Trang chính » Biên Khảo, Chuyên Đề, Nhận Định, Thơ & Thời Đại Email bài này

lại nghĩ về thơ

 

isou-portrait

Portrait, 1952 – Isidore Isou

 

Một lần nữa, giải Nobel cao quý lại lọt vào tay một thi sĩ. Có thể vì Hàn lâm viện Thụy Điển muốn cứu vãn thế giới? Vì, hình như thơ có thể làm cái chuyện khó khăn đó, theo lời Yves Bonnefoy, một thi nhân của nước Pháp. Mà cũng có thể là các ông Hàn Thụy Điển chỉ muốn làm quảng cáo cho thơ, một món hàng ế. Thơ ế, phải chăng vì thi nhân vẫn ở từng nhứt dù đã bỏ tháp ngà? Trong khi ca khúc đã xuống đường quay cuồng hip hop trên vỉa phố bê tông, với lời lẽ vô cùng thô bạo? Tôi chưa đọc thơ Tomas Tranströmer, dù có mua "để dành" cuốn Baltiques, bản dịch tiếng Pháp tác phẩm toàn bộ 1954-2004 từ mấy năm trước. Tuy vậy, nhân dịp này, thấy thiên hạ nhốn nháo khiến tôi cũng xôn xao lên cơn… lại nghĩ về thơ. Dưới đây là những lời lắp ghép (bậy bạ), một cái nhìn (lẻ loi) lên khoảng trời (thơ) xanh ngắt (ngất) từ chiếc sân xi măng cũ. Nhưng cứ hy vọng. Vì biết đâu, cái khung trời thơ xanh biếc bao la ấy, cũng chỉ là sự kết hợp những khoanh trời đáy giếng, tợ những điểm xanh lấm tấm trên nền vải (mây) trắng? Ôi, những câu hỏi, những câu hỏi, những câu hỏi!

 

1. Ý & lời

Ý và lời trong bài thơ như bóng với hình, không thể tách rời nhau. Ta có thể diễn tả ý cũ với những chữ mới, nhưng kết quả sẽ là một bài thơ khác. Ý trước lời. Dù lời có thể gợi ý. Chẳng hạn như trong trò chơi lắp ghép thơ. Tôi đọc báo, chọn những cái tít, những cụm từ, những câu chữ tôi ưa thích rồi sắp đặt lại theo một thứ tự nào đó để làm một bài thơ. Lấy của người làm của mình. Dù chữ (lời) có sẵn, nhưng khi chọn tôi cũng phải dựa theo một ý nào đó chớ? Thí dụ thứ hai, về lời trước ý, là trong trò chơi xác chết tuyệt vời (cadavre exquis) của nhóm siêu thực. Trong trò chơi này, các nhà thơ sẽ luân phiên đóng góp chữ, chế tạo một mệnh đề theo thứ tự "chủ từ động từ túc từ" (sujet verbe complément) đúng cấu trúc văn phạm. Nhưng người viết sau, tuyệt nhiên không biết người viết trước đã viết gì. Tuy là một trò chơi chữ (nghĩa) máy móc, nhưng ý cũng phải có trước trong đầu thi sĩ trước khi đặt bút chớ, dẫu chữ có thể đến từ tiềm thức. Kết quả:

Le cadavre ― exquis ― boira ― le vin ― nouveau

Tạm dịch:

Xác chết ― tuyệt vời ― sẽ uống ― rượu nho ― mới

Trở về khởi điểm, xin lập lại rằng ý phải có trước lời. Vì vậy – dù muốn hay không – ý phải quan trọng hơn lời, chí ít là trong những trường hợp sau đây? Bởi lẽ, xin lập lại, cũng có những trường hợp thơ đến từ lời. Như khi ta đi chơi nhìn thấy lời ghi trên một tấm bảng hiệu, hay thoáng nghe một câu nói gợi ý. Tôi xin miễn nói thêm và xin đi ngay vào vấn đề với một thí dụ cụ thể. Hãy lấy Truyện Kiều ra làm ví dụ. Và xin hiểu "ý" là "nội dung". Tới đây câu hỏi cần đặt ra là: Tại sao ta đọc Kiều? Ta đọc Kiều vì nội dung, hay vì hình thức? Ta đọc Kiều vì ta muốn biết cuộc đời Kiều, hay để thưởng thức thơ Nguyễn Du? Câu hỏi tiếp: Tại sao Nguyễn Du viết Truyện Kiều? Nguyễn Du viết Kiều để kể lại cuộc đời Kiều (đồng hội đồng thuyền), hay để làm thơ? Chi tiết hơn: Nguyễn Du viết Truyện Kiều, vì muốn kể lại nội dung cuốn truyện Kim Vân Kiều của Thanh Tâm Tài Nhân, hay chỉ vì muốn sử dụng thơ lục bát?

Nếu cuốn truyện của Thanh Tâm Tài Nhân chỉ là cái cớ để viết những vần thơ lục bát tuyệt vời, thì Nguyễn Du đã có thể chọn bất cứ cuốn truyện nào. Nếu tài làm thơ của Nguyễn Du là bẩm sinh thì cái thi tài ấy đã có thể hiển hiện tột đỉnh trong thơ chữ Hán (tôi chưa đọc), hay thơ nôm (tôi chưa đọc)? Nhưng chuyện đó (hình như) đã không xảy ra? Nếu như đã xảy ra thì cũng chưa đủ, cho thi nhân cũng như độc giả? Do vậy, ta có thể khẳng định rằng Nguyễn Du chỉ/đã trở thành một thiên tài khi ông viết lại cuốn truyện của nhà văn Trung Quốc. Hoặc nói ngược lại: Truyện Kiều đã khiến một ông quan triều Nguyễn có "chút tài làm thơ" (gọi tạm như vậy) trở thành đại thi hào Nguyễn Du. Khi đặt bút kể lại cuộc đời đau thương của Vương Thúy Kiều, Nguyễn Du vì quá xúc động đã nhập vào hồn Kiều, khiến "anh hoa phát tiết ra ngoài" thấm đượm từng câu chữ?

Kiều đi tảo mộ. Nhưng cảnh đẹp không khiến Kiều xúc động như chàng văn nhân khi đi Chùa Hương "trông thấy bức tường ngang / chàng đưa tay lẹ bút / thảo bài thơ liên hoàn". Hoặc, như bà Huyện Thanh Quan lúc qua Đèo Ngang tức cảnh. Chỉ khi gặp mả Đạm Tiên, và sau khi nghe em trai kể lại cuộc đời nàng ca nhi, Kiều mới linh cảm số phận mai sau của nàng mà lấy trâm "vạch da cây vịnh bốn câu ba vần". Có thể xem Vương Quan là tiền thân của Thanh Tâm Tài Nhân. Dù Quan chỉ kể vắn tắt và bằng lời, chưa thành văn, cuộc đời nửa chừng xuân của nàng kỹ nữ nổi danh tài sắc một thì. Bài tứ tuyệt của Kiều báo hiệu cho Đoạn Trường Tân Thanh của cụ Nguyễn. Tóm tắt: Đạm Tiên là Thúy Kiều, Thúy Kiều là Nguyễn Du. Và, thay vì vạch da cây trong sân nhà mình, thi nhân làng Tiên Điền đã vẫy bút làm mưa gió – trên những trang giấy lụa.

Nguyễn Du: Cảo thơm lần giở trước đèn. Nguyễn Đình Chiểu: Trước đèn xem truyện Tây Minh. Tới đây xin mở ngoặc để nói thêm rằng: Chúng ta (muốn) viết truyện, (muốn) làm thơ, (muốn) vẽ tranh, (muốn) viết ca khúc vì chúng ta đã đọc truyện, đọc thơ, xem tranh, nghe nhạc. Chớ không phải vì chúng ta tức cảnh, tức người. Như mọi thứ trên cõi đời này, thảy đã/phải bắt đầu bằng sự bắt chước nhau, trước khi tìm ra (hay không tìm được) cái riêng, cái độc đáo của mình. Bà Thanh Quan dù "tức cảnh" nhưng trước khi "tức" bà đã "đọc". Hồ Biểu Chánh viết lại tiểu thuyết Hugo, Malot. Có Giòng Sông Xanh (The Blue Danube) thì mới có Giòng An Giang? Có Hò Kéo Thuyền trên Sông Volga (The Song of the Volga Boatmen) thì mới có Du Kích Sông Thao?

Văn hóa, văn minh phải luôn luôn là bình thông đáy. Nếu không thì chỉ là văn hóa bộ tộc không thể triển nở thành văn minh. Sau Tàu, nếu ta không bị/được "bọn thực dân Tây" xâm lấn thì chúng ta sẽ còn giữ búi tóc, chiếc váy đụp, sẽ không có tiểu thuyết, thơ mới, thơ tự do. Bài thơ đầu tay của tôi, Bây Giờ Trên Quê Hương Chúng Ta, đăng trên Trình Bày số 3 trước 75, và bài thơ, Việt Nam Tổ Quốc Và Em, của Diễm Châu sau 75, bắt chước bài thơ America của Ginsberg. Nội dung là một thứ "hiện tình đất nước" (State of the Nation) để trình bày thảm cảnh quê hương, và để ngấm ngầm vinh danh nhà thơ của nước Mỹ.

Nội dung "hay", thì lời thơ sẽ "hay", ca từ sẽ "lộng lẫy". Nếu có rung cảm thiệt, rung cảm hết minh, tất nhiên: "Tôi nhớ mãi một chiều xuân chia phôi, mây mờ buông xuống núi đồi, mà trong lòng mơ hơn ở ngoài trời…" Xót xa cho đời Kiều cũng như xót thương cho số phận của "nụ cười sơn cước", "quê em", "làng tôi", "Tha La xóm đạo"… Hướng Về Hà Nội là nhạc vàng, đến từ sự nhớ thương tột cùng khi đất nước bị chia cắt, kẻ ra đi không mong ngày trở về. Ngược lại, Có Phải Em Là Mùa Thu Hà Nội, chỉ là một bài ca sến. Nhớ Về Hà Nội, thì lại là một cái loa tuyên truyền oang oang, thối hoăng, với câu: "Bài hát đôi ta là khúc quân ca / Là uớc mơ xa huớng lên Ba Đình / Tràn niềm tin!". Bắt chước Hướng Về Hà Nội nhưng… dở ẹc. Hình ảnh, thanh âm "thanh bình tiếng guốc reo vui" (Hướng Về Hà Nội ) đẹp và gây xúc động, vì thành thật. Hình ảnh, âm thanh "nghe đâu đây lá úa và mi xanh / Nghe đâu đây hồn Trưng Vương sông Hát" (Có Phải Em Là Mùa Thu Hà Nội) là cải lương… hạng "bẹt". Từ thủ đô miền Nam "hướng về thành phố xa xôi" thì mới có nghĩa. Chớ đang ở trên đất Bắc kỳ cục mà nhớ về Hà Lội hà lụt là để làm cái con… hầu gì nhỉ? Có lẽ vì vậy mà nàng ca nhi trên YouTube vừa ca vừa đau khổ đến độ… toe toét không ngừng?

Thập niên 60, nhạc Trịnh Công Sơn mới ra đời, nghe lạ tai, thích. Bây giờ thì không hợp tai, nhứt là khi ca sĩ muốn lâm li… truyền cảm. Những hình ảnh "diễm xưa" nườm nượp khiến tôi bị choáng ngộp như kẻ hụt chưn sắp chết đuối, chịu không thấu. Khi xứ sở đã đổi thay, xã hội đã chuyển hóa, mà vẫn chưa rời bỏ "trong cơn mê này, gọi mùa thu tới, gọi mãi tên nhau…"? Giờ đây, nếu tôi có "gọi nắng" là để cho ấm áp cái mớ xương già khọm trên đảo sương mù, chớ đâu có để cho "tóc em cài loài hoa nắng rơi". Tuy nhiên, đi chỗ khác chơi vẫn chưa yên thân, vì vẫn còn văng vẳng mãi bên tai "tiếng hát liêu trai" của thuở nào. Do vậy mà phải tự cởi trói bằng cách sửa đổi ca từ: "Tiền ngỡ đã quên đi / Như lòng cố lầm lì / Người ngỡ đã va li / Nhưng người chửa chim di…" (Tiền Nhớ) ― "Ngày mai công an / Sẽ tới lôi em nện đầu / Nện đầu chảy mủ lê thê / Nện đầu cho tới hôn mê… Ngày mai công an / Ngồi đứng bên xe đợi chờ / Sỏi đá trên tay mình hờ / Nghe ngàn nhịp chân… bơ vơ…" (Biển Mớ)

 

2. Nội dung & hình thức

Nội dung, như đã sử dụng ở trên cho dễ thấy, là "ý" hiểu theo nghĩa rộng. Thể loại và lời, là hình thức để thể hiện cái ý kia, để kể lại nội dung. Như đã nói, nội dung và hình thức của Kiều không thể tách rời nhau. Truyền Kiều, nếu không là truyện thơ lục bát thì sẽ không còn là Truyện Kiều (của Nguyễn Du). Do vậy, các bản "chuyển ngữ" sang tiếng Anh, tiếng Pháp, bằng thơ hay văn xuôi, thực ra (và đại khái) chỉ là những bản "chuyển nội dung". Hệt như một tuồng cải lương, một cuốn phim kể lại đời Kiều. Và điều này lại cho thấy sự quan trọng của nội dung trong một tác phẩm, dẫu là một bài thơ ngắn hay một cuốn truyện thơ dài.

Một người đọc (hay nghe đọc) Kiều cũng hệt như một người đọc (hay nghe đọc) các cuốn truyện thơ khác: Lý Thông Thạch Sanh, Phạm Công Cúc Hoa, Bích Câu Kỳ Ngộ, Lục Súc Tranh Công… Trước tiên, người ấy chỉ muốn biết nội dung. Lời "thơ hay" chỉ là "bonus", "phần thưởng". Bạn có thể phản biện: Ngày nay người ta còn đọc Kiều vì lục bát Nguyễn Du hay. Nếu không thì Kiều đã chung số phận với các cuốn truyện thơ chưa là kiệt tác. Đồng ý. Nhưng chỉ một phần nhỏ. Bởi lẽ, lục bát Nguyễn Du dẫu có tuyệt vời, nhưng nếu chỉ để kể lại cuộc đời không sóng gió của Thúy Vân thì độc giả sẽ chẳng… cục kịch.

Chúng ta đọc Cung Oán vì chúng ta muốn biết số phận nàng cung phi. Chúng ta đọc Chinh Phụ vì chúng ta muốn biết nỗi lòng người phụ nữ thời ly loạn. Do vậy mà nội dung đã lộ diện ngay ở tựa đề: Đánh đu, bánh trôi nước, Thăng Long thành hoài cổ, qua Đèo Ngang tức cảnh, quê ngoại, bức tranh quê, gái quê, chơi giữa mùa trăng, gởi hương cho gió, đường vào tình sử, hai sắc hoa ti-gôn, màu tím hoa sim, tỏ tình trong đêm, tống biệt, thề non nước, ngày xưa, thơ say, thơ tình, mười hai bến nước, áo lụa hà đông, ông đồ, nàng, đêm thứ nhất, giữa lòng cuộc đời, thắp tạ, mặt trời tìm thấy, vân vân…

Trong quán sách, kẻ chọn Đoạn Tuyệt, người lựa Đời Mưa Gió. Cùng một thi sĩ, Hàn Mặc Tử, ai cũng thuộc lòng các câu thơ bảy chữ của Đây Thôn Vĩ Giạ. Nhưng có mấy ai còn nhớ (hay đã xem) các câu thơ tám chữ của bài Đàn Ngọc? Thôn Vĩ, vì là quê quán của nhà thơ, nên đã gây xúc cảm mãnh liệt hơn cây đàn, dù là đàn ngọc. Cùng một nhà văn, kẻ chọn Gánh Hàng Hoa, Gia Đình, kẻ nhặt Nửa Chừng Xuân, Hồn Bướm Mơ Tiên. Thôn Vĩ ngày nay đã khác xưa. Xứ Huế cần có một Hàn Mặc Tử đương đại. Nhưng thôn Vĩ hôm nay có thể không còn gây cảm xúc mạnh cho thi nhân?

 

3. Đọc thơ & diễn dịch

Gần đây, Da Màu có đăng một bài thơ của tôi với nhan đề Để Làm Gì Thơ Hôm Nay. Hãy thử đọc lại bài thơ này trong bối cảnh của bài viết này. Đó là một bài thơ mà chắc chắn một số ít độc giả dù có rộng lượng thế mấy cũng phải xếp nó vào hàng tạm được mà thôi. Phần còn lại – các vị đọc thơ để mua vui – nếu có đọc sẽ không ưa, thậm chí có thể bị dị ứng, vì bài thơ không… hồn. Tới đây, xin đặt thêm một câu hỏi nữa: Thế nào là đọc thơ?

Cách đọc thứ nhứt: vội vàng để mua vui. Trong cách đọc này, độc giả sẽ thấy nội dung bài thơ kể lại một buổi trưa chủ nhựt của thi nhân, nhưng với câu hỏi to "tổ bố": Để làm gì thơ hôm nay? Lời thơ "chưa siêu thoát", hình ảnh "chẳng mới lạ", thảy đều "tà tà mặt đất" dù có… máy bay phản lực. Vắn tắt, theo nhãn quan cũ, đó là một bài thơ chưa/không đẹp, chưa/không là thơ. Tác giả sử dụng lại nhan đề cuốn tiểu luận ngắn đang đọc (Để Làm Gì Thơ Hôm Nay / À quoi bon la poésie aujourd’hui của Jean-Claude Pinson) để đặt ra một câu hỏi về thơ. Nhưng không luận bàn về thơ. Không trả lời cho câu hỏi đó. Chỉ kể lể tên tuổi các nhà thơ nhà phê bình ngoại quốc.

Cách đọc thứ hai: không quá vội vàng. Và nếu có chút tưởng tượng thì có thể tìm xem bài thơ có ẩn ý gì không, và diễn dịch thử xem nó có ăn khớp với câu hỏi "để làm gì thơ hôm nay" hay không. Trước tiên là bài thơ không trữ tình, không bộc lộ cảm nghĩ riêng. Nó thiếu chiều sâu? Hay nó chỉ muốn phơi bày cái mặt phẳng của đời sống, tựa như… tranh Warhol? Con ruồi, con ong, con chim… có thể làm ẩn dụ cho một cái gì khác hay không? Những hình ảnh chẳng hấp dẫn, những câu nói quen tai, những âm thanh chói màng nhĩ của đời thường – dù là một ngày nghỉ, một "cảnh nhàn" như trong thơ cổ điển. Chúng có nghĩa lý gì không?

Nói tóm lại, một bài thơ kiểu đó để làm gì trong những ngày tháng tất bật hôm nay? Thơ, hay là cứt… thi sĩ? Để làm gì? Để làm gì? Một bài thơ Lý Bạch, Thôi Hiệu có thể "tự hay" để thi hữu có thể tiếp cận "liền tù tì", vì nó nằm trong một hệ mỹ học quen thuộc, duy nhứt, bất di bất dịch. Thơ văn xuôi của Rimbaud phải chờ các nhà phê bình diễn dịch thêm, thì độc giả mới hiểu… nổi. Nói "dzậy", hổng có nghĩa là "thơ của tui" cũng ngang bằng với thơ của… cụ Rimbaud đâu nha. Mà chỉ chắp cả hai tay vái (lia lịa) ba bốn cái xin độc giả "mần ơn mần phước" đừng cho các bài thơ chả giống ai ra nghĩa trang… thơ lãnh tụ sớm quá.

 

4. Hồn & xác

Tôi không quan tâm đến cái được gọi là hồn thơ. Vì có thể nó quá mơ hồ, quá Á Đông chăng, chí ít là với tôi, một thằng ngu không ưa Đường Thi, không ái văn hóa Tàu? Nếu bảo thơ hay (đẹp) là có hồn, và thơ dở (xấu) là vô hồn thì có khác gì nói gái đẹp có hồn, gái xấu không hồn? M­ột bài đồng dao "dung dăng dung dẻ", một bài vè, bài sớ không thể là thơ vì chúng không hồn? Thơ hài cú giản dị, ít lời, ít tính từ, sử dụng "trực ngôn" dễ hiểu, là… thi ca ý niệm, là… nghệ thuật tối thiểu. Đà Lạt "phố núi" đẹp hơn Đà Lạt "phố đồi"? Đà Lạt "trăng mờ" xinh hơn Đà Lạt "trăng sáng"? Trăng mờ "bên suối" xịn hơn trăng mờ "bên sông"? Vì thói quen, hình ảnh người em trong thơ, trong ca từ phải đẹp hơn hình ảnh người anh. Cùng một công việc là nhìn trời, nhưng "em tôi ưa đứng nhìn trời xanh xanh" là thơ… mộng, còn "anh tui ưa ngồi ngó trời xám xám" là thơ… tếu/đểu. Chừng nào chúng ta bỏ được cái thói quen ấy thì mới tránh được những hình ảnh sáo mòn. Nhưng chuyện này chỉ xảy ra khi chẳng còn món… rựa mận.

Rimbaud: "Tôi thích các tấm tranh ngây ngô, bảng hiệu vẽ trên cửa, phông cảnh trên sân khấu, phông cảnh vẽ để làm nền cho bọn hát dạo làm trò, bảng hiệu tiệm, tranh dân gian tô màu sặc sỡ, văn chương lỗi thời, chữ La Tinh của nhà thờ, sách khiêu dâm sai chính tả, tiểu thuyết các bà cụ già xưa đọc, truyện cổ tích thần tiên, những cuốn sách nhỏ của thời thơ ấu, nhạc kịch xưa, điệp khúc ngớ ngẩn, nhịp điệu ngu ngơ." Trích dẫn để cho thấy lằn ranh giữa đẹp-xấu, hay-dở, cao-thấp, sang-hèn… không thể cứng nhắc. Nhiều giá trị cũ sẽ được/bị thẩm định lại. Truyện Kiều cũng đã mấy lần được/bị khen chê. Anatole France, Harold Pinter đã đoạt giải Nobel. Nhưng họ chỉ là nhà văn "bé tí teo" nếu so với Proust, Joyce (không được vinh danh). Trường phái thơ siêu thực, nhóm thi sĩ beat đã cách mạng thơ đều đã lọt sổ.

Quan niệm thơ phải hiển hiện cái hồn ngay lúc đọc là dư âm của cách tiếp cận thơ của người xưa? Quan niệm này, nếu đúng, chỉ có thể áp dụng cho Đường Thi, thơ cổ điển của ta? Hoặc các bài thơ ngăn ngắn khác, vừa siêu việt vừa tiểu xảo? Làm sao nắm bắt ngay tức khắc cái hồn (vía) của các bài thơ văn xuôi, có khi "lê thê" như một cuốn truyện? Thơ Baudelaire, Rimbaud, Lautréamont, Claudel, Péguy, Perse, Butor. Thơ Whitman, Stein, Pound, Sandburg, William Carlos Williams, e.e. cummings. Đó là chưa kể thơ các nhà thơ cận đại, như Kerouac, Kaufman, Brautigan, Ginsberg, Bukowski, Morrison, Harrison. Muốn biết cái hồn của một thành phố, nếu không sống hẳn ở nơi ấy thì chí ít cũng phải năng lui tới chớ?

Mở cuốn thơ Paterson của William Carlos Williams ra ở bất cứ trang nào ta sẽ thấy ngay hồn thơ lai láng? Tôi không dám chắc. Nhưng với tôi, khi đọc, tôi không muốn tìm hồn thơ mà chỉ muốn đọc William Carlos Williams trước. Song song với hồn thơ, là quan niệm cho rằng thơ là tinh hoa của ngôn ngữ. Văn xuôi, văn nhựt trình là phi thi. Paterson (1946-1958) của William Carlos Williams là một trường ca cắt dán xen kẽ các khổ thơ có vần ("cú pháp bị vày vò") với những đoạn văn xuôi ("khách quan bình thường") về đời sống hàng ngày: tin tức, thư từ, thời sự, phóng sự, tài liệu, sử liệu địa phương để thể hiện tính đa tầng, phần mảnh, hiện tại hiệp chủng và quá khứ thuộc địa, văn hóa, xã hội – bức họa chân dung một thành phố công nghiệp Mỹ ở New Jersey "nổ tung muôn vạn mảnh", để chế tạo một thi pháp thị giác… sẽ ảnh hưởng Michel Butor, Raymond Federman và nhiều nhà văn nhà thơ khác.

Xin trích một mẩu tin thời tiết trong thi phẩm Paterson: "Hôm nay sẽ có nắng; nhiệt độ tối đa khoảng 27 độ dương; gió nam với sức mạnh ôn hòa. Ngày mai thời tiết sẽ nóng, mặt dù có mây di chuyển; gió nam với sức mạnh ôn hòa." Nước Việt hôm nay là một cái kho báu tin thời sự đang đợi chờ thi nhân, thay vì cứ loanh quanh mãi ở các đề tài đã mốc meo. Bài viết đã khá dài (ngoài ý muốn) nên phải dừng lại ngay (để tránh nói bậy thêm). Chỉ xin phép được trích dẫn thử vài bài thơ cụ thể để độc giả xem chúng có hồn, có sáng tạo ra được cái đẹp mới, lạ hay không:

 

[Blank Verse]
Ernest Hemingway

“                         “
       !             :                  ,                 .
              ,            ,            ,                 .
      ,              ;                              !
                     ,

1916

 

The Loch Ness Monster’s Song
Edwin Morgan

Sssnnnwhuffffll?
Hnwhuffl hhnnwfl hnfl hfl?
Gdroblboblhobngbl gbl gl g g g g glbgl.
Drublhaflablhaflubhafgabhaflhafl fl fl –
gm grawwwww grf grawf awfgm graw gm.
Hovoplodok – doplodovok – plovodokot – doplodokosh?
Splgraw fok fok splgrafhatchgabrlgabrl fok splfok!
Zgra kra gka fok!
Grof grawff gahf?
Gombl mbl bl –
blm plm,
blm plm,
blm plm,
blp.

 

Memorabilia
e. e. cummings
(trích)

ygUDuh
            
             ydoan
             yunnuhstan

             ydoan o
             yunnustan dem
             yguduh ged

             yunnuhstan dem doidee
             yguduh ged riduh
             ydoan o nudn
LISN bud LISN

                       dem
                       gud
                       am
                      
                       lidl yelluh bas
                       tyds weer goin

duhSIVILEYEzum

 

Quê hương Mác-Đô
Nguyễn Đăng Thường

S $ S $ S $ S $ S $ S $ S $ S $ S $ S $ S $ S $ S 
S $ S $ S $ S $ S $ S $ S $ S $ S $ S $ S $ S $ S
S $ S $ S $ S $ S $ S $ S $ S $ S $ S $ S $ S $ S
S $ S $ S $ S $ S $ S $ S $ S $ S $ S $ S $ S $ S
S $ S $ S $ S $ S $ S $ S $ S $ S $ S $ S $ S $ S
S $ S $ S $ S $ S $ S $ S $ S $ S $ S $ S $ S $ S
S $ S $ S $ S $ S $ S $ S $ S $ S $ S $ S $ S $ S
S $ S $ S $ S $ S $ S $ S $ S $ S $ S $ S $ S $ S
S $ S $ S $ S $ S $ S $ S $ S $ S $ S $ S $ S $ S
S $ S $ S $ S $ S $ S $ S $ S $ S $ S $ S $ S $ S
S $ S $ S $ S $ S $ S $ S $ S $ S $ S $ S $ S $ S
S $ S $ S $ S $ S $ S $ S $ S $ S $ S $ S $ S $ S
S $ S $ S $ S $ S $ S $ S $ S $ S $ S $ S $ S $ S

Thơ Hemingway lúc ban đầu chẳng có mấy ai thấy hay. Nếu so với các thi sĩ đương thời như T. S. Eliot, Robert Frost… Hemingway chỉ là một "poète raté/failed poet". Blank Verse, thơ trắng đúng là… thơ trống rỗng rồi, có phải không ạ? Bài ca quái vật Hồ Loch Ness đã có người ca trên YouTube rồi. Khổ thơ kỷ vật của e. e. cummings là một bức họa kiểu Isidore Isou (lettrism) dùng mẫu tự để tạo hình và tạo thơ. Quê Hương Mác-Đô không những chẳng khó hiểu mà độc giả lại còn có thể bôi màu xanh đỏ tùy tiện cho thêm vui mắt. Trên đây là cách đọc thơ giản dị, sơ đẳng của tôi hầu cố gắng tìm hiểu, giải đáp các câu hỏi hóc búa như "thơ là gì", "thơ đến từ đâu", "thơ để làm gì". Nếu chưa thuyết phục thì cũng hy vọng – trong tuyệt vọng? – sẽ giúp người đọc suy gẫm lại/suy nghĩ thêm về các "vấn đề" nan giải của thơ ca. Hôm qua. Hôm nay. Và ngày mai.

 

 

 

.

bài đã đăng của Nguyễn Đăng Thường


12 bình luận »

  • Điền L. viết:

    “Từ thủ đô miền Nam “hướng về thành phố xa xôi” thì mới có nghĩa. Chớ đang ở trên đất Bắc kỳ cục mà nhớ về Hà Lội hà lụt là để làm cái con… hầu gì nhỉ?”
    Nhạc sĩ Trần quang Lộc phổ bài thơ “Có phải em là mùa thu Hà Nội” của thi sĩ Tô như Châu và ông TNC này là người Đà Nẵng (http://damau.org/archives/16505), như vậy ông ta cũng ở một nơi xa hướng về HN đấy chứ.

    “Khi xứ sở đã đổi thay, xã hội đã chuyển hóa, mà vẫn chưa rời bỏ “trong cơn mê này, gọi mùa thu tới, gọi mãi tên nhau…”? ”
    Người Việt hải ngoại thì đi đâu cũng chỉ hát toàn nhạc cũ của nhiều tác giả, chẳng cứ gì TCS. Thậm chí hát nhạc ngọai quốc cũng hát bài cũ (nhạc Pháp thì quanh quẩn “Tout les garcons et les filles, Aline, Tombe la neige, nhạc Mỹ thì Can’t Help Falling In Love, The House of Rising Sun v.v…).

    Bài “Quê hương Mác Đô”: rất hay và lạ. Nếu chữ S màu xanh và dấu $ màu đỏ thì càng hay hơn

  • Nguyễn Đăng Thường viết:

    Thưa anh Điền L.

    Anh có lý.

    Tôi ưa nói bậy, nghĩ sao viết vậy, lẻ loi, hy vọng trong tuyệt vọng mà (hi hi). Một người khác có thể viết để ca ngợi “Có phải em là mùa thu Hà Nội” và chê “Hướng về Hà Nội”. Rất tốt. Ca ngợi rất tốt, nếu đúng chỗ. Ca ngợi trẻ con bụi đời vui vẻ làm chuyện nọ chuyện kia kiếm sống qua ngày. Đừng ca ngợi Thánh Gióng anh hùng, biết rồi, khổ lắm. Ngoài ra, rừng núi thiêng liêng đã bị/được san bằng để chỗ trống cho sân gôn, resort, khách sạn năm sao mọc lên khắp nơi như … ghẻ lở dị ứng trên cơ thể quê hương, nếu mai đây, giặc có tới nhà, chắc Thánh Gióng tương lai sẽ chạy qua Tàu bẻ nứa, hay sử dụng cây tre nhập khẩu? Tôi thực sự không biết.

    “Hướng về Hà Nội” là sáng tác của một nhạc sĩ (Hoàng Dương) phải bỏ Hà Nội ra đi, trong thời “Nam Bắc phân tranh”, không mong có ngày đoàn tụ, nên thương nhớ khôn nguôi cảnh cũ người xưa, thì tôi cho là có lý. Thế nhưng, một thi sĩ ở Đà Nẳng – cám ơn anh đã cho biết – trong thời bình (?) nếu có “Thăng Long thành hoài cổ” và “nhớ em” thì chỉ cần mua cái vé xe đò, xe lửa, máy bay là có thể thỏa mãn ngay, đâu cần phải rên rỉ, có phải không ạ? Đó là thiển ý của tôi. Ngoài ra, nếu tôi không lầm, ca sĩ trong nước hình như được hát hò “Có phải em là mùa thu Hà Nội” và “Nhớ Hà Nội”, nhưng không được rớ tới “Hướng về Hà Nội”? Tôi thực sự không rõ.

    Hình ảnh trai gái “cô chiêu cậu ấm” tay trong tay dắt nhau đi (trên lối mòn có lá thu rơi?) trong thập niên 60 của Françoise Hardy “Tous les garçons et les filles” chắc không còn thích hợp với giới trẻ “tây ả-rập mắt đen tóc xoắn” hôm nay, nên không thấy chúng xuất hiện trong nhạc rap phản kháng. Giới trẻ ngoại thành, lao động nhưng thất nghiệp dài dài, nên phải “punk”, phải “hip hop” giải khây. Thính giả Tây, nhạc Pháp dậm chưn tại chỗ? Hay là thính giả ta còn quyến luyến quay tròn theo nhịp luân vũ của tiếng hát Thanh Lan (tôi “yêu” (thích) tiếng hát TL)? Tuy nhiên và tất nhiên, người nghe vẫn trọn quyền “ca khúc cũ hoài cổ” tùy tiện. Riêng tôi vì gần đất xa trời, chỉ thấy ông cụ bà lão tay rời tay nhau kẻ trước người sau ra đi không hẹn này trở về… có đôi uyên ương sống đời hòa bình…, nên phải ráng thưởng thức những cái mới lạ, kẻo chậm, vì quỹ thời gian đã tới đáy.

    Câu hỏi: Khi xứ sở đã đổi thay, xã hội đã chuyển hóa, mà vẫn chưa rời bỏ “trong cơn mê này, gọi mùa thu tới, gọi mãi tên nhau…”?, cũng là để chất vấn tôi mà thôi. Và tôi đã tìm giải đáp/giải pháp – để thoát khỏi “vòng kim cô” của nhạc Trịnh – bằng cách sửa đổi ca từ. Bởi lẽ rất giản dị, là những lời ca kiểu “sấm Trịnh”, như, “khi đất nước tôi/ta thanh bình, trẻ con đi hát đồng dao ngoài đường”, vẫn văng vẳng bên tai tôi (khổ lắm) khi tôi xem ảnh trẻ con lội sông tới trường… lúc đất nước tôi/ta hòa bình đã hơn 30 năm. Đoạn tôi viết về TCS, như vậy, chỉ là phản ứng của cá nhân tôi đối với nhạc Trịnh ngày xưa và bây giờ, chớ không để tổng quát hóa, “bắt” mọi người phải như tôi.

    Cám ơn anh đọc “lại nghĩ về thơ”, thích “quê hương mác-đô”, và góp ý xây dựng. “Quê hương Mác-Đô” là một sáng tác “lettrism-cụ thể-hậu hiện đại” (wow, ẹc) mở ngõ cho mọi người cùng tham dự. Cũng có thể dùng sign “$” bôi đen bôi đỏ mà thôi, hình thức ngắn dài, vuông vức, hay chữ nhựt tùy nghi.

    Thân ái.

  • Thu viết:

    Thưa nhà thơ Nguyễn Đăng Thường,

    Hai bài thơ “The Loch Ness Monster’s song” và “Memorabilia” thú thiệt là tôi không hiểu. Không biết đó là tiếng nước gì? Nhà thơ có thể giải thích thêm dùm tôi được không.
    Trân trọng cám ơn.

  • Nguyễn Đăng Thường viết:

    Thưa độc giả Thu,

    Một nữ độc giả – thành thật hay chỉ muốn khiêu khích nên bịa đặt ra chuyện đọc một cuốn sách nhiều lần, tôi không rõ – đã hỏi móc nhà văn William Faulkner, đại khái như sau (trích dẫn không chính xác và không nhớ xuất xứ): “Thưa ông, tôi đã đọc quyển “The Sound And The Fury” của ông ba lần rồi nhưng vẫn chưa hiểu nổi, vậy ông có cách gì để giúp tôi không?”. Nhà văn Mỹ im lặng vài giây rồi nhìn thẳng vào mắt người đối diện, đáp: Xin bà hãy đọc thêm một lần nữa”.

    Tôi có thể mượn lời ông Faulkner để trả lời [anh/chị] Thu. Nhưng làm “dzậy” tôi e sẽ bị hiểu lầm là tự cao tự đại, và nhứt là phụ lòng một độc giả đã bỏ công ra đọc tôi. Sau đây tôi cố thử giải đáp các thắc mắc của Anh/Chị.

    1. The Loch Ness Monster’s song

    Chúng ta nghe thú vật kêu và phiêm âm lại thành “miao miao” (mèo), “quấu quấu” (chó), “be be” (cừu, dê), “bò bò” (bò), “chim chíp” (chim), v.v… Tất nhiên việc phiên âm sẽ không thể hệt nhau vì bị lệ thuộc vào từng ngôn ngữ. Quái vât Hồ Loch Ness là một con vật của huyền thoại, tới nay người ta chỉ “nhìn thấy” từ xa cái “đầu” của “nó” ló lên khỏi mặt nước mà thôi. Vì là “quái vật” nên nó gieo rắc kinh khủng không ít trong trí tưởng tượng của đa số. Tuy vậy, nhà thơ Edwin Morgan đã muốn “nhân đạo hóa” (?) con quái vật bằng cách sử dụng các mẫu tự để thể hiện tiếng hát của con “ác thú”. Edwin Morgan, vì là người Tô Cách Lan, nên tiếng hát của chàng/nàng ca sĩ ở Hồ Loch Ness có thể đậm đặc giọng “miền Trung”. Ngoai ra, để “diễn tả” giọng nói của người Hoa “líu líu lo lo” chúng hay dùng động từ/tính từ “xí xô xí xào” như… đào Hồng Kông. Có một thanh niên đã diễn tả (hát) ca từ của Edwin Morgan. Mời độc giả Thu vào YouTube gõ tên bài hát nó sẽ cho ngay.

    2. Memorabilia

    Tôi chỉ trích dẫn một đoạn ngắn của một bài thơ dài 93 trang (nguồn: e.e. cummings, selected poems 1923-1958, faber and faber, London, 1960) và xếp nó chung với loại thơ cụ thể tạo hình. E.E. Cummings là một nhà thơ muốn tìm tòi cái mới cái lạ, gần như bỏ hẳn các chữ hoa kể cả khi viết tên mình, sáng tạo nhiều tân ngữ không có trong từ vựng, trong ngôn ngữ, như Joyce và vài/nhiều nhà văn nhà thơ khác từng làm trước đấy hay về sau. Tất nhiên những cái mới mẻ quá mức sẽ khiến người đọc quen lê bước trên “đường xưa lối cũ” cảm thấy bị lạc hướng. Kẻ yếu bóng vía thì tưởng đã gặp ma nên vắt giò lên cổ mà chạy trối chết. Như tôi có nói, phải sống trong một thành phố khá lâu thì mới thấy được “cái hồn” của nó. Phải năng lui tới với một nhà thơ thì may ra sẽ nhìn thấy cái hay cái đẹp của loài “Hoa Ác” (Baudelaire). Thơ E.E. Cummings cũng thuộc loài “dị thảo”. Thơ E.E. Cummings khó đọc, khó hiểu nên không có nhiều độc giả. William Carlos Williams trong tác phẩm “Paterson” đã tưởng tượng ra một cuộc phỏng vấn. Xin trích dẫn ra đây cho độc giả mua vui:

    (H = Hỏi ― Đ = Đáp)

    H: Thưa ông Williams, ông có thể vắn tắt định nghĩa cho chúng tôi biết rõ thế nào là thơ theo ý ông?

    Đ: Xem nào . . . Tôi sẽ nói thơ là ngôn ngữ của xúc cảm. Thơ là sự kết hợp của những từ sắp xếp theo biến chuyển của nhịp tiết . . . Bài thơ là một vũ trụ nhỏ. Nó hiện sinh độc lập. Mọi bài thơ nếu có tí giá trị thì phải diễn tả trọn cuộc đời của nhà thơ, cho thấy khái quát con người của nhà thơ.

    H: Tốt lắm. Sau đây là trích đoạn từ một bài thơ của E. E. Cummings, một nhà thơ lớn khác của nước Mỹ:

    (im)c-at(mo)
    b,i,l :e

    FalleA
    ps !fl
    OattumblI

    sh ?dr
    IftwhirlF
    (UI) (IY)
    &&& *

    Văn bản này ông có nghĩ là thơ hay không?

    Đ: Riêng cá nhân tôi, nếu là thơ thì tôi sẽ vứt nó đi. Với tác giả thì nó có thể là một bài thơ. Nhưng với tôi thì không. Tôi không hiểu nổi. Mặc dù ông ấy là một người nghiêm túc. Tôi vật vã với nó – nhưng không tìm ra ý nghĩa nào cả.

    (hết trích, nguồn: “Paterson”, William Carlos Williams, tr.224, Penguin Book, London, 1963)

    Độc giả Thu có thể tự hào vì mình cũng không “hiểu nổi” thơ E.E. Cummings hệt như nhà thơ William Carlos Williams. Tuy nhiên, thiển nghĩ của tôi là quan niệm “người nào thơ nấy” hơi bị… xưa rồi chăng? Proust, Rimbaud quan niệm rằng “tôi là một kẻ khác” khi sáng tạo. Ngoài ra, nhà thơ không phải là một người hầu bàn sẽ mang đến tận tay người đọc những bài thơ “tự hay” như một “món ngon”. Người đọc phải bước vào cái thế giới riêng biệt của thi nhân (của một nhà thơ đúng nghĩa). Nếu không thì vẫn có thể “quăng cuốn thơ ra cửa sổ” (Thanh Tâm Tuyền, trích dẫn không chính xác).

    Trân trọng cám ơn.

  • Thu viết:

    Trân trọng cám ơn nhà thơ Nguyễn Đăng Thường về những giải thích tường tận và cặn kẽ.
    Những thắc mắc của cháu là thành thật chớ không có khiêu khích đùa bỡn gì cả. Trình độ về thơ của cháu chắc khoảng lớp đồng ấu trường làng, còn tuổi đời thì thuộc hàng con hàng cháu của bác thôi.
    Xin bác cho cháu hỏi thêm câu này nữa.
    Bài thơ của Hemingway chỉ gồm dấu phẩy, dấu hai chấm, dấu ngoặc kép, chấm than. Bài Quê Hương Mác Đô thì có chữ S và dấu $. Mặc dù cả hai bài đều mang ý nghĩa sâu sắc nhưng không đọc thành lời được, nghĩa là không phát âm được. Như vậy người thưởng thức hai nghệ phẩm này chỉ có thể ngắm không thôi, giống như là ngắm tranh. Ta có thể gọi đó là THƠ không hay gọi là TRANH ? (vì một bài thơ, theo cháu nghĩ ít nhất cũng có thể đọc lên thành tiếng.)

    Cám ơn bác Nguyễn Đăng Thường rất nhiều.
    Thu

  • Trương Đức viết:

    Đọc bài “lại nghĩ về thơ” này của nhà thơ Nguyễn Đăng Thường xong, tôi tâm đắc nhất câu này: “Nói tóm lại, một bài thơ kiểu đó để làm gì trong những ngày tháng tất bật hôm nay? Thơ, hay là cứt… thi sĩ? Để làm gì? Để làm gì? Một bài thơ Lý Bạch, Thôi Hiệu có thể “tự hay” để thi hữu có thể tiếp cận “liền tù tì”, vì nó nằm trong một hệ mỹ học quen thuộc, duy nhứt, bất di bất dịch. Thơ văn xuôi của Rimbaud phải chờ các nhà phê bình diễn dịch thêm, thì độc giả mới hiểu… nổi.“.

    Trên trang Tiền Vệ tôi có đọc được một bài đối thoại “nghĩ về thơ” của Nhã Thuyên, có lẽ, theo tôi, rất “ăn nhập” vào “dòng suy nghĩ” của bài viết này. Tôi xin trích lại ra đây: “Bài thơ vừa ráo bàn phím sẽ luôn là bài thơ hay nhất, với tôi, vì nó nằm giữa một quá khứ đang trôi tuột đi vào hư rỗng và cái khoảnh khắc hiện tại ngắn ngủi mà người viết còn đang cảm thấy. Ngoài giây phút ấy là sự chết.“(Nhã Thuyên).

    Tức là, một “bài thơ hay” là một thứ “ánh chớp” về Cái đẹp (của tư tưởng) mà thi nhân đã nhanh tay “chớp” lại cho… chỉ chính bản thân thi sĩ, chứ không cho ai khác! Mà đã là “ánh chớp”, thì “bài thơ hay” là nó “hay trong tức khắc”, “hay trong lần đầu tiên”, nó khó có thể “diễn dịch”, nếu tôi không muốn nói là “nó không thể diễn dịch”!

    Tôi thấy câu trả lời của nhà văn William Faulkner, rằng “Xin bà hãy đọc thêm một lần nữa“, rất hay và thâm thúy! Bởi vì ông “biết tỏng” nữ độc giả kia đã không hiểu “ngay trong lần đầu tiên”, nên có đọc lại nghìn lần cũng không thể hiểu nổi, và ông cũng chẳng mất công “diễn dịch” mà làm gì.

    Tôi cũng hay “nghĩ về thơ” qua việc đọc thơ của các nhà thơ mình yêu thích. Bởi vì, như nhà thơ Nguyễn Đăng Thường cũng đã nói ở cuối bình luận mới nhất của ông: “Ngoài ra, nhà thơ không phải là một người hầu bàn sẽ mang đến tận tay người đọc những bài thơ “tự hay” như một “món ngon”. Người đọc phải bước vào cái thế giới riêng biệt của thi nhân (của một nhà thơ đúng nghĩa). Nếu không thì vẫn có thể “quăng cuốn thơ ra cửa sổ” (Thanh Tâm Tuyền, trích dẫn không chính xác).”, tôi cũng “nghĩ về thơ” như một “bức tranh đẹp”, nếu ta không “bước vào cái thế giới riêng biệt của họa sĩ”, sẽ không “chớp” được cái Hay, cái Đẹp của bức tranh. Người họa sĩ đã “tốn công” vẽ ra một bức tranh đẹp, chẳng lẽ bên dưới anh ta lại phải “ghi chú” là mình đã vẽ cái gì, vẽ bằng màu gì? Thơ cũng vậy, “ráo bàn phím” xong là… xong! Chấm hết!

    Dĩ nhiên ở đây tôi không có ý ám chỉ gì đến cái việc “hỏi” của độc giả Thu cả. Tôi chỉ muốn nêu lên vài lời “lại nghĩ về thơ” của tôi mà thôi. Nếu có điều gì “ấm ớ” trong bình luận này của tôi, tôi xin “đi chỗ khác chơi” vậy!

  • Nguyễn Đăng Thường viết:

    @ Trương Đức

    Tôi cũng có nói khá lâu rồi (thời còn Tạp chí Thơ): “Với tôi thơ làm xong là xác chết, thơ đăng báo là xác ướp”. 🙂
    Cám ơn anh.

    @ Ngọc Thu

    Vì chưa biết rõ tuổi đời, giới tính của “Thu” nên có thể đã có hiểu lầm nhau.

    Xin trả lời câu hỏi mới:

    Nhà văn, nhà thơ tân tiến đã xóa bỏ lằn ranh bất di bất dịch giữa các thể loại. Lon “cứt nghệ sĩ” (Merda d’artista no.20, 1961) của Piero Manzoni là nghệ thuật, là điêu khắc, hay đồ hộp? Muốn gọi, muốn hiểu thế nào cũng được. Gọi bài thơ cụ thể là thơ, tranh, hay văn bản (text) cũng được, như trong bài phỏng vấn tưởng tượng của William Carlos Williams. Điều quan trọng không phải là “phải gọi như thế nào”, mà là “đọc”, “xem”, “thưởng thức”, hay “bĩu môi bịt mũi”, hay “cười hô hố” la to “ngộ quá tụi bây ơi lại đây coi nè”.

    Nguyễn Du gọi Thúy Kiều là “ngọc, hoa, đóa trà mi, tòa thiên nhiên”… Hoa không biết nói, người chẳng là hoa. Nhưng nếu có ai đó gọi Ngọc Thu là một “bông hoa biết nói” chắc Thu cũng không hờn trách?

    Nghệ sĩ tân thời muốn đặt một cái nhìn mới lên đồ vật. Tại sao một cái bồn tiểu không thể là một cái bể nước (Fountain 1917, Marcel Duchamp). Những viên gạch xếp ngay hàng thẳng lối (144 Magnesium Square 1969, Carl Andre) tại sao không thể là một tác phẩm điêu khắc? Chàng văn nhân đi Chùa Hương với cô/con bé nhí nhảnh “tươi như trăng… tròn” khi “trông thấy bức tường ngang” đã chẳng “thảo một bài thơ liên hoàn” hay sao? Chỉ tiếc vì… “bài thơ này em nhớ / nên chả chép vào đây”… khiến người đời sau không được biết nội dung của bài thơ “chữ đẹp như rồng bay”. Nếu là giám khảo một “festival thơ trẻ” tôi sẽ bảo các thi nhân “con nít” hãy tưởng tượng viết/chép lại bài thơ ấy xem chơi.

    Hãy thử diễn dịch bài Blank Verse của Hemingway. Có thể Hemingway muốn cho thấy rằng các dấu câu không chỉ là phụ tùng của chữ mà cũng quan trọng, cũng đẹp không thua chữ nghĩa?

    Buồn cười. Một bài thơ chỉ sử dụng các dấu của câu thì bị chê không phải là thơ. Một bài thơ không có dấu chấm, phẩy, chữ hoa, cũng bị chê không phải là thơ. Làm thơ sao cho vừa lòng độc giả?

    Nếu với người này dòng sông có thể bắt đầu từ nguồn và chấm dứt ở cửa sông, thì đối với kẻ kia nó cũng có thể bắt đầu từ bến này (bến chàng) và chấm dứt tại bến kia (bến nàng)?

    Bài thơ văn xuôi có thể là một dòng độc thoại nội tâm hay một dòng chảy ý thức. Nếu thế, thì với người này nó có thể khởi sự từ đầu nguồn (chữ hoa ở đầu câu) và chấm dứt nơi cuối nguồn (chấm hết). Nhưng với kẻ khác nó cũng có thể ở lưng chừng (không chữ hoa) và bỏ lửng (không dấu chấm hết) chớ?

    Thay vì tìm trong bài thơ, thi nhân thế kỷ 20 tìm “hồn thơ” trong một cục xà bông (Le savon, Francis Ponge) hay trong một con tem đỏ (A Red Stamp, Gertrude Stein).

    Cám ơn Ngọc Thu đã dặt ra những câu hỏi thú vị làm sáng tỏ thêm các vấn đề 🙂

    Chào thân ái tất cả quý bạn.

  • thường mộng viết:

    Thu,

    Bài “thơ” “Bài Quê Hương Mác Đô” thì có chữ S và dấu $ là đúng rồi; cả nước đói, cái hình cong chữ “s” không phải ba miền dân tình đang khốn khó đó sao-chữ “s” đi với dấu “$” là tuyệt. Thu cũng đừng nghĩ nó là bài “thơ” làm gì. Nếu Thu đọc một bài thơ, nhưng không cảm được một câu-nó chỉ có thể là một bài thơ của người khác-Thu cũng đừng vì những cái chấm câu, những dấu phảy, tạo cho mình một dấu hỏi. Thơ khác với văn, ngoài thi pháp còn nhạc tính trong thơ. Rất nhiều những bạn trẻ thấy mình nhấn “translate” một bài thơ ngoại, liền có một bài “thơ” Việt cạnh bên; họ đâu biết rằng, họ chỉ “translate” được phần xác của nó. Đọc thơ, đôi khi chúng ta cần bỏ qua phần lý trí cứng, vô cảm, hãy để cho tâm hồn rung động thẳng vào thơ…và rồi Thu sẽ ung dung vào vườn thơ thưởng ngoạn-chân chính thi gia không cần mão miện, và cũng vậy, thơ thường không từ không gian ảo đi ra…

  • Nguyễn Đăng Thường viết:

    Xin mượn lời và cám ơn nhà phê bình HOÀNG NGỌC-TUẤN, để giải thích thêm về Thơ hình ảnh (visual poetry) hay Thơ cụ thể (concrete poetry).

    HOÀNG NGỌC-TUẤN viết:

    Loại “thơ hình ảnh” (visual poetry) hay “thơ cụ thể” (concrete poetry) đã có từ cuối thế kỷ 19, và đã trở thành một hình thức thơ rất phổ biến trong văn học thế giới. Từ đầu thế kỷ 20, rất nhiều nhà thơ lớn của thế giới (kể cả Apollinaire), đã sáng tác thơ hình ảnh và thơ cụ thể. Sau này các nhà thơ đoạt giải Nobel như Octavio Paz, Pablo Neruda, vân vân… cũng đã làm rất nhiều thơ hình ảnh và thơ cụ thể.

    Trên Tiền Vệ, nhà thơ Lê Văn Tài đã làm rất nhiều bài thơ hình ảnh và thơ cụ thể. Thơ của ông đã được chọn vào nhiều anthologies của văn học đương đại của Úc và được trường đại học Victoria xuất bản và đem vào giáo trình môn tác văn (creative writing).

    Nhờ không có ngôn ngữ, thơ cụ thể và thơ hình ảnh vượt qua mọi bức tường ngôn ngữ, và có thể đến với độc giả của mọi dân tộc ở mọi nơi trên trái đất.

    Quan niệm rằng “một bài thơ, ít nhất là có thể đọc lên được, nghĩa là có thể phát âm được mới gọi là thơ” là một quan niệm rất cũ. Hôm nay, trong chương trình giảng dạy văn học của các nước Âu châu, Mỹ châu, và nhiều nước Á châu, Phi châu, người ta không còn định nghĩa thơ như thế nữa.

    Các writers đương đại (như Jorge Luis Borges chẳng hạn) đã vượt qua mọi khái niệm về thể loại. Tác phẩm của họ không hề được xếp loại là thơ hay truyên hay gì cả. Tác phẩm của họ xoá nhoà mọi thể loại.

    Nói tóm lại, nhiệm vụ của nghệ sĩ sáng tạo là không ngừng mở rộng những định nghĩa cũ, phá vỡ những định nghĩa cũ, và xây dựng nên những định nghĩa mới bằng chính tác phẩm của mình.

  • Thường Quán viết:

    Một quan điểm của Borges, xin mời đọc:

    “Thơ hay thứ thiệt phải được đọc vang lên. Một bài thơ hay không cho phép cái đọc giọng thầm hay đọc trong im lặng. Nếu chúng ta có thể đọc bài thơ trong im lặng, nó chưa phải là bài thơ chính đáng : một bài thơ đòi hỏi sự phát âm. Thơ luôn luôn ghi nhớ nó là một nghệ thuật của âm thanh, của cửa miệng, trước khi là một nghệ thuật được viết xuống. Thơ ghi nhớ nó từng là một bài ca đầu tiên.”

  • Nguyễn Đăng Thường viết:

    Thi nhân luôn luôn có những ý kiến tương phản nhau (hay đôi khi tương tợ nhau về thơ). Cá nhân tôi cũng đã có vài ý kiến tương tợ với nhà thơ Henri Michaux. Nhân đọc cuốn “La poésie, c’est autre chose ” (Thơ là một cái gì khác), một cuốn sưu tập gồm một ngàn lẻ một (1001) định nghĩa về thơ, tôi xin chép ra đây để… “rộng đường dư luận”.

    “Thơ là một nỗi cô đơn và chúng ta là những tu sĩ đang trao đổi những im lặng (Jean Cocteau, “Thư”).

    “Thơ là một tôn giáo không có hy vọng, nhà thơ miệt mài đến kiệt sức với thơ trong sự hiểu biết rằng một kiệt tác, cuối cùng, chỉ là một trò chó thông thái trên mặt đất chông chênh. (Jean Cocteau, “Nhật ký của một người lạ”).

    “Tôi không biết làm thơ, không xem mình là một nhà thơ, không thấy thơ trong các bài thơ tôi đọc và tôi không phải là kẻ đầu tiên nói như vậy”. (Henri Michaux, do R. Bertel trích dẫn trong “Một cái nhìn tổng quát về các nhà thơ trẻ của Pháp”).

    “Nhà thơ không phải là một con người toàn hảo, tùy nghi chuẩn bị các món ăn tuyệt vời cho nhân loại. Nhà thơ không phải là kẻ suy gẫm về cái món ngon đó, theo sát để nghiêm chỉnh thi hành, rồi mang nó ra cho người tiêu dùng vì lợi ích lớn của tất cả” (Henri Michaux, “Tương lai của thơ ca – Phê bình, vinh danh, thuyết trình”).

    Thiển nghĩ của tôi là nếu “thơ là sự trao đổi giữa hai im lặng” (nhà thơ và độc giả) thì bài “Thơ Trắng/Thơ Trống” của Hemingway là để cho độc giả tự điền vào các “khoảng trắng/khoảng trống” giữa các dấu của câu bằng “im lặng”, hay “âm thanh”, hay “suy tưởng” của chính mình.

    Nếu phát biểu theo triết lý thiền Thiền thì khi “đọc” hay khi “xem” (ngắm nhìn) bài thơ ấy, độc giả hãy lắng nghe “tiếng vỗ của một bàn tay”.

  • chân phương viết:

    Chào Nguyễn Đăng Thường, Thường Quán, và các bạn yêu thơ,

    Nói về thơ, cũng như về tình yêu, nghệ thuật, tôn giáo cùng các đề tài lớn lao khác là LẤY THÚNG ÚP VOI. Nhân dịp cuối tuần, tôi xin góp vui với bạn đọc Da Màu bằng cách múa may cái Thúng rách của mình trước con Khổng Tượng Thi Ca! (Gọi là Khổng Tượng chứ không là Voi vì cái lý do dễ hiểu: sau cả vạn năm phát triển từ thời bập bẹ truyền khẩu trong các bộ lạc chưa có văn tự cho đến năm 2011 tháng November này, thơ ca đã trở thành một sinh vật ngoại hạng mà đối diện nó nhà tư tưởng nào – dù là LE PENSEUR của Rodin – cũng phải cúi đầu chào thua!)

    Relax,ladies and gentlemen, relax! Chúng ta nên ung dung từ tốn như du khách lạc đến hành tinh lạ, vừa đi dạo vừa mở rộng tối đa mọi giác quan và tim óc để thưởng ngoạn hoặc trầm tư trước những hình dạng kỳ diệu, có khi độc nhất vô nhị trên cõi đời này.

    Xưa nay các thi nhân đã đàm đạo với chúng ta về thơ bằng chính các bài thơ của họ, các thi phẩm này – so với những cảm nghĩ và suy tưởng họ thường lưu lại trong nhật ký, sổ tay – có giá trị tiên quyết cho những ai thực sự yêu quý và muốn hiểu sâu về thi ca.Mặc dù đọc thêm những gì các nhà thơ diễn giải về thơ không phải là chuyện vô bổ (N.B.1:cần nhớ rằng các nhà thơ tự mâu thuẫn trong những phát biểu ngoài sáng tác là điều rất phổ biến), thiết nghĩ đọc thẳng Homer, Khuất Nguyên, Lý Bạch, Vương Duy, Dante, Shakespeare, Hugo, Nguyễn Du, Baudelaire, Rimbaud, Whitman, Pasternak, vân vân…sẽ dẫn dắt chúng ta trên lối Hoàng Đạo vào đến chốn thâm kín nhất của Ngôi Đền Ngôn Từ là THƠ. Cũng như muốn hiểu tiểu thuyết thì phải đọc La Quán Trung, Thackeray, Balzac, Dostoievski, Melville,…chứ không nên dựa vào các cuốn lý luận đa ngôn về tự sự học hoặc thi pháp học (N.B.2:cần nhớ rằng sách lý luận văn học phần lớn là cần câu cơm của các nhà hàn lâm cũng như các Ph. D. văn học tương lai mà giới này đại đa số hoàn toàn không có khả năng sáng tác!)

    Một nhận xét khác để gợi ý: khi trích dẫn các ý kiến về một đề tài nào, người trích dẫn có xu hướng chú trọng đến những câu,những đoạn hợp gu với mình. Thường Quán nhắc đến ý kiến Borges vì bạn quan tâm đến thanh điệu, nhạc tính của thơ.(Robert Frost cũng nói tương tự: “The ear is the only true writer and the only true reader.”) Nguyễn Đăng Thường thích Cocteau với Michaux vì tính khí “vô chính phủ” ưa khôi hài đen của mình. Những người trung dung hơn như Pierre Seghers, từng chủ trương nhà xuất bản thơ
    quan trọng hàng đầu ở Pháp, nhẫn nại đi sưu tầm vô số ý tưởng cổ kim về thơ gộp hết vào một cuốn ART POÉTIQUE đồ sộ hơn 700 trang; như Gérard Pfister thì sao lục, thư từ để cóp nhặt ý kiến của khoảng ba trăm nhà thơ xưa nay làm nên vựng tập “La Poésie, c’est autre chose” mà Nguyễn Đăng Thường đã đọc và trích vài đoạn bên trên. Nếu người Việt nào đâu đó tình cờ gặp được Pfister nên mời ông này đến một tiệm phở để cảm ơn nhà biên soạn đã biết đến và trích dẫn Hàn Mặc Tử trong cuốn sách quý vừa kể

    Về phần mình, nếu có dịp uống expresso với Gérard ở Quartier Latin, tôi sẽ đề nghị ông cho thêm vài suy tưởng của Trần Dần để bổ túc cho 1001 định nghĩa (dù phong phú nhưng còn bất cập) về thi ca thế giới do ông biên tập, (Nxb Arfuyen, Paris,2008).

    Chẳng hạn,”Thơ là cái thăm thẳm”; “Có một vùng thơ tên gọi không lời”; “Tôi vẫn chốt ở đền Bayon chữ. Thơ với tôi như tôn giáo, không nhà thờ, không giáo chủ, chẳng tăng sư.”

    Phụ chú cuối cùng cho phần tham luận ngắn của tôi hôm nay về chuyện THÚNG RÁCH ÚP KHỔNG TƯỢNG, vừa là quà tặng riêng cho các bạn đọc có óc hiếu kỳ trên trung bình về thơ ca nhưng chỉ đọc được Anh ngữ: Các ý kiến về thi ca và thi sĩ cũng được sưu tập khá nhiều trong các vựng tập Anh-Mỹ như The OXFORD Dictionary of Literary Quotations; The International Dictionary of Thoughts (nxb Doubleday); The Macmillan Dictionary of Quotations…Nếu chưa điên chữ, và thật sự muốn úp cho được khổng tượng, giải pháp nhanh nhất là google chơi một chữ POETRY rồi tra cứu cho đến chết 1,190,000,000 tiểu mục về THƠ. (Đừng chờ đến năm sau, vì con số này có thể tăng rất nhanh cũng như loài người chúng ta hôm nay đã vượt con số 7 tỉ sinh linh trên quả đất buồn cười này!)

    Ladies and gentlemen, enjoy your weekend!
    Chân Phương

Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006*2018 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)