình nhẹ hẫng, bềnh bồng trôi nổi như mây. Anh nhìn lại thân xác mình, hình hài mới đó đã biến dạng, nó giống như một bộ đồ cũ không còn vừa vặn nữa. Trước khi nhắm mắt, anh vẫn còn nghe tiếng rè rè phát ra từ máy gọi. Bây giờ, mỗi đêm, những người nằm lại trên đỉnh núi này đều lắng nghe cái âm thanh ấy như một điệu nhạc quen. Nhưng, bây giờ anh không còn để ý loại nhạc ấy. Mỗi đêm khi ngửa mặt, anh nhìn thấy cả một bầu trời xanh trong vắt. Mây lơ thơ vài cụm. Và trăng, như một ngọn hải đăng trong vũ trụ, một thứ ánh sáng huyền diệu thắp sáng núi đồi. Anh lan man chợt nhớ cái đêm trăng cuối cùng, cái đêm mà cả bọn nhảy ù vào cái chết. Sau này, cứ vào thời khắc đó anh lại tự hỏi, làm thế nào để tránh được cái chết. Anh phải chạy nhanh hơn hay phải nhảy mạnh lên? Để tránh một làn đạn, anh phải chạy trước nó hay sau nó? Mỗi đêm, anh ngắc ngứ giữa thời khắc này. Cứ cố, mà không làm sao thoát ra được. Bị cái sống rượt và cái chết chờ. Chết, không phải là hết. Chỉ vì không ai thay đổi được quá khứ nên người ta không thay đổi được cái chết. Bây giờ, nó trở thành một thứ định mệnh đã sắp sẵn. Nhiều đêm, khi trăng sắp tàn, tiếng một con cú rúc bên góc rừng, anh lại chuẩn bị cố nhảy qua những tia nắng lấp lóa. Anh tin, nhảy qua được ánh nắng, nhảy vô bóng mặt trời là được sự sống lại. Ôi, anh tiếc cái thời khắc đứng giữa hai tia nắng. Mỗi một đêm anh đều mơ, có một ngày lại được đi dưới ánh mặt trời, được soi mặt mình dưới một con nước nhỏ. Anh chợt nhớ, đã lâu lắm rồi anh chưa thấy được chính mình. Anh chợt nhớ chính anh. Nhớ mặt, nhớ mũi, nhớ da diết, nhớ đến cháy bỏng ruột gan. Nhiều lần anh định đưa tay lên sờ mặt, nhưng bàn tay anh cũng không có hình thể. Anh loay hoay trong chờ đợi. Và hy vọng tìm một cơ hội chow tới sáng.

Bốn giờ sáng.
Tiếng gà rừng đầu tiên eo óc.
Tất cả bật dậy vì một bóng người vụt chạy xuống núi.
“Ai?”
“Đứng lại. Đứng.” Nhiều tiếng quát lanh lảnh. Tiếng đạn lên lốp rốp. Nhưng bóng đen vẫn vùn vụt như cơn gió.
“Đừng bắn.” Trần văn Tấn ghè mũi súng của Lâm văn Diên xuống đất. “Phạm Công Tạo ấy mà.”
“Trời sắp sáng, hắn còn chạy đi đâu?”
Lâm văn Diên đưa tay che ngang tầm mắt. Cả bọn trông theo bóng Tạo nhấp nhô ẩn hiện giữa rừng cây.
Khi tiếng pháo ầm ỳ cuối cùng đã lắng, Phạm Công Tạo mới lú ra được khỏi chân núi. Hắn vẫy tay gọi chiếc xe cút-kít của mẹ con người Tày.
“Xe, xe ơi. Chow gửi nhờ một ít đỗ về Hà Nội.”
Đúng lúc đó, sắc mây chợt ửng. Một màu hồng phơn phớt nhuộm thắm chân trời. Bóng Phạm Công Tạo cũng vừa tan loãng thấm xuống đất. Bên kia lề, bóng hai mẹ con người Tày cũng biến mất.
Trên con đường hửng sáng, bây giờ, chỉ còn độc một cái càng xe mục nát.

 

Georgia, tháng 10/2011

 

———–

1.Bắp chuối hay củ chuối: tiếng lóng chỉ B.40
2.Đức Thánh: Đức Thánh Trần Hưng Đạo
3.Hàn Tín: danh tướng đời Hán (Trung Hoa)
4.Khựa: ý chỉ lính Trung Quốc đang xâm lấn Việt Nam
5.Bài Ca Người Lính (CSVN) của nhạc sĩ Diệp Minh Tuyền.
6.Bài hát Đông Phương Hồng: bài hát ca ngợi Mao Trạch Đông mở đầu với những câu “ Phương Đông đỏ, mặt trời mọc. Trung Quốc có Mao Trạch Đông…”
7. Tam đại đồng đường: một gia đình có ba thế hệ ông bà, cha mẹ, con cháu cùng sống chung dưới một mái nhà.

*Ghi chú: Truyện viết dựa theo Tài liệu giảng dạy dành cho sinh viên sĩ quan của Tự Vệ Đội – Cục Phòng Vệ Nhật Bản – Đại Học Phòng Vệ (Nghiên cứu viên Nakamura Masanori – ông Hà Minh Thành dịch), giai đoạn 3, kế hoạch tái chiếm Lão Sơn MB84 do Văn Tiến Dũng chỉ huy. Kế hoạch MB84 hoàn toàn thất bại vì một sĩ quan cao cấp trong Cục Quân Báo Việt Nam đã tiết lộ cho phía Trung Quốc. Sau trận này Việt Nam tổn thất 3,700 binh sĩ và mất hai ngọn núi Lão Sơn và Giả Âm Sơn.

bài đã đăng của Nguyễn Thị Thảo An


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)