Trang chính » Chuyên Đề, Sáng Tác, Thơ & Thời Đại, Trích đoạn tiểu thuyết Email bài này

Sử thi Ba Bựa / Tam Tài xứ Xích Đạo Thổ

0 bình luận ♦ 15.10.2011

(trích tiểu thuyết Những kênh bão người)

 

 

dangthan

 

 

1

Xứ sở ấy nằm ở một bán đảo có dáng hình dặt dẹo cách đường Xích đạo một quãng ngắn nên nhiều người dân ở đây còn gọi nước mình là Xích Đạo Thổ. Xích Đạo Thổ là đất nước của thơ ca, đặc biệt, ở nơi đây có nhiều sử thi (xin đừng hiểu là những xác chết lịch sử). Và bản sử thi Ba Bựa (cách nói kiểu dung tục phổ cập ở đây để chỉ “tam tài [thiên - địa - nhân/ trời - đất - vạn vật/ tự do - bình đẳng - bác ái/ …]”, như vậy khi cần trích dẫn cho đúng phép hàn lâm xin quý vị hãy gọi là sử thi Tam Tài) chỉ là một trong số những vô vàn. Xin trích nguyên văn ra đây những đoạn sáng như “sáng thế ký”:

Thu y, khi cao dầy[#] còn hn mang, bng mưa dm mưa dãi nước ngp bề bề, 55 ngày sau mi rút hết.

T nhiên mc lên mt cây xanh có 99 cành, có mt cành cao chc tri, biến thành hai vị thần là Ông Tha Đi và Bà Tha Lại.

Hai Thn truyn lnh làm ra Đất, Tri và Vn Vt. Sau đó, nng chan chan sut 12 năm lin, mt đất bà xòa.

Thn Lng Lêu bắc mặt lên trời ao ước mt trn mưa cả. Tc thì mưa chan gió cả sut 9-10 ngày đêm; ht mưa to bng qu bưởi, nước li ngp bề bề.

By tháng sau nước rút cn, có mt cây si khng l mc lên tua ta 1919 cành.

Tri sai con Sâu Cọng khoét rung rut cây si.

Cây đổ, mi cành hoá ra mt bn mường: 1 cành đổ về đất Sạp nên mường Sạp; 1 cành nên mường Giụp; 1 cành nên mường Bi, mường Lỗ…; cành nhỏ nhoi thì làm ra các chạ.

Có mt cành si li hoá ra M Dập Dần; m đẻ ra hai cái trng kì d, n ra cun Bướm Đăm và cun Bướm Chiêu.

Va mi n, cun Bướm Đăm đã ăn hết 9 chõ cơm; cun Bướm Chiêu ăn hết 7 chõ xôi:

Cun Bướm Đăm và cun Bướm Chiêu

Lớn cao hơn đụn chín, đụn mười.

Tiếng cười như tiếng trng cái

Tiếng nói như tiếng sm vang

Xương vai dài tám chục lóng

Xương sng dài by chục gang…

Vua tri cho 8 nàng tiên xung trn du ngon.

Hai cun cưõi nga bc, vác ná đi săn ln rng, gp các nàng tiên lưng ong, tóc mượt.

Hai nàng tiên quên đường v tri, thế là h nên cầm sắt, dẫu là cẩu hợp.

Sau 12 năm 9 tháng, hai nàng tiên sinh được mt by con mà trng chim tồng, mái chim tộc là con út con yêu.

Đôi chim trng mái sau 9 ngày, 9 đêm, 9 tháng đẻ ra 9999 chiếc trng n ra Thn Chp, Thn Mây, n ra chut, ln, voi, thú d

Đôi chim đẻ ra la th hai được mt trng đen đen 6 khúc – trng bu dc 6 khuôn – mt vuông mt tròn 9 cnh – rành rành 12 quai…

M Dập Dần sai chim chin chin p, trng n ra ghe con, mi đứa nói mt th tiếng: tiếng Lào, tiếng Thái, tiếng Kinh, tiếng Mn, tiếng Mường, tiếng Mán, tiếng Mèo, tiếng Chó, tiếng Ong, tiếng Ve, tiếng Hùm, tiếng Sói… Trng cũng n ra anh tam nhà Lang…

Loài người có t bấy chầy; nhưng bao ngờ cao dầy bàn hoàn thế nào mà cun Bướm Đăm ăn thịt cun Bướm Chiêu, từ đó người ta thường nói “chân đăm đá chân chiêu” là chốc.

___________

[#] Các từ in đứng trong các trích đoạn của bộ sử thi này là theo đúng trong nguyên bản, tuy rất khó dịch nhưng chắc rằng người đọc đều suy ra được nên tôi xin được để nguyên (TG).

Vậy là theo sử thi này có thủy tổ loài người tên là Dập Dần. Sự tích này đã được khẳng định vô cùng đúng đắn trong khái niệm của Âm Dương gia: Trời mở hội Tí, Đất mở hội Sửu, Người sinh hội Dần. Và thế là những con người đầu tiên đều mang họ Bướm. Lại chân lý nữa. Các đấng Bướm quả thật tướng mạo phi phàm, lại còn đớp rất khỏe. Bây giờ vẫn vậy, có khi còn hơn… Và loài Người phải chăng xuất thân loài Lang?

Sử thi Ba Bựa còn ghi nguyên văn:

Có một sinh vật kiêu căng chí thiết buông lung càn rông tên là Vu Tru Ca Sô.

Chốc ấy trái đất còn bị bao phủ bởi hỗn mang mù mịt, ác vàng thỏ bạc còn chưa tỏa sáng.

Thế mà Vu Tru Ca Sô cứ huênh hoang:

Cả và mọi người trên đời đều chết đuối vì đại hồng thủy hết rồi, bui vài người siêu phàm còn sống sót thôi.

“Nhưng ta đây còn vĩ đại hơn tất cả những bậc siêu phàm ấy, chẳng ai ben đặng.

“Ta là ác vàng của họ, ta là băng luân của họ, ta mang lại cho họ ánh bình minh.

“Nhất định chốc.

Bui ta vô cùng huy hoàng vĩ đại.

Bui ta là đấng làm cho mọi sinh vật có thể cử động.

Bui mắt ta là ánh sáng của hồng ngọc.

“Hai hàm răng ta trắng và chói chang đến gương mặt của ác vàng cũng chẳng ben tầy.

“Ta bước đến đâu trái đất trở thành sống động bàn mê ở đấy.

“Vì vậy cho nên ta đúng là ác vàng, ta quả là thỏ bạc, ta chính là đạo đức, là văn minh, bởi tầm nhìn của ta thấy xa bề bề.”

Trên thực tế Vu Tru Ca Sô chẳng phải ác vàng, chẳng phải thỏ bạc, chẳng phải văn minh, bởi tầm nhìn của hắn chỉn thấy nơi mắt hắn ngó tới.

Khi ấy có một vị Bướm họ Bạch cai quản xứ Cao Ba Nha có hai người con trai.

Một người tên là Băm Thát, người kia gọi là Bẩm Mo, họ sinh ra mà chẳng biết mặt cha.

Hai chàng là những bậc trí lự cả; họ thường bớn tớn băng xăng cùng nhau ca hát, cầu nguyện, viết chữ, khắc ngọc quý, đẽo đá rắn hay chơi quần cầu.

Lại nói áng của hai chàng là một bậc Bướm có tên là Bạch Tinh.

Trong một lần chơi quần cầu cùng các vị thần từ núi Đôi đến chơi, do họ chào rào quá cho nên ở phía bên kia trái đất vua Dương Tí cai quản Âm Ti lấy làm khó chịu châu chan.

Vua bực bội nói:

“Ai làm náo động trên mặt đất thế nhỉ?

“Các vị ấy quả thật chẳng còn coi ta ra cái thá gì.

“Các vị ở trên mặt đất lúc nào cũng bui mỗi việc đánh nhau ầm ĩ trên đầu chúng ta.”

Nói rồi vua Dương Tí tập hợp lâu la luận bàn, rồi quyết định cho một đàn quạ đen lên gặp Bạch Tinh và các bạn thần núi Đôi đưa thư thách đấu quần cầu ở dưới Âm Ti với vua Dương Tí và các lâu la.

Bạch Tinh và các bạn thần nhận lời thách.

Họ vào giã biệt thân mẫu Bạch Tinh rồi bơ bải lên đường xuống Âm Ti.

Đường đổ dốc như đi xuống vực.

Rồi họ đi vào những vực sâu.

Nước chẩy trong vực toàn là máu.

Họ chẳng có nước uống đành nhịn khát mà đi, bôn chôn đi mãi.

Cho đến lúc hiện ra trước mắt bốn nẻo đường giao nhau thành hình chữ thập, có bốn mầu khác nhau.

Nẻo đường mầu đen cất tiếng nói dẫn lối cho các vị đến Âm Ti.

Đến Âm Ti họ được chứng kiến lòng hiếu khách chan chan của vua Dương Tí với bàn soạn bề bề.

Rượu ngọt châm chẩy tràn như suối; đàn hát, nhẩy múa suốt đêm.

Cả Âm Ti vui vẻ, cười nói không dứt.

Bọn người Âm Ti cười bề đến nỗi xương trong người chúng chạm vào nhau loảng xoảng.

Sau đó bọn họ đưa Bạch Tinh và các bạn thần đi nghỉ trong những căn phòng mát rượi. Bọn hầu đưa cho họ mấy bó đuốc nhựa thông và mấy gói thuốc lá:

“Xin mời các vị cẵng hút thuốc lá đi, và cẵng dùng đuốc để soi sáng căn phòng của mình.”

Họ đã có một đêm thật sảng khoái trong những giấc mộng đê mê.

Đến sáng, bọn người của vua Dương Tí hỏi:

“Đuốc và thuốc lá của chúng ta hôm qua đâu?”

“Các vị bảo chúng tôi cẵng đốt đuốc và hút thuốc lá cơ mà!”

“Đúng là chúng ta có bảo vậy.

“Nhưng chúng ta có cho hẳn những thứ ấy đâu. Cẵng trả lại ngay!”

“Làm sao trả lại được?

“Những thứ ấy đã cháy hết cả rồi.”

Vậy là Bạch Tinh và các vị thần núi Đôi đã bái xái, chỉ vì bị lừa theo cách thật bỉ ổi hèn hạ.

Họ bị kết tội chết và bị hành quyết ngay..

Thi thể của họ được chôn ở một nơi gọi là Hậu Cốc.

Những cái đầu của họ bị treo lên một cây cổ thụ.

Cây cổ thụ bỗng dưng ra rất nhiều quả, nên không phân biệt được đâu là trái cây, đâu là đầu các vị thần.

Bọn người Âm Ti không cho ai được lai vãng gần cây cổ thụ.

Thế nhưng, có một người con gái tò mò đã nghe được câu chuyện.

Người con gái này ra đời từ tận xứ Căm Quích, tên nàng là Quích Tích.

Một hôm Quích Tích lẻn ra đi chếch mác.

Đi qua vạn dặm đường thì mới đến được Hậu Cốc.

Cây cổ thụ thò cành xuống cho nàng những quả mầu nâu, rắn như xương và tròn như sọ.

Từ giữa cành lá một giọng nói vang lên:

“Những quả này chỉn những đầu người chết mà thôi, em có muốn hái một quả không?”

“Dạ, em có muốn.”

“Vậy cẵng ngửa ra!”

Nàng ngửa ngửa lòng…

Một cái đầu gắng sức nhổ một bãi như đờm dãi vào giữa háng nàng.

Quích Tích kinh ngạc chăm chú nhìn cục đờm trôi tuồn tuột vào cửa mình đem lại cho nàng cảm giác sướng khoái cao độ chưa từng có trên thế gian này, nàng mừng ầm.

“Ta là Bạch Tinh.

“Với bãi đờm này, ta truyền cho em hậu duệ của ta…”

Như vẫn chưa tỉnh, nàng nhìn cái đầu trên cây với đôi mắt lúc mở to ngơ ngác khi khẽ khép mơ màng bằn bặt, hai chân nàng mở rộng hết cỡ.

Như thầm biết ý, cái đầu lại nhổ vào háng nàng một bãi nữa, rồi nói:

“Từ giây phút này đầu ta không còn nói được nữa.

“Ngay bây giờ nó chỉn là cái đầu người chết, chẳng có thịt chẳng có da.

“Sau này em sẽ sinh hai đứa con trai, em khá đặt tên là Bạch Quân và… Bạch Vệ, nhưng em… phải giấu kín danh tính… chúng là con… của ta, nếu không… chúng sẽ bị… bọn Âm Ti làm hại…

“Giờ thì… em cẵng… khép… chân… vào… rồi lên… mặt… đấ…”

Chỉn bối rối vô chừng Quích Tích quay về với cha.

Thế là, với hai bãi đờm dãi ấy nàng đã thụ thai.

Để tránh nỗi nhục con gái mang hoang thai áng nạ nàng đã đến đất Kỳ Lừa tìm cho nàng một chồng.

Để qua mắt chàng trai, Quích Tích đã sáng suốt nghĩ ra cách dùng nước vỏ lựu và tiết mào gà để dựng lên màn kịch trinh trắng của mình.

Cũng từ đó, không hiểu tại sao mà ở xứ Xích Đạo Thổ người ta nuôi gà và trồng lựu chí thiết bề bề.

Nghe người ta bảo nhau đấy là do mọi người nghe theo lời dậy của một quan tể tướng.

Thế nhưng, chàng trai đất Kỳ Lừa đã dần nhận ra những cái thai ấy không phải của chàng.

Uất đời chàng châu chan xin sung quân triều đình đi lính thú phương xa, không hẹn ngày trở về.

Nàng Quích Tích cũng nhớ chàng chan chan, sau khi sinh con nàng vẫn thường bế con lên đỉnh núi ngóng gọi chàng về.

Nhưng chàng đã đi xa mãi.

Chỗ nàng đứng không hiểu sao sau có một tảng đá mang hình người mà người đời vẫn gọi là Tô Thị.

Còn chính nàng Quích Tích, sau khi con lớn, đã bỏ vào hang núi đi tu.

Nơi nàng tu không hiểu do lúc nào cũng tỏa hương ngào ngạt hay là mùi tanh hôi gì mà người ta cứ gọi là Hương Tích, ý là nơi nàng Quích Tích tỏa hương.

Rồi thì được gọi là Biệt Tích; sau này lại được đổi tên thành Tam Thanh Bạch để ghi dấu ba kỳ nhân họ Bạch; lâu ngày người ta chỉ còn gọi là Tam Thanh.

Ấy là cung cách diệu huyền mà hai chàng Bạch Quân và Bạch Vệ được sinh ra.

Sau này, tất nhiên là để giấu tung tích, cái của các chàng đã gọi hai con mình là Băm Thát và Bẩm Mo.

Có lần quẩy hai đứa con nhỏ ra chợ, có nhà thuật số giang hồ đã nói vào tai Quích Tích một câu rằng: cô đang gánh trên vai hai thằng con giời…

Quích Tích nghe nói mà rùng mình vì sợ và vì không biết thực hư thế nào, về nhà lại càng giấu diếm hai đứa trẻ ở nơi thật là kín đáo.

Chốc hai chàng trai trưởng thành họ đã cảm thấy bị xúc phạm bởi những lời nói buông lung báng bổ thánh thần của tên Vu Tru Ca Sô lúc đó đang làm chúa tể thiên hạ, thoải mái làm mưa làm gió đàn áp tàn hại dân lành.

Hai chàng quyết định đánh gục tên nói dối. Băm Thát bảo Bẩm Mo:

“Hai anh tam ta cẵng bắn vào thức ăn của hắn những mũi tên tẩm thuốc độc, để cho bệnh tật bắt hắn phải thôi những lời nói xấc xược.”

Vu Tru Ca Sô chỉn có thói quen hàng ngày đến cướp thức ăn ở các gốc cây đa.

Hai anh tam vào nấp trong các bụi rậm để rình tên khổng lồ hung ác, táng tận lương tâm, mải mê hại dân, cướp đất.

Chẳng bao chầy hắn xuất hiện, trèo lên cây đa, giật thức ăn nhai ngấu nghiến.

Bỗng một hòn đạn bay tới đập vào má, hắn thét lên một tiếng kinh hoàng rồi tụt xuống khỏi cây đa.

Băm Thát là người đã giương nỏ bắn hòn đạn kia, bôn chôn chạy đến bắt giữ nó.

Nhưng nhanh như trộm tên Vu Tru Ca Sô đã túm được cánh tay chàng và bứt ra khỏi vai.

Dù bị vỡ má, gẫy răng, đau đớn vô cùng nhưng tên khổng lồ vẫn cầm cánh tay của Băm Thát về nhà phơi trên gác bếp:

“Ta thách chúng nó đến đây mà lấy lại cánh tay!”

Trong lúc đó bên kia cánh rừng Băm Thát và Bẩm Mo đang nghĩ cách để lấy lại cánh tay bị bẻ gẫy.

Trong khi bối rối bàn mê và đau đớn vô chừng, họ đem lời thưa với hai cụ già tóc trắng như tuyết gặp trên đường đi.

Cụ ông tự xưng là Con Chim Hôi Lớn, cụ bà là Con Lợn Rừng Hoi Lớn.

Bẩm Mo nghĩ ra một kế thưa ngay với hai cụ:

“Hai cụ cẵng vui lòng đến nhà Vu Tru Ca Sô và cho chúng con nấp sau lưng và bảo rằng đây là hai đứa cháu nội, chúng tôi luôn cho hai cháu theo cùng để thi thố tài năng của dòng họ trong việc bắt sâu đục chân răng, chữa bệnh mắt và bó lành chân tay gẫy.”

Mọi việc diễn ra y như dự kiến.

Vu Tru Ca Sô mừng ầm khi gặp họ, nhưng vẫn cảnh báo:

“Ông Con Chim Hôi Lớn ơi, cẵng nhớ ta là vua, tất cả uy phong của ta là ở hàm răng và đôi con ngươi đấy nhé.”

Không chần chừ mấy người xúm lại vặt sạch hàm răng của Vu Tru Ca Sô.

Nhưng thay vì trồng răng mới họ chỉ nhét mấy hạt ngô rõ to vào chỗ những chiếc răng bị nhổ.

Vậy là một nửa uy phong của hắn ta biến mất.

Trong lúc ấy cụ bà Con Lợn Rừng Hoi Lớn lo chữa mắt, và bà cũng bóc mất lớp vỏ con ngươi của hắn.

Vậy là uy phong của Vu Tru Ca Sô tan biến hoàn toàn.

Nhưng hắn cũng chẳng còn có khả năng cảm nhận điều ấy.

Bởi cùng với những chiếc răng, tất cả sự kiêu ngạo và vốn hiểu biết của hắn đã bị tước đoạt mất rồi; vậy là Vu Tru Ca Sô toi mạng.

Băm Thát thu lại cánh tay của mình treo trên gác bếp, gắn trở lại vai.

Thế rồi chỉ nhờ một nhúm thuốc tiên là giáo gươm lại yên lành như xưa.

Tiếp sau đó mọi việc diễn ra như lịch sử vẫn thường hằng diễn ra như thế. Tiêu diệt xong thế lực hung bạo nhất trời đất hai anh em nhà họ Bạch ngay lập tức ngủ quên trên chiến thắng…

Mọi sự cứ đổi thay xoành xoạch.

Xin kể tiếp chuyện sử thi Ba Bựa/ Tam Tài với nhiều “nghi án”.

Sử thi viết, nguyên văn:

Sau những cuộc chinh chiến giành lại được cơ ngơi một non song cẩm tú hòa bình đã được lập lại trên toàn cõi Xích Đạo Thổ; hai anh tam Băm Thát và Bẩm Mo bèn thay nhau lên làm vua.

Hai anh em nhà họ Bạch thân thiết với nhau như môi với răng nên nhường nhau mỗi người làm vua một tháng: trong khi người này cầm vương trượng thì người kia ăn chơi vui thú với săn bắn, nhẩy múa, hát hò, em ún, nhậu nhẹt, cờ bạc xả láng.

Trong tháng đầu tiên cầm quyền Băm Thát nghe lời các mưu sỹ con cháu nhà Bạch Hùng ở xứ Đại Ngỗng xa lắc xa lơ đã thông qua cái gọi là “đệ nhất ngũ niên kế hoạch”.

Chỉn hăm hở với việc hoạch định vương quốc, quyết tâm xây dựng cái xứ sở khỉ ho cò gáy này thành một đế chế vững mạnh, cầm mở mày mở mặt với lân bang nên Băm Thát đã táo cấp hành động bằng mọi giá.

Trong kế hoạch này Băm Thát cầm:

xây dựng một công trình đại thủy nông chưa từng có trên xứ Xích Đạo Thổ;

xây dựng kinh thành Tam Đại Âm;

tổ chức các hình thái kinh tế mới theo kiểu công điền và công hữu hóa phát huy sức mạnh tập thể;

tiến hành cải cách nông thổ;

xây dựng chính quy binh;

tổ chức chế độ khoa bảng theo tinh thần lấy tứ nông (nông dân, nông thôn, nông pháp, nông đức) làm gốc và sai các trí sỹ xuất thân nông lệ và giang hồ xây dựng hệ thống tư tưởng Băm-Bẩm…

Thực ra mô hình của đại kế hoạch này đã tỏ ra khá thành công dưới chế độ của anh tam nhà Bạch Hùng bên xứ Đại Ngỗng nên Băm Thát cứ thế áp dụng nguyên xi.

Về mặt tổ chức chính quyền Băm Thát tự phong là Băm Thát Đại Ương đứng đầu mọi cơ quan quyền lực, phong cho Bẩm Mo là Thượng Ương “dưới một người trên muôn người”, còn lại các quan lớn triều đình đều phong cho làm Trung Ương, các quan địa phương thì gọi là Tiểu Ương, bên dưới còn một lũ hào bá lăng nhăng được gọi là Hạ Ương.

Chỉn quan niệm nước lấy vua làm gốc nên việc đầu tiên Băm Thát Đại Ương cho làm là xây dựng Tam Đại Âm Thành.

Về việc này quan Chế Sử Trung Ương đã có ghi lại.

Băm Thát Đại Ương đã sai các quan Thẩm Du Trung Ương, Đậy Bịt Trung Ương và Cãi Vứt Trung Ương thực hiện việc xây thành trong vòng một năm phải xong.

Tam Đại Âm Thành được chia làm ba khu chính là Đại Âm Cung thành (chỗ Hoàng cung, đặt trên một cái gò), Đại Âm Đạo thành (phủ nha của các bá quan Trung Ương), Đại Âm Hộ thành (khu nhà ở của các quan và các đội Hộ Vệ Binh cùng các quán khách cho các sứ quán và các quan Tiểu Ương).

Chu vi Đại Âm Hộ thành dài 50 dặm, trong thành có nơi cư trú cho quan và dân hơn 1.000 phường, ngoài ra còn có ba chợ buôn bán lớn là Thượng Âm Mao, Tả Âm Mao và Hữu Âm Mao; riêng chợ Thượng Âm Mao có 120 dẫy, hơn 3.000 cửa hiệu, hơn 400 căn khách sạn.

Công trình to lớn như thế mà thời hạn hoàn thành bị bắt ép thực hiện trong không đến một năm, nhân công dùng mỗi tháng cần hơn hai triệu, do đôn đốc lao dịch quá gấp gáp khắt khe nên phu dịch cứ 10 người thì chết đến 4-5.

Đội thu xác chết đã phải dùng xe để chở tử thi, chết ở hướng đông và nam thì đem chôn ở Điển Văn Địa, chết ở hướng tây và bắc thì chôn ở Dịch Mai Thổ, liên tiếp không dứt.

Trong lúc xây dựng Tam Đại Âm Thành thì Băm Thát Đại Ương cũng đồng thời cho đào hệ thống đại thủy nông Nam Vong Hà, trưng dụng đi phu hơn một triệu người.

Tuy không hoàn toàn nhất trí với Băm Thát Đại Ương về những công nghiệp long trời lở đất đó nhưng Bẩm Mo Thượng Ương cũng không làm gì được.

Khi Tam Đại Âm Thành xây gần xong thì anh em Băm-Bẩm nhìn thấy nhau là đã thấy khó chịu lắm, huynh đệ hết thời hữu ái, và tất yếu Đại Ương tìm mọi cách để hãm bớt quyền lực của Thượng Ương.

Đã thế, chỉn ham ăn chơi, Thượng Ương được thể lại còn cho sửa chữa và dựng thêm cung uyển: ở Hà Nam có cung Hoạt Dương, ở Thái Nguyên có cung Lãnh Dương, ở Sơn Tây có cung Mộng Dương, ở Dương Hải có cung Hải Dương…

Hàng loạt các tòa cung uyển mọc lên, quy mô rộng lớn, lãng phí vô cùng; lại còn cho xây Đại Dương uyển ở Tam Đại Âm Thành, chu vi dài hơn 200 dặm.

Trong vườn cho xây biển nhân tạo, chu vi hơn 10 dặm, bên trong biển nhân tạo cho dựng các núi Dương Cà, Dương Cần, Dương Phần vượt cao khỏi mặt nước hơn trăm thước, đền đài miếu vũ la liệt trên núi, bất luận nhìn từ hướng nào đều thấy thần kỳ không sao kể xiết; phía bắc biển nhân tạo có suối nước rồng rắn uốn lượn đổ vào bên trong biển, ven suối xây 16 tòa lầu gác, hoa lệ bề bề.

Để xây dựng những tòa cung uyển kia và cả sưu tầm, vận chuyển thì số phu dịch lên tới cả chục triệu người.

Nếu như nói xây dựng Tam Đại Âm Thành, sửa kênh đào, đắp thành quách thì còn có ý nghĩa nhất định về mặt chính trị, kinh tế, quân sự, nhưng còn đại tu cung thất vườn hoa, hoàn toàn chỉ là sưu tầm lạc thú; nhất là trong mỗi hạng mục công trình đều ép buộc khẩn trương về thời gian và tiến độ, chẳng đếm xỉa gì đến thời vụ nông nghiệp, phá hoại nghiêm trọng việc sản xuất.

Lúc đó cả xứ có 4.500.000 hộ, nhân khẩu khoảng 25 triệu, trong đó thanh niên trai tráng ước chừng 6 triệu người, mà đã thường xuyên trưng thu lao dịch trên 2 triệu người, chiếm 1/3 tổng số tráng niên.

Vừa lên làm vua thiên hạ mà đã huếnh nên tất nhiên sinh ra nghi kỵ.

Hai anh tam nhà họ Bạch lại còn độc đoán chuyên quyền, tin lời nịnh hót ghét bỏ hiền tài, trọng dụng gian thần, tàn hại người trung lương, tự hủy diệt trụ cột quốc gia, giết hại các công thần như Chu Trung Ương, Hoàng Trung Ương, Phan Trung Ương, Hà Trung Ương…

Băm Thát Đại Ương và Bẩm Mo Thượng Ương đều cho rằng mình không phải người thường, huênh hoang tự đắc, không cho phép triều thần làm trái ý mình.

Đại Ương còn bảo rằng: "Tính ta không thích ai can gián. Ai đã có quan cao lộc hậu mà vẫn cầm can gián để nổi danh thì lấy mạng kẻ ấy.”

Những kẻ như Trần Trung Ương, Đoàn Trung Ương, Ngô Trung Ương, Lê Trung Ương, Phạm Trung Ương… do có lời khuyên can nên không mất đầu thì cũng mất chức; ngay cả Ngọc Bừu Trung Ương chỉn cật dạ cũng chẳng thể may mắn thoát khỏi.

Cũng phải nói một điều là hai anh tam nhà họ Bạch ngoài khả năng đàn áp kinh hồn thì lại còn mị dân rất giỏi, vì vậy dân chúng lúc nào cũng im thin thít.

Bẩm Mo Thượng Ương tuy mang tiếng có tước vị nhưng ngày càng không có thực quyền, cả và chuyện trọng đại thường do Băm Thát Đại Ương quyết hết.

Chỉn bất mãn lại nghiện ngập ăn chơi nên y trở nên sa đọa khôn lường, thường hay ngông càn vô lối.

Y thường cho bọn Hộ Vệ Binh đội mũ đeo gươm, ra ngoài chợ phố đi nhung nhăng, uống rượu say đánh người bị thương.

Mỗi khi y ra ngoài thường đem theo hàng mấy chục con chó săn, con nào cũng đeo nhạc vàng, khoác áo thêu, hét trước hò sau, lấp cả lối.

Gặp đàn bà con gái giữa đường, hễ người nào trông vừa mắt, tức thì y sai tay chân quây màn trướng ngay tại chỗ, rồi lôi người ấy vào hiếp liền; ai không chịu, y xẻo luôn vú.

Lại nói Đại Ương có một sủng phi rất đẹp tên Ái Kê Giao được phong phẩm hàm Mỹ Điệp Nhân, mỗi khi nàng đến đâu thì mọi loài hoa đều gục xuống như chiều xấu hổ chan chan.

Các quan Trung Ương nhỡ trông thấy nàng thì chẳng ai bảo ai đều phải cúi gập lưng xuống nhìn ngó khắp nơi như thể đang đi tìm một vật quý vừa đánh rơi.

Chim chóc trông thấy nàng bỗng cất tiếng lảnh lót rầm trời; dê chó nhìn thấy nàng chợt giẫy giụa gầm thét vang lừng.

Nàng đẹp thế nên Bẩm Mo lấy làm thèm muốn vô cùng; khổ nỗi, nàng đi đâu thì cũng có một đội nội giám võ nghệ siêu quần bạt tụy theo hầu, Thượng Ương lấy làm căm lắm.

Thế rồi Trời xui có một ngày ngồi chè rượu trong Đại Dương uyển Bẩm Mo nhìn thấy Ái Kê Giao đang hái hoa bắt bướm.

Nhìn những nhịp chân nhún nhẩy tung tẩy của nàng dập dờn phiếm thủy Thượng Ương cứ ngỡ lạc đến động tiên.

Dù đứng từ xa mà y cũng ngửi thấy một thứ mùi kỳ lạ hấp dẫn vô cùng tận, Thượng Ương phút chốc ngờ ngẫn ngẫn ngờ.

Theo làn gió thoảng cái mùi ấy cứ ngan ngát, cứ ngun ngút, cứ ngùn ngụt; bỗng như vừa được uống thứ thuốc kích thích cực mạnh Thượng Ương xông ra vung gươm chém chết cả đám nội giám rồi đến bên ấp chặt lấy nàng.

Cứ thế y hít hà, cà râu, vầy phao câu, cấu ti, mi lông… không ngơi nghỉ, không biết chán, không biết gì.

Ôi cao dầy ơi, thân liễu lả lơi; phàm phu trục lợi; thiên địa tả tơi; bể dục bời bời.

Mới được dăm ba hiệp giữa chốn sân vườn, chưa thỏa Thượng Ương còn bế thốc Mỹ Điệp Nhân về cung thất của mình tiếp tục hành sự miên man như thể có thể quên hết mọi sự đời.

Sau đó y biệt giam luôn nàng ở trong cung không thả ra nữa, đêm canh ngày nhật.

2

Băm Thát Đại Ương nghe tin thất thiệt thì tức giận bầm gan tím ruột mà không biết phải làm gì, dẫu sao thì Ương cũng là mẫu nghi thiên hạ lại tự cho rằng mình là bậc có đức độ của loài tiên thánh, đâu dễ xuống tay tàn độc với em ruột mình.

Nàng Ái Kê Giao từ đó không được ra ngoài nữa; mới đầu nàng cũng thấy hứng thú khi sống bên Bẩm Mo vì y rất khỏe, như trâu, như vịt, như gà, như dê, như chó, như hổ, như beo.

Nên nàng cũng gắn bó với y như keo.

Hai kẻ keo sơn ấy sung sướng bên nhau như thể ai cũng đang ôm ấp trong mình cả vũ trụ bao la.

Sáng bẩy chiều ba, vào ra không kể.

Chốc ra cửa bể, lúc về uyển cung; khắp cả Hoạt Dương, Lãnh Dương, Mộng Dương, Hải Dương… rồi là Đại Dương không nơi nào là không có vết tinh khí và lông tóc của cả hai người.

Cũng phải nói cái khoản “bẩy chữ” và “tám nghề” của Mỹ Điệp Nhân cũng xuất sắc chí thiết.

Bẩy chữ điêu luyện ấy là những mánh khóe bên ngoài đã được các bậc Y Ngự Trung Ương truyền lại là:

1. Khốc: khóc lóc giả bộ thương yêu, khiến đối tác quyến luyến không rời được.

2. Tiễn: cắt tóc mình và tóc đối tác, se vào nhau; mỗi người buộc vào cánh tay như thề nguyện kết tóc se tơ.

3. Thích: khi đã thỏa thê tình dục rồi, lấy kim chích tên của đối tác lên cánh tay hay đùi mình, lấy mực xoa vàọ thì đối tác sẽ trút hết tiền vì nghĩ rằng mình đã chết mê chết mệt nó, mới xăm tên nó lên thân thể mình như vậy; khi đối tác sau đến, trông thấy ắt phải nghĩ rằng không biết người đi trước đãi mình thế nào mà mình yêu đến thế; tất nhiên sau đó sẽ hậu đãi mình để được lòng mình, yêu hơn người trước; nhân thể phải biết chau mày, nói: người trước đã tiêu phí không biết bao nhiêu tiền mới được lạc thú bề bề, do đó mới xăm tên; nay đối tác mới cầm được thích thú hơn, tất nhiên phải quăng tiền cho mình nhiều như lá rừng đại ngàn.

4. Thiêu: là khổ nhục kế, hai đứa đều chích máu trong người ra để thề, phỏng gặp thằng ngu, mình cùng nó đốt huơng thề, như thế thì nó táng gia bại sản cũng đáng đời.

5. Giá: dùng mẹo để lừa, cứ như mong được làm vợ, suốt ngày chỉ nói chuyện mơ ươc về nhà chồng và các điều thề thốt; hễ đối tác đã mê, tự nhiên bỏ của ra; tiền đã hết rồi, nó cầm cưới, mình giả đau ốm không dậy, thế thì chẳng phải đợi mình đuổi, nó tự động cũng cút xéo.

6. Tẩu: là một kiểu kích động tình cảm bằng cách giả bộ yêu nhau chí thiết đến mức không thể thiếu nhau phải rủ nhau bỏ trốn.

7. Tử: dẫu biết đối tác có vợ có hầu, mình vẫn thế thốt sống chết nếu không được sống chung thì tự vẫn; vậy đối tác có tiêu pha hết của cho mình thì cũng xứng đáng.

Tám nghề là những thủ pháp nghệ thuật tinh xảo chí thiết trong hành lạc:

1. Với đối tác có hạ thân nhỏ thì dùng phép “đánh trống giục hoa” (kích cổ thôi hoa).

Chiêu này rất quan trọng với xứ Xích Đạo Thổ vì đàn ông xứ này phần đông dương cụ hơi bị khiêm tốn, nữ nhân phải biết dùng chiêu “cá ngáp” nghĩa là làm sao để tử cung tự nhiên co bóp liên tục.

Kích cổ thôi hoa nghĩa là phải làm sao để nó nhỏ hết cỡ, âm hộ và các bộ phận xung quanh đó liên tục rung lên nhè nhẹ, liên tục có những co thắt ngoài ý muốn; những co thắt này đều đặn, nhịp nhàng, bóp mạnh vào dương vật, số lần co thắt thường từ 3 đến 12 lần.

Thôi có nghĩa là đẩy, khi làm tình phụ nữ phải liên tục đẩy mông, gồng mình lên.

2. Với đối tác có hạ thân to dài thì dùng phép “sen vàng khóa xiết” khóa chặt hai vế (kim liên song tỏa).

3. Đối tác trẻ hối hả, bộp chộp thì phải dùng phép “mở cờ đánh trống” (đại chiến kỳ cổ).

4. Nếu đối tác khoan thai thì dùng phép “đánh chậm rung khẽ” (mạn đả khinh sao).

5. Với người mới “vỡ lòng” đang hung hăng thì dùng phép “ba bậc đổi thế” (khẩn thuyên tam trật), tức là phải ôm chặt ba chân.

6. Gặp đối tác sành sỏi ưa dịu dàng, dai sức thì dùng phép là khóa lấy tâm theo dõi thần hồn (tỏa tâm truy hồn).

7. Gặp đối tác phải chăng, không dai sức thì dùng phép “bên níu bên giữ” (tả chi hữu chì), tức là tay phải ôm tay trái giữ.

8. Với đối tác hiếu sắc thì dùng phép “dềnh dàng hớp vía” (nhiếp thần phiến tỏa) hay “thôi miên ngồi cười” (nhiếp thần nột tọa), tức là thu hết tinh thần làm ra vẻ nhún nhẩy.

Ái Kê Giao Mỹ Điệp Nhân thật là tài sắc bề bề!

Thế nhưng, bui quá bách nhật thì Bẩm Mo Thượng Ương lại đi săn tìm những con mồi mới với những sinh thực khí mới.

Thời gian y giành cho Mỹ Điệp Nhân cứ thưa dần, thưa dần; sống trong biệt cung nàng càng ngày càng thấy châu chan hiu hắt.

Ghe khi châu chan chí thiết.

Ra vào cung thất ngẩn ngơ, nhìn song chạnh nhớ thẫn thờ thèm chim.

Được cái trong cung thất của Thượng Ương có rất nhiều chó, những con chó săn to cao, những bắp thịt nần nẫn.

Chuyện trò với bọn hầu gái và quân nội giám mãi cũng chán nàng quay ra nói chuyện với chó; bọn chó ở đây có vẻ cũng buồn chí thiết nên nàng bắt chuyện được ngay.

Nàng thích mê một con đen mướt, mắt sáng long lanh, mặt mũi mịn màng, bắp chân như tượng, và nhất là… cái dương vật của nó lúc nào cũng lừng lững sẵn sàng chiến đấu, trông xuất sắc hơn cả những con người xuất sắc nhất.

Thế là nàng chợt nghĩ đến việc dụ dỗ nó.

Hàng ngày trong khi nói chuyện với nó nàng cứ nhìn nó liếc tình xao xuyến; mắt nó cứ trơ ra.

Ghe chốc nàng thủ thỉ vào tai nó những lời đường mật thiết tha có thể khiến những nhà tu hành đắc đạo chí thiết phải hoàn tục; mặt nó vẫn tỉnh khô.

Nàng cọ hai bầu vú căng mọng, niềm tự hào tột đỉnh của nàng, vào mặt nó; nó vẫn chẳng hề xúc động.

Nàng gí bướm vào mũi nó; nó vẫn gan lì tướng quân.

Đúng là đồ chó.

Thất vọng chan chan nàng đạp vào mặt nó; nó nằm xuống cam chịu.

Thế rồi cũng vừa đến giờ ăn, chỉ nghe một tiếng kẻng vang lên là con chó đã lao vọt ra.

Nàng bực quá chừng, cái giống chó này chỉn được cái ham ăn.

Nhưng mà rồi nàng cũng nghĩ ra một ý.

Từ đó nàng rất hay cho nó ăn, càng cho nó ăn thì nó lại càng quấn quýt.

Thế rồi nàng đem những thức ăn thom ngon chí thiết bôi lên thân thể nàng; và thế là nàng đã đặng nó liếm láp toàn thân.

Cũng mơn man chan chan.

Cũng hoành tráng bề bề.

Và cứ thế cái trí khôn của nàng nó sáng ra đến chỗ nào thì nàng cũng đặng hưởng những màn cụp lạc lạ lùng nhất trần đời đến chỗ ấy.

Trong lúc ấy mỗi lúc gần gụi nàng Thượng Ương không còn thấy nàng hứng thú bề bề như trước thì cũng lấy làm lạ lắm.

Hay là nó có tình nhân, Thượng Ương nghĩ bụng; thế là y cho người theo dõi sát sao.

Quả thực y lo thế là bằng thừa vì ở nơi biệt cung toàn cậu bộ hay thái giám và cung nữ này thì lấy đâu ra một người đàn ông chân chính cho Ái Kê Giao cơ chứ.

Để an tâm, y cho đem toàn bộ cậu bộ trong cung ra thiến lại lần nữa, đề phòng chẳng may có tên nào bị thiến sót.

Quỷ Sứ: Em cũng phải công nhận cái bọn thiến sót là cực kỳ kinh tởm, kinh tởm hơn cả quỷ dữ nhiều.

Đã từng nghe có những tên thái giám thiến sót làm loạn cả hậu cung các đại hoàng đế. Mỗi đêm một tên thiến sót có thể phục vụ cả tá phi tần ăn chơi xả láng sáng về sớm. Vì thế mấy thằng này thường có quyền lực tối thượng và tối mật trong các triều đình.

Đã nghe chuyện có tên đầu quân làm thái giám khi bị thiến đã đút lót hàng tấn vàng để xin người ta giữ lại cho hột giái của hắn một mẩu bằng hạt ngô. Cái hột ấy còn đắt gấp ngàn lần kim cương bất hoại vậy.

Đã biết chuyện ở một xứ nọ người ta cứ gọi các bậc đại học sỹ là “gia súc thiến sót”. Chỉ vì mọi thứ ở đó đều lởm kinh khủng. Lởm quá cả mức tởm. Bọn này thật đáng mặt “gia súc” vì nhân cách và thực quyền còn dưới cơ bọn thái giám, và cái vinh quang mà chúng vươn tới cũng giống hệt những gì mà bọn thái giám hằng mơ tưởng.

Bọn mật sai của Thượng Ương tất nhiên cũng chẳng tìm ra tung tích gì, chỉ bẩm báo đặng với y rằng dạo này chỉn thấy nàng hay dẫn chó đi dạo mà thôi.

Nghe thấy thế Thượng Ương cũng lấy làm yên tâm, vì nếu quả thật nàng Ái Kê Giao có nhân tình thì Thượng Ương cũng khó lòng mà xuống tay ra đòn ác độc.

Dẫu sao y cũng yêu chí thiết nàng.

Lại nói Băm Thát Đại Ương vẫn đem lòng tức giận Bẩm Mo Thượng Ương không nguôi.

Từ ngày bị thằng em ruột cướp mất sủng phi Mỹ Điệp Nhân thì Đại Ương ăn uống mất ngon, bứt rứt trong người, bao nhiêu cung tần mỹ nữ cũng thấy nhạt nhẽo cả, thẩy đều như thịt luộc chấm nước lã.

Bọn Hộ Vệ Binh đi tìm gái khắp nơi trong ngoài Tam Đại Âm Thành cho Đại Ương mà hắn vẫn chẳng thấy đứa nào làm hắn vừa lòng, thật là chẳng biết xả vào đâu cho hả giận.

Đã uất giận mà vẫn phải giữ cái thể diện quốc gia trên vẻ mặt và trong hành động thì quả thật Đại Ương cũng là một chính khách cả lão luyện, nhưng cái sự kiềm chế ấy dù sao thì cũng chẳng ai muốn vơ vào mình đâu.

Kể ra, mãi mà chả gặp một người đàn bà nào đáng để yêu si mê hết mình thì cuộc sống cũng thật là địa ngục.

Một hôm mây lạc khắp trời, cái bụng thấy chẳng yên Băm Thát vi hành khắp Tam Đại Âm Thành xem xét ngó nghiêng đây đó.

Các thần dân của Đại Ương chẳng hiểu vì lý do gì mà mặt mũi lúc nào cũng dớn dác dúm dó, như sợ hãi tột cùng, như mất của, như bị tịch biên gia sản, cười nói ngô nghê, đi lại xớn xác, thần thái lao xao, trông cứ như lũ chó vừa bị no đòn chứ không ra con người.

Đang buồn bã hư không trong lòng nên nhìn cảnh ấy Đại Ương lại càng thêm bi; cái bi của Đại Ương thì tất nhiên là to lớn hơn cái bi của bọn dân đen tầm thường rất nhiều.

Ương bỗng thở dài.

Tiếng thở dài như tiếng hà mã châu chan giữa đầm hoang.

Trên đường lai kinh mặt Đại Ương trông cứ im lìm châu chan thăm thẳm như đá.

Dường như chán chường thế sự Đại Ương dừng lại bên một hồ sen trông thật thôn dã với cảnh sắc chân quê.

Sai quân lính châm rượu ra uống, Ương uống đã đến 9 tuần mà cái long diện vẫn buồn thiu.

Giữa chốn đìu hiu ấy Đại Ương bỗng nghe tiếng hát; nghe khi nhặt khi khoan, khi trầm khi bổng, khi tụ khi tan, khi man mác khi lộng lẫy.

Thật là đối nghịch với cái tâm trạng của Đại Ương, có một bầy gái tươi non đang múa hát như thể cuộc đời này thật là chốn bồng lai không chút ưu phiền tục lụy nào ngấm vào.

Trong đám gái tơ lúc ẩn lúc hiện, lúc ầm ĩ tục trần lúc phiêu bồng như tiên, lúc ca hát liên miên lúc nói cười rúc rích ấy lộ ra một con bé chỉn cuốn hút.

Trầm ngâm trong khung cảnh đó bỗng chốc lát Đại Ương chẳng còn cầm làm vua nữa, giá như mà bây giờ được làm một tráng đinh vừa lớn hồn đời mơn mởn thì thích làm sao.

Băm Thát lại thở dài rồi cho người ra xem đám gái non ấy ở đâu ra.

Bọn thuộc hạ ra hỏi han rồi về bẩm báo rằng bọn đó đều ở trong cung cả, con bé nhan sắc nhất, vui tươi nhất, nhí nhảnh nhất, tinh nghịch nhất đang tọa trên cầm đài chính là Công Chúa Bạch-Bẩm Bì, ái nữ của Bẩm Mo Thượng Ương, thật là cẩm tâm tú khẩu.

Đang âm thầm những tưởng tượng mơ màng về cái hình hài và giọng nói cười tơ hơ và thánh thót ấy nghe thấy thế Đại Ương giật nẩy mình.

Hoàn thần lại Đại Ương cho gọi đám con gái ấy đến cùng ngồi chơi và ngắm sen; bảo chúng rằng mình là một thương gia giầu có hàng đại gia chẳng bượp thứ gì.

Đại Ương cho người mang vàng ngọc ra tặng từng con bé để thưởng cho những giọng hát mê hồn.

Bọn con gái ấy thích thú ra mặt, nhất là cái khoản hột xoàn, và cứ thế quấn quýt bên đại gia không rời, hát hò không dứt.

Đại gia mân mê hỏi chuyện Bạch-Bẩm Bì, càng chuyện trò lại càng thấy nàng thật mê ly; nàng cũng thấy quý mến chí thiết đại gia.

Đại gia hẹn nàng đến tối sẽ cho người đón đến Vọng Âm Lâu để cùng ăn tối và được tiếp tục thưởng thức giọng hát của nàng.

Bạch-Bẩm Bì cười bẽn lẽn.

Chiều tối ấy người ta đã thấy nàng đi ra đi vào ngoài cửa từ khá sớm; chỉ chập tối là Băm Thát đã cho người đón nàng đến Vọng Âm Lâu.

Chuyện nhà Băm-Bẩm dài quá, cảm tưởng như không biết bao giờ mới hết. Có nhẽ sử thi Ba Bựa/ Tam Tài xứ Xích Đạo Thổ là vô địch về dài trong các sử thi của thế giới.

Lại xin trích tiếp nguyên văn:

Trong vai một đại thương gia trông Băm Thát Đại Ương cũng chĩnh chện chí thiết, không giống như con lật đật như khi làm vương chủ đôi khi vẫn phải đóng cái vai yêu nước thương dân, quả là Đại Ương cũng đáng mặt một chính trị gia rất gân.

Đêm ấy đại thương gia vui chan chan, cùng nàng Bạch-Bẩm Bì ẩm tửu, đàn hát suốt đêm, cả hai đều sướng rên rỉ.

Được dậy dỗ hết sức công phu nên Bạch-Bẩm Công Chúa biết mọi lẽ hay ho thú vị trên đời, đủ hết cầm kỳ thi tửu.

Tuy nhiên, có trự Thái Sư Trung Ương tài giỏi tên Cao Đờm cũng không quên cảnh báo nàng những lẽ hậu họa của cái sự quá trong cõi cầm kỳ:

Nữ đa cầm tất dâm, nam đa kỳ tất suy

Nàng nghe vậy thì cũng để vậy.

Nàng rất mê “lý”; nàng thuộc tất cả các điệu lý: Lý con sáo (đủ cả Bắc, Huế, Quảng, Gò Công, sang sông, cải lương), Lý hoài xuân, Lý con chuột, Lý con quạ, Lý tình tang, Lý 10 thương, Lý giao duyên, Lý chàng ôi, Lý 4 mùa, Lý ru con, Lý vọng phu, Lý cây đa, Lý đò đưa, Lý toan tính, Lý con cò, Lý cũ rũ, Lý mèo lành, Lý qua đèo, Lý chiều chiều, Lý hoài nam, Lý cửa quyền, Lý cảnh chùa, Lý tử vi, Lý tiểu khúc, Lý ngũ luân, Lý nam sang, Lý Giang Nam, Lý Thiên Thai, Lý triền triện, Lý mọi, Lý đá rừng, Lý chuột chê, Lý khỉ đột, Lý 3 cô, Lý ngô đồng, Lý lá sen, Lý cây ông, Lý Ba Tri, Lý lu là, Lý cây ổi, Lý cái phảng, Lý nuôi ong, Lý ngựa ô, Lý ngựa tây, Lý đường trơn, Lý quay tơ, Lý đươn (đan) đệm, Lý bình vôi, Lý quạ kêu, Lý chuột kêu, Lý kéo chài, Lý che hường, Lý chim khuyên, Lý bánh bò, Lý con cua, Lý lạch, Lý hành vân, Lý hoa thơm, Lý thương nhau, Lý mong chồng, Lý vẽ rồng, Lý bắt bướm, Lý cây duối, Lý ông Hương, Lý con nhái, Lý con mèo, Lý dừa tơ, Lý chim chuyền, Lý mạ non, Lý bánh canh, Lý con cá…

Hát lý là một thể loại nhạc có những bài hát rất hay, tự bản thân nó mang trong mình nó nhiều ý nghĩa sâu xa, chứa đựng một chút gì đó rất là kỳ lạ.

Khi Bạch-Bẩm Công Chúa cất tiếng hát những lời nhạc của lý như những dòng thơ, những áng văn tuy mộc mạc nhưng ý nghĩa thâm sâu, tình cảm nhẹ nhàng nhưng nồng nàn, gây xúc động lòng người quá lắm.

Sau màn khai tửu nàng bắt đầu hát.

Chả hiểu sao nàng bắt đầu với “Lý cây đa”:

Trèo lên quan dốc ngồi gốc ối a cây đa

Rằng tôi lý ối a cây đa

Ai đem ôi à tính tang tình rằng

Cho đôi mình gặp xem hội cái đêm trăng rằm

Rằng tôi lý ối a cây đa…

Băm Thát nghe thấy “cây đa” là bỗng bần thần như thất thần.

Chúng ta còn nhớ hai anh em nhà họ Bạch, Băm Thát và Bẩm Mo, đã được sinh ra từ một cây đa cổ thụ; nói đúng hơn cha của họ từ trong cây đa đã khạc đờm vào háng bà Quích Tích mà sinh ra họ.

Chuyện ấy đã xưa lắm rồi…

Linh giác cội nguồn hoang đường ấy đã dậy lên trong côi óc Băm Thát khi nghe nhắc đến “cây đa”.

Vì cái cội ấy nên trên xứ sở này mọi cây đa đều linh thiêng, như có thánh ám, như có ma nhập.

Đã có nhiều cây đa ở xứ này không những có tên có tuổi hẳn hoi mà còn đi vào sử sách đời đời hoặc nhất thời.

Phải chăng tại họ Bạch là linh thiêng hay là do nhà đó tuyên truyền ra thế?

Cũng có thể là do cả hai.

Quỷ Xứ: Cây đa là một loài cây thuộc họ Dâu tằm (Moraceae), nó có thể phát triển thành loài cây khổng lồ mà tán của nó che phủ đến một vài nghìn mét vuông. Cây đa lớn nhất trên thế gian còn sống tại xứ Pune (Ấn Độ) có đường kính tán tới 800 m xung quanh thân chính của nó. Loài cây này có quả mầu huyết dụ và các rễ khí mọc từ các cành cây đâm xuống đất. Ý nghĩa biểu tượng đầu tiên của cây đa là sự trường tồn, sức sống dẻo dai. Cây đa còn là biểu tượng thần quyền và tâm linh của con người. Cây đa có mặt ở nhiều nơi khác nhau nhưng hầu như nó không vắng bóng ở các di tích, đặc biệt là đình chùa. Dưới gốc đa người Xích Đạo Thổ thời xưa hay dựng miếu thờ và lại có lệ khi bình vôi không dùng được nữa, thay vì vất bỏ thì đem treo ở cây đa. Nó còn gắn liền với hình ảnh của làng quê qua những hình tượng như “cây đa, giếng nước, sân đình” hay “cây đa, bến nước, con đò”, qua điệu dân ca “Lý cây đa”. Nó cũng xuất hiện trong sự tích Thằng Cuội trên Cung Quảng. Cây đa và cây đề cũng là biểu tượng của các bậc lão thành nhiều công lao và thánh tích, ngầm chỉ là bất khả xâm phạm. Hãy thờ phụng họ như thờ phụng những cây đa!

Quỷ Sứ: Xứ này có câu: “Cây đa cậy thần, thần cậy cây đa”; thế mới thấy các thế lực ở đây câu kết với nhau để ăn hút, bòn rút kinh khủng như thế nào. Thực ra tất cả là do cái lá đa và rễ đa mà ra. Cây đa có nhiều rễ khí lừng lững làm cho nó có dáng trường tồn, lão tướng, tinh tướng, tinh vi… Còn cái lá thì hình dạng nó hấp dẫn vô cùng, không ai không mê. Với những sở đắc ấy thì các thần cũng phải đến lợi dụng nó để hiển hiện cái vía của mình ra với đời (nói chung bọn thần thánh đều là những kẻ rất giỏi lợi dụng mọi thứ), được thể bọn đa lại càng vênh vang với người. Đáng ghét! Đã thế bọn đa lại còn kết đảng với bọn đề để dễ bề khuynh loát thiên hạ. Đụ mạ! Chả thế mà còn có câu: “Thần cây đa, ma cây gạo, cú cáo cây đề”. Thần thánh với cáo cú rồi cũng thành một bầy vậy.

Nghe xong bài “Lý cây đa” Băm Thát như sực tỉnh, thoát hồn ra khỏi cõi bần thần.

Diệu nghệ bề bề, Đại Ương đáp lại thịnh tình của Bạch-Bẩm Công Chúa bằng một bài hát xẩm, một thể loại kích dục bậc nhất.

Chưa hát mà Ương đã từ bần thần chuyển sang bần bật.

Đối mặt với bản năng và dục vọng đang sôi lên cuồn cuộn của chính mình thì đến đương kim Đại Ương cũng phải phát run.

Băm Thát bắt đầu với bài “Dứa dại không gai” như thế này:

Dứa dại không gai

Chúng anh nghĩ rằng cây thì dứa dại nó không gai

Không ngờ thì gai dứa lại dài hơn chông…

Ca từ nghe thật là khiêu khích.

Thế rồi lời ca đi thẳng vào vấn đề:

Hỏi cái gì lù lù trước ngực cô nàng bay

Oản tẻ hay cặp bánh dầy, vừa trắng vừa xinh

Nhác thì quay qua anh nom thấy nó hữu tình

Ướm hỏi cô mình, của lạ hay là của quen?

Quỷ Xứ: Đề cao yếu tố phồn thực tựa như một điều gì đó thiêng liêng cũng là sự hướng tới quy luật âm-dương của con người và vũ trụ, vì thế nó được hiện hữu nhiều trong văn hoá truyền thống, nhất là những nét văn hóa cổ xưa. Những bài dân ca về phồn thực chủ yếu được sinh ra để gắn liền với nghi lễ tín ngưỡng nhưng riêng hát xẩm lại phục vụ nhu cầu giải trí đơn thuần. Vì thế nên nó rất “bạo”. Nên biết tận dụng điều đó để chế ra những bài hát khích động thanh niên phục vụ cho quyền lợi của những thế lực cao cả và những sự nghiệp cao đẹp.

Quỷ Sứ: Hát xướng như thế thảo nào trai gái xứ này đều thích nghe hát, nhất là hát xẩm, các em gái gú lại càng mê đắm. Đã có triệu triệu em chết dưới tay những thằng có tài ca xướng một cách vô điều kiện. Các anh em ạ, hãy biết nói ra những lời dung tục nhất, những ham muốn thực lòng nhất dưới giọng những lời ca. Cái đó còn được gọi là “quả đấm bọc nhung”.

Biết được thế mạnh chan chan có tính gián cách của hát xướng Đại Ương xốc tới:

Em nhích vào đây cho anh bóp cái anh xem

Miệng hát, tay làm.

Tất nhiên Công Chúa tuy cười tươi đấy mà vẫn né tránh.

“Đại thương gia hào hoa” Băm Thát lại tung chiêu bài dụ khị điêu luyện quen thuộc của một chính trị gia:

Muốn bạc hay muốn tiền chả tiếc cô mình làm chi

Anh cứ khuyên em chớ để nó mà làm gì

Lỡ một mai xốc xa xốc xếch, xộc xà xộc xệch thì sẽ chả còn gì là cái thì xuân xanh

Em cứ nghe anh chơi cho mát ruột nó lại lành

Quỷ Sứ: Các anh em nên nhớ ái tình và chiến tranh rất giống nhau, đó là nơi người ta thoải mái giở đủ trò dụ dỗ, lừa mị, trộm cướp… mà không lo bị kết tội, không có bên nguyên bên bị nào phải… ra tòa.

Càng hát Đại Ương càng sung, càng sung lại càng mong cho chóng đến cõi sướng.

Thế rồi Đại Ương ngửa bài:

Nam bức mành mành thoả lược cho cô mình xem

Anh cứ chơi cho gãy khoá long then

Chơi cho oản tẻ đi tìm lấy cậu chuối xanh

Chả nghe anh trong dạ nó không đành

Thể hiện ý chí mãnh liệt Băm Thát đay lại những câu phơi bầy lòng quyết tâm như núi của mình:

Anh cứ chơi cho gãy khoá long then

Chơi cho oản tẻ đi tìm lấy cậu chuối xanh

Cho nên tôi lại tung hoành

Bạch-Bẩm Bì nghe mà thấy lòng rạo rực, nhất là mỗi lần nghe đến “oản tẻ” với lại “cậu chuối xanh”.

Cảm cái phong thái “oai như cóc” của đương kim Đại Ương dù chưa biết rõ, Công Chúa hát tiếp bài “Lý con cóc” để tặng người quân tử:

Cóc chết nàng Nhái mồ côi bấy lâu

Chàng Hiu nó bèn đi hỏi

Nhái lắc đầu nàng lại chẳng ưng

Lắc đầu hổng ưng!

Công Chúa vừa hát vừa lắc đầu quầy quậy.

Đại Ương thì bắt đầu quậy.

Cứ thế Băm Thát đưa tay sờ nắn lung tung, trong khi Bạch-Bẩm Bì vẫn say sưa hát tiếp những lời “cóc nhái”:

Con Ếch ngồi ở sau lưng

Nó kêu là kêu cái “Ẹo!” Cái “Ẹo!”

Chốc nàng hát đến đây thì cũng là lúc Đại Ương cởi bỏ xong dải khăn hoàng quyến phất phơ nơi cổ và vai nàng. Công Chúa cứ hát, Ương thì cứ cởi.

Biểu ưng, cái ưng cho rồi! Cái ưng cho rồi

Nàng hát đến đây thì Ương cởi xong đôi hài lóng lánh những hột xoàn.

Bậu chờ ai, chớ ai chờ bậu

Chớ bậu làm sao

Lấy chồng chẳng ham?!

Bạch-Bẩm Công Chúa hát đến đây thì Ương cũng cởi xong bộ hồng y lộng lẫy.

Cóc chết nàng Nhái buồn than, (liền) để tang

Chàng hiu nó liền an ủi

Nhái ngỡ ngàng lòng dạ ngổn ngang

Thấy mà xốn xang…

Đến đây thì Ương cởi xong dải yếm đào chao đảo thiên hạ.

Con Ếch ngồi ở trong hang

Nó kêu, là kêu cái “Wợch”

Biểu ưng, cái ưng cho rồi!

Đến đây thì vừa lúc tụt quần.

Bậu chờ ai, chớ ai chờ bậu

Chớ bậu chờ ai, lấy chồng sướng hơn!

Tịnh tình tang ớ tình tính tang…

Đến đây thì… cũng vừa lúc… tình… tang…

Mặc dù Bạch-Bẩm Bì mới ngấp nghé trăng rằm, lại nghe nói chưa hề cầm tay một người con trai, thế mà màng trinh chẳng hiểu sao lại chỉ còn sót lại một nửa, có hình răng cưa; cứ như đang phấp phới vật vờ như cờ bay, như phướn dướn.

Quỷ Sứ: Ê, cái đó phải gọi là cái “long tiết” hay “hoàng trinh”; bên Anh Kiết Lị có thể gọi là “royal hymen”. Ô là la, “hymen” mới nghe cứ tưởng như là “cao nhân” ấy nhể.

Sau đó chừng một tuần trăng Bạch-Bẩm Bì tự phát hiện mình có thai; và rồi chẳng hiểu thế nào mà sau đó ít lâu nàng đã bị chết thảm trên triền đê ở Thượng Âm Mao.

Thế rồi chuyện diễn ra thế này: Bẩm Mo căm giận bầm gan tím ruột, thân mang đao đến Đại Ương Phủ gầm lên đòi hạch tội thằng già dê ruột thịt đại khốn nạn. Đang chuếnh choáng rượu, thuốc phiện và gái tơ Băm Thát vừa thò cổ ra xem có chuyện gì thì Bẩm Mo đã hối hả xông đến vung đao. Cánh tay Băm Thát từng bị đứt rời khi xưa nay xuýt nữa lại rơi phịch xuống đất như một tảng thịt tế hết date. Mọi người ai chẳng choáng váng trước cảnh huynh đệ tương tàn, nồi da xào xáo thịt… Ôi cảnh đời sao mờ mịt. Thế nhưng, do quá giận dữ và bất cẩn nên Thượng Ương đã không sát hại được Đại Ương. Đã thế, lại còn bị bắt trói rồi bị tống vào Tĩnh ngục Tiểu Súc, nơi giam hãm đặc biệt giành cho các tội phạm đặc biệt cấp Trung Ương trở lên hay mấy tên sứ quân hỗn láo. Thế rồi:

Sau sự kiện truy sát hành thích của Thượng Ương, Đại Ương suy nghĩ lung lắm.

Các quan Trung Ương đại thần đều nhất loạt cầm xử tử Thượng Ương để trừ hậu họa, mà cương quyết nhất là Vẽ Trung Ương, người cận kề Đại Ương suốt bao nhiêu năm dài chinh chiến mà lại hay bị Thượng Ương coi thường như mẻ.

Băm Thát gạt đi ngay việc đó, nói: “Ta không cầm linh hồn nạ ta bị quấy rầy. Nên nhớ, tên Bẩm Mo nghịch tặc là con của bà ấy.”

Các quan Trung Ương đều khuyên Đại Ương nên lấy việc quốc gia làm trọng nhưng dường như lòng Ương không lay động; không ai biết Ương đang có toan tính gì.

Hoàn cảnh xứ Xích Đạo Thổ khi ấy cũng thật là li kỳ bi bết bề bề: giặc cướp như ong, sứ quân khắp nẻo đòi chia đất, ngoại bang bốn phía muốn nhẩy vào cắt cướp, dư đảng của Vu Tru Ca Sô vẫn còn hoành hành…

Trong tình cảnh này quả thật là dễ mất đất, mất ngôi báu như bỡn; nhưng gì thì gì Băm Thát và Bẩm Mo là không thể chung sống yên lành trước mặt thiên hạ được nữa.

Đại Ương nghĩ: chém Bẩm Mo sẽ làm suy yếu toàn cục, lực lượng ủng hộ Thượng Ương như rắn mất đầu nhưng chắc chắn sẽ không về phe với mình mà sẽ nổi loạn, mối nguy mất nước thêm rõ ràng…

Đại Ương nghĩ: hay là cắt đất làm hai cho Bẩm Mo giữ lấy một nửa chia sẻ trách nhiệm, ta cũng được nhẹ gánh mà củng cố quyền lực của Đại Ương tối cao.

Đại Ương nghĩ tiếp: không những chia sẻ được gánh nặng mà còn tạo ra một sức cạnh tranh, thi đua giữa hai xứ, kích thích nhau phát triển.

Đại Ương lại nghĩ: nếu ta tạo được điều kiện thuận lợi, phát triển mạnh mẽ thì khi ấy lại tính đường tái thống nhất xứ sở là chuyện không khó.

Đại Ương cũng nghĩ: khi cho Bẩm Mo đi thì cái chức Thượng Ương sẽ bượp trống, có cái để mà khích mấy tên Trung Ương ham hố tranh nhau lập công mà lên ngồi chỗ ấy, lại còn có cơ hội dẹp bớt bọn bố láo ba que ba phải.

Đại Ương còn nghĩ: không có sự đại hỗn loạn thì không có công cuộc đại trị.

Đại Ương thiết nghĩ: dù sao thì ăn một mình bao giờ cũng sung sức…

Kể ra Băm Thát mưu cũng cao thâm chí thiết.

Ngay lập tức, Đại Ương bí mật thả Bẩm Mo.

Các quan Trung Ương đều có phản ứng vô cùng cay cú, Vẽ Trung Ương thì gào thét rầm trời rằng một hung thần vừa sổ lồng, một cuộc chiến hung tàn sắp xẩy ra trong nay mai.

Nữa là, không biết Băm Thát có yêu thương gì thằng em khốn nịn hay không hay chẳng qua Ương biết Bẩm Mo cũng có chân mệnh đế vương.

Từ bấy cái xứ hình lưỡi rắn được chia làm hai, tục gọi là Xích Đạo Thổ Tả và Xích Đạo Thổ Hữu, hay còn bị dân bên đó gọi trẹo đi là Xích Đạo Thổ Huyết.

Ngay lập tức hai xứ xây dựng, củng cố, phát triển lực lượng cấp tốc.

Ngay khi thoát khỏi Tĩnh ngục Tiểu Súc tức thì Bẩm Mo cho tập hợp tất cả thuộc hạ chiếm lấy khu vực trọng yếu nằm giữa vùng châu thổ thậm phồn của xứ Xích Đạo Thổ Hữu.

Vốn quen ăn chơi nên Bẩm Mo thích chủ thuyết tự do cá nhân, bèn nêu lên “chủ nghĩa Tao” rêu rao khắp thiên hạ để tập họp thần dân, nhiều người cũng lấy rất làm thán phục.

Bẩm Mo thiết lập triều đình mới, tự gọi mình là Thống Ễnh; các cấp tiếp theo gồm có một Thủ Ễnh và các Tổng Ễnh, vì thế mà người dân xứ Xích Đạo Thổ Huyết đều gọi các quan là “ễnh”/ “kễnh” hay “ông ễnh”/ ”kễnh”.

Với dục vọng bình định nhanh chóng xứ Xích Đạo Thổ Huyết, Bẩm Mo Thống Ễnh cho quân đi đánh dẹp tất cả các lực lượng đối kháng, các lực lượng chính trị hay tôn giáo bát nháo với tinh thần “đập chết ăn thịt” làm bọn chúng la khóc rầm trời.

Vốn vẫn căm tức nên Thống Ễnh cho chém bỏ những kẻ thân với thế lực của Băm Thát, đuổi bọn chúng chạy re sang đất Xích Đạo Thổ Tả, việc này đã gây ra căm thù cho nhiều tên cộm cán nên chúng rất muốn thịt Bẩm Mo.

Bẩm Mo cầm mảnh đất của mình phải đi lên nhanh chóng, minh chứng cho một đường lối ưu việt của một con người siêu việt, luôn quyết chí vượt lên.

3

Xứ Xích Đạo Thổ giờ đã chia hai, khiến cho mọi người thật là bải hoải. Mẩu đất bé như bàn tay, can qua khôn dứt, đau thương khôn cùng. Ít ai ngờ cái sự chia cắt xót xa ấy lại nằm trong âm mưu đồ vương bá mang tính chiến lược lâu dài của chính đức Đại Ương của đất nước. Cái chức Thượng Ương để trống sau sự ra đi của Bẩm Mo đã làm thành một tấn bi hài kịch dai dẳng.

Sử thi Ba Bựa viết tiếp:

Thống Ễnh cũng không bao giờ quên cái đêm Băm Thát thân chinh đến tĩnh ngục tâm sự dồi dào, nhưng mà chuyện đó để sau.

Nhớ khi chia tay Bẩm Mo, Băm Thát còn dặn dò: anh em ta nên gặp nhau thường để bàn định việc xứ sở, thôi thì đành tạm chia tay…

Nhưng sự đời quả chẳng mấy khi diễn ra như chóc mòng, như người ta nghĩ, thế mới bĩ!!

Từ khi Bẩm Mo ra đi miền Xích Đạo Thổ Tả tràn ngập những chuyện lạ; các ứng cử viên cho chức Thượng Ương đông bề bề, trong đó tất nhiên có tên Vẽ Trung Ương cùng Lô Tô Trung Ương, Cật Niên Trung Ương, Kẽm Trung Ương, Rìu Trung Ương, Gan Trung Ương, Bình Trung Ương, Lam Trung Ương, Hỉ Trung Ương, Gấu Trung Ương…

Trước sự nhòm ngó gằm ghè của các đại công thần, nhất là sự háo hức tha thiết của Vẽ Trung Ương, Băm Thát Đại Ương nghĩ ra một kế để tránh nạn quần hổ tranh thực là trước mắt chỉ thông qua chức Quyền Thượng Ương với nhiệm kỳ ngắn hạn, đồng thời làm thế thì cũng nhằm khích tướng: ai làm Quyền Thượng Ương thì cũng sẽ phải phấn đấu hết mực để mong sớm được cắt đi cái chữ “quyền”.

Người đầu tiên được nhận chức này là Cật Niên Trung Ương, chỉn là người cơ mưu, uy tín, lại có công lớn nhất trong việc giúp Đại Ương năm xưa đánh Vu Tru Ca Sô và dựng nghiệp đế, nên khi ngài nắm chức thì mọi người cũng bằng mặt, chỉ có Vẽ Trung Ương là cay.

Cật Niên là người có văn chương nên đã hóm hỉnh gọi cái chức mới của mình là Cu (Q.) Thượng Ương đang chờ ngày cắt; từ đó các nơi học theo cũng đặt ra nhiều chức tạm quyền.

Cật Niên hay làm thơ, thơ ngài nôm na mách qué nhưng lão thực, dễ hiểu, dễ đến với dân chúng; kiểu như những bài thơ ca ngợi các chiến binh sau đây:

Người tráng sỹ cưỡi hùm (ngựa) lên non

Khi về bên ngựa lủng lẳng hai hòn kim cương

Hay là:

Ngựa cứ vọt qua đèo

Suối cứ reo reo reo

Tên đạn bay xèo xèo

Vằng vặc ánh trăng neo

Ngựa mệt lết bước một

Người có khi bị chột

Căm thù bọn bóc lột

Quyết cho chúng vỡ hột

Đường xa nghe gió rít

Như kim châm vào đít

Cứ đi đến tối mịt

Rồi sẽ được ăn thịt

Đêm lạnh sương hoa rơi

Đầu ta dính vào trời

Ngày mai ta cơi nới

Hết mệt lại thảnh thơi

Nghe kỹ thì thấy Cật Niên cũng có khẩu khí đế vương lắm vậy, lại thấy cái ý chí quyết tâm cắt “cu” lộ liễu chí thiết.

Cật Niên Quyền Thượng Ương cực ghét bọn làm “nghệ thuật suông”, nhất là bọn đề cao cá nhân bị ảnh hưởng của “chủ nghĩa Tao” mà Bẩm Mo đã gieo rắc từ trước.

Đây là giai đoạn gay cấn kinh khủng trong cuốn sử thi. Để mong sớm được cắt “cu” Cật Niên đã có những hành động chính trị khốc liệt trên khắp các lĩnh vực sau đây:

1. Cải tạo và xây dựng tư tưởng xã hội, đề cao tính duy nhất đúng của chính quyền tập quyền, xiển dương “chủ nghĩa Tổng Cai” và tạo dựng hình ảnh Băm Thát Đại Ương vĩ đại trước thiên hạ.

Thực ra những thứ này đều là đồ ngoại nhập, do Cật Niên áp dụng quá rập khuôn nên đã gây hậu quả nghiêm trọng; thế gian muôn hình vạn trạng làm sao có được hai mảnh đất nào giống nhau để mà bắt chước lẫn nhau.

Có thi sỹ đã viết về thời kỳ này:

Ai chẳng có nhà nước của mình để khốn đốn với

Ôi

đi đâu thoát được trận trận lũ người

Bão người quét

Gió tha người

*

Tôi đau ở

mỗi người một vụ án

mỗi người

chôn

sống

một chân mây

*

Tôi tắt nốt

những mặt trời rù

trên

rù rù

những đám đông đen

Có chuyện tiếu lâm thế này:

Có nhà độc tài nọ đang có chuyến thăm chính thức tại Pháp và người ta tổ chức một chuyến thăm quan giới thiệu Paris cho ông. Người ta giới thiệu những vẻ đẹp của Điện Elysée, còn ông, như mọi khi, vẫn giữ khuôn mặt như đá. Khi người ta giới thiệu cho ông những tuyệt tác của Louvre, ông chẳng hề có phản ứng, biểu hiện gì… Người ta đưa ông đến Khải Hoàn Môn, ông không hề một chút mảy may biểu hiện thích thú. Cuối cùng, đoàn xe chính thức tiến đến dưới chân Tháp Eiffel. Ngay lúc đó nhà độc tài kinh ngạc. Ông quay hướng sang các bạn Pháp và hỏi một cách sửng sốt: “Các bạn này, ở Paris có đến những 9 triệu dân… mà chỉ có mỗi một tháp canh thôi à?”

Thiết nghĩ, các thi sỹ, các nhà sáng tác tiếu lâm ấy cũng nên tham khảo lời Hàn Phi Tử, đại ý: bọn hươu nai kia nó chưa húc chết loài chúa sơn lâm đâu phải vì chúng hiền lành mà chẳng qua chúng biết rằng chúng chưa đủ sức.

2. Cải tạo văn hóa nghệ thuật, với kết quả là hàng trăm nạn nhân bị án oan.

Có thi sỹ viết:

Yêu cái đẹp nên phải đi cải tạo

Thích nhân văn mà gặp đời tàn bạo

Nên em ơi

Muốn làm người thì hãy yêu cái xấu

Thậm chí em còn phải giao cấu với bọn xấu nếu em muốn ngày mai em vẫn có khẩu phần

Bọn làm văn nghệ vốn hỷ nộ ngút trời nên cay cú vụ này lắm, chúng thù dai đến mức mãi đến gần cả thế kỷ sau mà vẫn chưa quên, vẫn đay đi nghiến lại trong những tác phẩm của mình, quả là “đòn đau nhớ đời”.

Quỷ Sứ: Hehe em thấy bọn làm chính trị (i) và quân làm văn nghệ (ii) xưa nay chả mấy khi hiểu nhau nên cứ hay phang nhau như chém chuối. Bọn (i) thì chém bọn (ii) bằng đao búa để thể hiện việc bảo vệ “nhẽ phải” của mình bằng bạo quyền, bọn (ii) lại chém bọn (i) bằng nhời [“nói phải”/ cay độc/ văn hoa…]. Bọn nào cũng “phải” cả, đều nghĩ “chân ní” nó nằm trong nòng mình, nghĩa là chừng nào chưa có đứa nhận mình “chái” hay giả vờ chấp nhận mình sai là chúng nó còn chém nhau tơi bời. Ôi giời!

Bọn văn nghệ thì bản chất ưa sướt mướt, thống thiết với những thứ “cao viễn” như lý tưởng, tính nhân văn, nhân bản, nhân hậu, nhân luân, nhân quyền… nói chung là đủ các loại “nhân”, “chân”, “tân”, “ân” gì đó mà trên đời chẳng bao giờ có (do bọn chúng ngộ nhận giữa những gì chúng bịa ra và cuộc sống thật); bọn chúng thường tranh đấu cho những cái hão huyền (mà ai ai không ít thì nhiều đều mơ tưởng và tin rằng là sẽ có) nên hay được những kẻ đau khổ (chiếm 99,99% loài người) ủng hộ lắm, lại hay được các “tổ chức hão huyền danh giá” trao cho cục phần thưởng này, mẩu giải rút nọ, cho nên đội ngũ “háo hão” này đông [zui] lắm. Ta nghĩ văn nghệ chỉ có giá trị thật khi thoát ly được mọi thứ “thưởng” hay “phạt” và dám nhìn thẳng vào mọi chuyện, nhất là nhìn thẳng vào mình, nhưng, không lấy việc chửi bới hay cãi nhau với bọn (i) để “tự sướng”.

Bọn (ii) cứ hay “long trọng hóa các vấn đề” lại to mồm nên bọn (i) căm lắm, cái tâm lý của những thằng làm việc cật lực mà vẫn bị bọn vô công rồi nghề, bọn ất ơ nó chửi. Ở đời vốn chẳng có gì hoàn thiện nên có ai mà làm nên công quả gì cho đến đầu đến đũa được đâu. Sẽ chẳng bao giờ có “ní tưởng” nào được thực hiện trong cõi người đâu, muốn tìm thì các ngươi cứ đến Địa Ngục nhé hehe… Ta sẽ chỉ cho.

Trong đống bầy nhầy ấy của kiếp người, bọn (i) ngoài cái sứ mệnh (cũng hão) là “ta đang nàm việc quốc gia đại sự” ra thì cũng chẳng còn biết làm gì hơn ngoài chuyện ăn hút, mong sao kiếm được cục “tiền đè chết người”. Bọn (ii) thì biết chẳng xơ múi gì được nên lại càng giở miếng võ cũng hơi bị đê tiện là chửi đổng ra. Kỳ thực chúng cũng “mong manh” lắm, trói gà chẳng chặt thì làm được cái gì, chẳng qua to mồm nên hay làm bọn (i) vốn xa lạ với siêu hình và trí tưởng tượng e sợ, càng e sợ chúng càng khủng bố. Hố hố…

Dẫu sao ta cũng thấy có những bọn (i) khá lành mạnh xuất hiện rồi đó. Bọn làm chính trị chỉ lành mạnh khi chỉ quan tâm lo cho mình và yêu mình hết mình mà thôi. Bọn này sẽ làm thiên hạ được lành mạnh.

3. Cải tạo các cơ quan hành chính, tăng cường sử dụng các chức tạm quyền, điều đó làm các quan lại trở nên hung bạo; thế mới biết cái mối nguy của những con dao hai lưỡi.

Thưở ấy quan lại tàn ác, cường hào ác bá khắp nơi; có người đã phân tích nguyên nhân tạo ra và duy trì tệ nạn ấy thế này:

1- Người đó có nhiều phương tiện để trở thành cường hào ác bá: tiền tài, hoặc thế lực, hoặc sức mạnh kể cả sức mạnh bản thân, võ nghệ, vũ khí, số đông (nhiều người).

2- Bản thân người đó không có căn bản đạo đức và thực hành, sống theo đạo đức để làm 1 con người tốt. Đây là lý do ngày xưa thường nhấn mạnh đến việc giáo dục các đức tính: Nhân (yêu người), Lễ (kính trọng người khác), Nghĩa (làm ơn và biết ơn), Trí (học hành, suy nghĩ chính chắn) và Tín (thành thật, không lừa dối).

3- Có chổ dựa, bao che: Có người hùa theo để làm điều xấu (bè đảng, băng đảng), có quyền lực bao che: chính quyền cấp địa phương hoặc cấp cao hơn. Luật pháp không có, hoặc có nhưng quá lỏng lẻo, hoặc không được cơ quan công lực và chính quyền chấp hành nghiêm chỉnh.

4- Những người chung quanh, kể cả nạn nhân không biết cách, không có khả năng, không có người lãnh đạo, không thật sự đoàn kết, không quyết tâm chống lại và tiêu diệt.

Thực ra, cái thiếu của xứ sở đó chính là những con người công chínhý thức công chính xã hội.

4. Cải tạo các chính sách kinh bang tế thế, nhưng vì sai lầm nên dân chúng đang sinh sống bình thường lại rơi vào cảnh đói khát. Trong tình hình hết sức phức tạp Cật Niên đã thực hiện một nền kinh tế tập quyền mang tính áp đặt.

Thực ra, kinh tế xã hội là một hiện tượng và hoạt động tự nhiên do quy luật cung-cầu điều tiết; mọi sự can thiệp thô bạo của mệnh lệnh chỉ có thể có tác động nhất thời, không phải là quốc kế dân sinh lâu dài. Trường hợp Hitler làm kinh tế là một ví dụ sáng rõ rằng người ta có thể duy ý chí để làm ra những đế chế, gây dựng những đội quân có khả năng tàn sát kinh hồn, nhưng không thể mãi mãi cưỡng được tự nhiên. Mọi chế độ sinh ra từ cường bạo sẽ chết trong bạo tàn.

Hãy xem những truyện tiếu lâm:

Hỏi: Đến giai đoạn cuối cùng của chủ nghĩa Toàn Cai thì có còn trộm cắp không?

Đáp: Không. Vì mọi thứ đã bị lấy sạch trong giai đoạn quá độ rồi.

Hỏi: Có thể sống nổi chỉ với đồng lương chính không?
Đáp: Không biết. Chưa thằng nào trong chúng tôi dám thử cả.

5. Đẩy mạnh xây dựng và phát triển quân đội làm suy kiệt ngân khố.

Các Trung Ương trong bộ Binh là người vẽ ra và ủng hộ quyết liệt vấn đề này, cũng là có dăm ba mục đích một lúc. Vốn được ca tụng về những chiến tích lẫy lừng nên ý kiến của một Trung Ương về quân sự luôn được coi là duy nhất đúng. Đó cũng là một cái ách. Cái đúng của một người luôn rất nguy hiểm. Ví dụ như câu chuyện này :

Có một con dê đầu đàn luôn tự hào vào trí tuệ, tàm nhìn và sức mạnh của nó. Cả đàn tin nó, mặc nhiên, không hẳn chỉ vì nó ngủ với dê cái hơi nhiều như một đại trượng phu đích thực "đúng số 35". Tin rằng nó đi tới đâu là ở đó có nước ngọt tràn trề, có lộc non mơn mởn, có bốn mùa tươi lá, có chim hoa cá gái… Thế nên cứ thế đi theo. Thế rồi một hôm ngất ngư trên mỏm đá do say nắng say gió thế nào đó mà con dê đầu đàn bị trượt chân ngã xuống vực. Cả đàn dê giật mình nhưng rồi ngay lập tức cứ thế mà lao theo nó, vì tin rằng dưới vực kia là cả một thiên đàng…

Quỷ Sứ: Có nhiều người nói con người cũng không khác một bầy dê hê hê

Ta xét thấy xứ Xích Đạo Thổ vốn nhỏ nhoi. Xưa kia nữa đã có những bậc minh sư đưa ra chiến lược khi có biến thì toàn dân làm lính, khi giặc tan tất cả lại trở về làm ruộng. Xứ nhỏ cần phải linh hoạt trong mọi việc. Cứ nuôi dưỡng mãi những đội quân chính quy thường trực là chí nguy.

6. Chuẩn bị tổng lực cho cuộc xâm lấn chinh phạt xứ Xích Đạo Thổ Hữu, hòng thu xứ sở về một mối.

7. Cải tạo nông thổ, một cuộc nống sai lầm toàn diện dẫn đến việc nửa triệu người chết oan uổng; đây là cú faute nặng nề nhất.

Dù là sử thi nhưng dường như Ba Bựa/ Tam Tài cũng đã bị kiểm duyệt nghiêm ngặt nên các “hạng mục” 6 và 7 đều khá sơ sài.

Tổng cộng là “thất cải”, thường bị thảo dân nói lái thành “thải cứt”.

Hậu quả của các công cuộc cải tạo, trớ trêu thay, lại làm xứ sở thêm điêu linh, thê thảm, đứng trên miệng vực sụp đổ.

Thảm họa ấy làm cho đến Băm Thát Đại Ương dù đa mưu túc trí cũng trở nên lúng túng, không biết cư xử ra sao; vả lại, sau bao năm tả xung hữu đột giờ đây Ương cũng đã trở nên uể oải, dường phó mặc cho Cật Niên chịu trận.

Sử thi viết tiếp:

Trong cơn nguy khốn ấy có một quan Trung Ương nằm vùng trong miền Xích Đạo Thổ Huyết xông ra xin đảm nhận việc khắc phục hậu quả; đó là Cầy Măng Trung Ương.

Lại nói Cầy Măng Trung Ương trước đây khi ém trong miền Xích Đạo Thổ Huyết đã bị quân của Bẩm Mo Thống Ễnh đàn áp ghê quá nên từng chạy về Xích Đạo Thổ Tả xin một chân trong triều, Đại Ương bèn giao việc này cho Vẽ Trung Ương đang kiêm đảm trách thường trực Cơ Mật Vụ giải quyết.

Xét nhân thân và học vấn của Cầy Măng thấy nghèo nàn không có gì đáng chú ý nên Vẽ Trung Ương đã giao cho Cầy Măng giữ chức Bật Mã Vật Tiểu Ương trông sóc việc huấn luyện binh mã.

Cả tức giận Cầy Măng lại bỏ sang miền Xích Đạo Thổ Huyết hoạt động bí mật, thề không đội trời chung với Vẽ Trung Ương.

Hoạt động trong lòng sâu đen tối nhưng trí não Cầy Măng sáng suốt vô cùng, tiếng tăm vang dội.

E ngại và nghi ngờ Cầy Măng lắm nên Cật Niên Quyền Thượng Ương đã sai thân cận của mình là Rìu Trung Ương đến tận nơi thị sát tình hình, đồng thời được quyền kiểm soát toàn bộ lực lượng của Cầy Măng.

Cầy Măng cho quân dàn ra nghênh đón: hai hàng tiêu binh giáo gươm sáng lòa, đèn đuốc thắp sáng trưng, đại quân doanh sáng rực.

Ngồi thù lù giữa đại quân doanh, xung quanh có cận thần và vệ sỹ cân quắc dũng nộ là Cầy Măng Trung Ương tuy đen thui mà mắt như hải đăng.

Rìu Trung Ương vừa bước đến đại tiền môn là đã òe ra quần, quên hết cả lời Quyền Thượng Ương dặn dò cùng những Thượng Ương Lệnh trong tay áo.

Cố lết tấm thân run như cầy sấy vào đến trung doanh, Rìu chưa kịp cất tiếng chào thì Cầy Măng Trung Ương đã hỏi:

“Đến đây có việc gì?”

“Dạ thưa Cầy Măng Trung Ương… Do là lâu ngày không gặp… lại chẳng nghe tin gì nên… Cật Niên tiên sinh và Cơ Mật Vụ cử em vào đây trước là thăm hỏi… sau là xem cần giúp gì thì giúp ạ.” Rìu run rẩy đáp.

Cầy Măng nhếch mép cười nhạt rồi bảo:

“Ta thì lại đang tính xem làm gì để giải quyết giúp cho Quyền Thượng Ương và Cơ Mật Vụ đây. Thế có cần toa rập gì không?”

Rìu Trung Ương lập tức đủ tinh để thấy Cầy Măng sẽ là ông chủ của mình trong tương lai gần, vì thế đã xin với Cầy Măng cho mình ở lại sát cánh.

Vậy là cách tay phải của Cật Niên nay đã trở cờ thành cánh tay đắc lực của Cầy Măng, kể từ đây Cầy Măng Trung Ương như hùm mọc cánh, dần khuynh loát quần hùng, soán đoạt quyền uy.

Cầy Măng và Rìu đều nổi tiếng nhiều vợ, các ngài xơi gái như sói nhai thịt gà.

Giữa lúc triều đình bấn loạn, không biết phải làm gì thì việc một Cầy Măng thông sáng tình nguyện dang tay ra dựng lại cơ đồ đã được Đại Ương và triều thần thuận lòng nhanh chóng.

Cật Niên lập tức phải bị bãi chức, chưa kịp cắt mà “cu” cũng chẳng còn; tuy vậy nhờ là đại công thần nên vẫn được làm Trung Ương Đệ Nhất, chỉ đứng dưới Đại Ương và Thượng Ương.

Ngày Cầy Măng nhậm chức Thượng Ương cũng là một ngày lạ: ác là bay đầy trời, chim câu tự sát tập thể, đêm ấy có một con hắc long mắt sáng như Hỏa tinh bay vọt lên khỏi Đại Âm Cung thành và Đại Âm Đạo thành lượn quanh Đại Âm Hộ thành rồi lao xuống một vực sâu, chó ngao sủa vang trời, trong các hậu cung tiếng chuông báo có tùy nữ thụ thai vang lên lanh lảnh liên hồi.

Triều đình sắp đặt lại ngôi vị, theo thứ tự sau:

1. Băm Thát Đại Ương;

2. Cầy Măng Thượng Ương;

3. Cật Niên Trung Ương Đệ Nhất;

4. Lô Tô Trung Ương Đệ Nhị;

5. Rìu Trung Ương Đệ Tam;

6. Gấu Trung Ương Đệ Tứ;

8. Vẽ Trung Ương Đệ Ngũ;

9. Lam Trung Ương Đệ Lục;

Ngoài 9 ngôi “cửu” thì trong Cơ Mật Vụ còn có: Tiết Trung Ương, Nghiêm Trung Ương, Hỉ Trung Ương, Bạo Trung Ương và Cổ Trung Ương, mỗi vị mỗi việc.

Tất yếu, đau buồn là Vẽ Trung Ương, một đời khuyển mã, chiến công nhiệt liệt, những tưởng lên Thượng Ương đến nơi, nay ngậm ngùi đứng tụt xuống tận hàng thứ 8, dưới cả Rìu Trung Ương và Gấu Trung Ương vốn hàng thuộc hạ, mà vẫn được quần thần thì thụt rằng thế là còn may chán.

Việc đầu tiên Cầy Măng Thượng Ương hô hào là phải giải phóng Xích Đạo Thổ Hữu bằng mọi giá, thu xứ sở về một mối.

Tất nhiên, Băm Thát Đại Ương không thuận cái kế hoạch ấy nên nhiều lần nhắn nhe Cầy Măng cần phải lập những chiến lược vững chắc, tránh chủ quan duy ý chí.

Nhưng giờ đây thế và lực đã khác, Đại Ương đã yếu, tả hữu bạc nhược, thời thế ẩm ương; đã thế, được sự trợ ủng hết sức đắc lực của các mãnh hổ đích thực là Rìu Trung Ương và Lam Trung Ương nên Cầy Măng cứ dũng mãnh xông tới.

Gây sức ép, tạo phe cánh mạnh, Cầy Măng đã ép Băm Thát vào thế thụ động lại còn bị vô hiệu hóa; các quan khác cũng bị chặt hết vây cánh nên cũng chỉ biết ngồi im mà nghe theo.

Thế là cuộc nội chiến trên xứ Xích Đạo Thổ chính thức bắt đầu; dù không hề muốn nhưng Đại Ương không thể nào thoát khỏi ngòi bút các sử quan ghi lại đây là “cuộc chiến Băm-Bẩm”.

Cuộc chiến ấy kéo dài nhiều năm, người chết nhiều vô kể, “đống xương vô định” cứ gọi là cao ngất như non.

Việc phát tích của Cầy Măng cũng là một sự li kỳ; Cầy Măng vốn cũng chẳng phải con nhà bình thường, ngài vốn là con của Phó Vương Cầy Tre thời Vu Tru Ca Sô.

Số là mỗi lần về chầu ở kinh đô Cầy Tre lại lén lút quan hệ với một số cung nữ của Vu Tru Ca Sô.

Có lần một cung nữ bị lộ vì có chửa, may thay khi đó mọi sự của đế chế đều một tay Cầy Tre giải quyết nên chúa không dám giết ngài hay người cung nữ kia.

Bèn hạ cung nữ xuống làm thứ dân, bắt phải làm hôn thú với một nông nô.

Tên nông nô ngày ngày phải cung phụng cung nữ, một bà, hai bà, chứ chẳng dám vô lễ, đừng nói gì dám ngủ với “bà”.

Ngày tốt, tháng đẹp năm con dê Cầy Măng ra đời, dẫu con nhà Phó Vương nhưng mang cái tiếng xuất thân nông nô.

Mới ra đời Cầy Măng đã ra dáng một con dê đầu đàn lắm lắm, thông minh, dĩnh ngộ.

Ngay từ niên thiếu ngài đã từng đi tu theo nhiều giáo phái khác nhau, chứng tỏ ngài khó mà theo được một cái đạo nào, một con đường nào.

Với kho tri thức đầy mình học từ các cửa tu hành cộng với bản chất sáng láng nên ngài coi thường các trường học, đó là lý do mà sau này Vẽ Trung Ương khi mới gặp đã đánh giá không đến nơi đến chốn về ngài.

Vốn con Phó Vương, nối chí “con hơn cha là nhà có phúc” nên ngài tất nhiên ôm mộng vương bá.

Ghe người biết điều đó.

Sau này Băm Thát Đại Ương biết điều đó.

Con đường tiếm quyền của Cầy Măng tưởng chông gai trùng điệp mà hóa ra dễ dàng như thuận gió bẻ măng.

Sử thi xứ Xích Đạo Thổ dài lê thê, biết kể đến khi nào cho dứt.

Cầy Măng tiếm quyền thế nào? Hay chết trong nhục nhã?

Băm Thát có bị lật đổ “ngoạn mục”? Hay triều đại của Đại Ương vĩnh viễn trường tồn?

Bẩm Mo có chiếm đoạt được Xích Đạo Thổ Tả để thâu tóm giang sơn? Hay là bị tiêu diệt dưới tay Cầy Măng? Hay chính dưới tay Băm Thát?

Liệu Xích Đạo Thổ có được thống nhất? Hay đời đời bị chia cắt? Hay có bị ngoại bang thừa cơ xâm chiếm?

Sau lịch sử của cuộc chiến “Băm-Bẩm tương tàn” thế lực nào sẽ thay thế nhà họ Bạch?

? và ?… Biết bao nhiêu câu hỏi chưa có trả lời.

Mặc dù câu chữ còn nhiều, văn vẻ còn dài, nhưng… tôi dứt khoát dừng trích dẫn ở đây. Mặc cho ai nói gì thì nói. Tôi đã quyết rồi.

Quyết thật đấy.

Vì bao nhiêu ý tưởng khác cứ thúc vào sọ não tôi, như bắt ép tôi phải dừng cái này mà bắt sang cái khác.

Coi như duyên nợ có chừng này.

Chẳng nhẽ thế thôi sao?

Thôi thì sau này có khi nào tiện dịp tôi sẽ lại tiếp tục đưa ra những phần tiếp theo của sử thi kỳ bí này vậy. Vậy được không?

Nhưng mà trước khi gọi là chốt hạ, tôi cũng xin trích ra đây câu thơ kết của bộ Ba Bựa/ Tam Tài này cho quý bạn ngẫm nghĩ cho đỡ cơn tâm can giằng xé nhé:

Xích Đạo Thổ là khu nhầu nát

Cứ để mặc nó đìu hiu

bài đã đăng của Đặng Thân


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)