Trang chính » Biên Khảo, Tiểu luận Email bài này

Nghĩ Về Thơ

 

 

Cách đây vài năm tôi có xem một đoạn phim ngắn, chỉ độ vài ba phút. Đoạn phim mở ra bằng cảnh nắng đẹp chan hòa trên một công trường đông người bộ hành qua lại. Ngồi bệt giữa phố xá đông người ấy là một ông già mù, bên cạnh ông là một tấm bảng nguệch ngoạc giòng chữ: “Lạy ông đi qua, lạy bà đi lại, xin xót thương kẻ mù lòa”, và một ống lon lèo tèo vài đồng kẽm. Ống kính sau đó bắt đầu chiếu vào những gót chân thờ ơ qua lại, chẳng thấy ai tiếp sức cho cái ống lon trống rỗng ấy. Kế đến là đôi chân của một anh chàng xách cặp Samsonite đang từ từ bước đến, đi qua ông già mù vài bước, rồi quay gót lại, cúi người cầm tấm bảng lên, viết mấy chữ lên mặt sau tấm bảng, rồi để lại chỗ cũ, trước khi lại quay gót tiếp tục đi. Ống kính lại chiếu vào cái ống lon. Khách qua đường thi nhau bỏ tiền cắc, tiền giấy vào cái ống lon bây giờ đã đầy ắp tiền, vương vãi cả ra ngoài. Mấy chữ ấy là những chữ gì mà đã làm thay đổi cuộc diện một cách ngoạn mục như vậy ? Khi anh chàng Samsonite quay trở lại, ông già mù vừa mân mê đôi giầy của ân nhân vừa lên tiếng hỏi: “Xin ông cho biết ông đã viết gì lên tấm bảng của tôi ?” Câu trả lời: “Tôi cũng viết cùng một ý như ông đã viết, nhưng bằng một cách khác.” Đoạn phim kết bằng cảnh ống kính chiếu vào giòng chữ mới viết:

“Hôm nay là một ngày đẹp, và tôi không nhìn thấy.”

Đoạn phim ấy soi sáng được một sự tình kỳ bí, vốn khó giải thích. Rằng sự mầu nhiệm của ngôn ngữ, của thi ca, không nằm ở “ý”, mà ở “cách nói. Trong thơ, “ý” đóng một vai trò thứ yếu. “Cách nói” mới là cái mầu nhiệm, cốt tuỷ của thi ca. Nói như thế nào để rủ rê được người đọc mon men đến bến bờ của cái đẹp vốn thường bất khả đáo, ấy chính là sự tình gay go, thử thách của văn chương. Như là lời của anh chàng xách cặp Samsonite, ý vẫn thế, nhưng lời đã khác: “I wrote the same thing, just differently.” Trong hội hoạ cũng vậy, dù lập thể, trừu tượng, hay đa đa, hay gì gì chăng nữa, bức tranh ấy tác giả có chủ ý gì. muốn vẽ cái gì, điều ấy không quan trọng. Điều quan trọng là ở cách vẽ, cách trình bầy – mà hiểu theo nghĩa đen, nghệ thuật là gì nếu không phải là cái cách, cái thuật để làm một điều gì đó. Ngôn ngữ tự nó vốn bất lực, cần phải có sự trợ lực của nghệ thuật mới có thể đẩy được cánh cửa hạn hẹp dẫn vào tâm hồn. Nghệ sĩ là kẻ bằng vào khả năng nội tại, và bằng một mặc khải siêu nhiên, đã khám phá ra cái cách khua thức cảm nhận của con người về điều mà tự khả năng hắn, hắn không đến được.

“Ý”, vì vậy, không phải là cái làm nên thơ. Sự tình kỳ bí của cái làm nên thơ lại dễ nhận ra khi người ta dịch một bài thơ. Dịch một bài thơ, thật ra, là bỏ công tạo nên một bài thơ khác, bằng một cách nói khác, trong một ngôn ngữ khác. “Nguyên tác” có thể là đứng ở Thái Bình ngắm trăng rằm ngày Tết mà bàng hoàng cảm xúc, viết nên 8 câu 5 vần “Quỳnh Hải Nguyên Tiêu” bằng tiếng Hán, như Nguyễn Du đã làm. Còn “bản dịch” là ngắm trăng rằm tháng giêng qua lăng kính của cặp mắt Nguyễn Du, bàng hoàng cảm xúc, mà dịch thơ, mà tìm cách diễn tả lại cái tâm tình đến từ bài thơ ấy bằng tiếng Việt, như nhiều người đã làm. Chẳng là anh chàng xách cặp Samsonite đã chỉ diễn lại ý của ông già mù bằng một cách nói khác đấy hay sao? Anh ta đã “dịch” một câu Espanol sang một câu Espanol, đã làm cho nó trở thành thơ.  Bùi Giáng cũng đã từng hỏi liệu người ta có thể dịch một bài thơ tiếng Việt ra tiếng Việt, chẳng hạn như từ một bài lục bát sang một bài thất ngôn ? Hoặc như chính Nguyễn Du, có thể nào tự Nguyễn Du đem thơ lục bát của mình ra dịch trở lại làm thơ lục bát ? Nếu có, theo lời Bùi Giáng, anh hoa của Nguyễn Du phát tiết ra lần sau ắt hẳn sẽ khác lần trước. Bài thơ lần sau ắt sẽ khác lần trước. Dịch vì thế là sáng tạo.   Bùi Giáng cũng chỉ nói cho vui vậy thôi, chứ nào có ai dịch thơ tiếng Việt ra tiếng Việt bao giờ. Nhưng cái chuyện nói cho vui ấy lại làm sáng tỏ một điều, rằng cốt tuỷ của việc dịch thơ không nằm ở chỗ chuyển đổi từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ kia, mà ở chỗ, bằng những ngôn từ khác, tái tạo ra cái mầu xanh ban sơ bất tuyệt của truông đèo nghìn năm dạt dào sương khói, trong một cung bậc khác, một cách nói khác. Thơ khác tài liệu ở chỗ trong tài liệu “ý” là tất cả.  Viết tài liệu cốt là làm thế nào cho “ý” được rõ ràng, chính xác. Dịch tài liệu vì thế phải trung thành tuyệt đối với “ý”.

– Thế thì khi dịch thơ phải trung thành với cái gì ? Chẳng lẽ lại cũng đi trung thành với “ý”, với cái vốn đóng vai trò thứ yếu !

Đây thật là một câu hỏi đặt không đúng cách, một câu hỏi không nên hỏi, vì hỏi như thế là đi ngược lại với cốt tính của thơ. Thơ vốn bay lượn không ngừng, nó có đứng một chỗ bao giờ đâu mà nói chuyện trung với lại thành.

– Vậy là sao ?

Nói một cách bâng quơ thì trung thành với cái gì cũng được, không cũng được. Bài thơ dịch trước hết phải là thơ cái đã. Đã là thơ thì nó chẳng có bổn phận, chẳng mang trách nhiệm gì với ai, ngoài cái trách nhiệm “là thơ”, là đem xương thịt, hồn phách mình ra mà dấn liều một cuộc với ngàn năm mây trắng.

– Sao gọi là thơ ? Thơ là gì ? Thơ khác văn xuôi ở chỗ nào ? Có phải câu văn có vần, có điệu, có bằng, có trắc thì thành câu thơ không? Nếu không thì cái gì làm cho thơ là thơ ?

Thưa, mấy cái ấy có cũng tốt, mà không cũng tốt. Cái làm nên thơ là cái còn lại sau khi đã xoá bỏ hết “ý”, nó là cái ở đàng sau “ý”. Cái làm cho văn tài liệu khác thơ là vì sau khi cắt bỏ hết ý thì nó không còn gì cả.

– Thế là thế nào? Thử cho một thí dụ xem sao.

Thưa, khi một người con gái mời ta một tách trà, cũng lời mời ấy, cũng tách trà ấy, nhưng cái gì ở đằng sau ánh mắt của người bán chiếu von, cái ấy mới là cái làm nên lịch sử.

– Vậy thì “ý” đóng vai trò như thế nào trong thơ ? Sao gọi là thứ yếu ?

Thưa, “ý”, hay tách trà, chỉ là cái cớ, cái cớ để qua đó con người có thể đến gần cái đẹp.  Nghệ thuật nói cho cùng chỉ là phương tiện để con người đến gần cái đẹp.  Hội hoạ, hay âm nhạc, hay văn chương là những ngõ ngách ấy.  Mỗi tác phẩm nghệ thuật là mỗi trò chơi, mà “ý” là cái cửa để đi vào chốn ấy. Trò chơi ắt là không thể dừng ở cánh cửa. Nói theo thầy Tuệ Sỹ thì đó là nơi khởi đầu của cuộc lữ về những phương trời viễn mộng, nơi chốn của cái đẹp nghìn đời u uẩn.

– Nhưng cái đẹp là cái gì ?

Thưa cái đẹp là cái mà mọi người đều mơ hồ cảm thấy, mà không ai biết nó là cái gì. Nó là cái mà ông Adam khao khát muốn biết nên ghé răng cắn vào trái cấm mọc trên cây kiến thức. (Mà cắn vào rồi cũng chẳng hiểu biết gì hơn, chỉ làm Thượng Đế nỗi giận quất roi đuổi ra khỏi vườn địa đàng, suốt đời lam lũ khó nhọc tìm kiếm miếng ăn, cho chừa cái tội muốn biết.)  Ấn tượng mong manh về cái đẹp đã được cấy vào hồn chúng ta từ lúc sơ sinh, và vai trò của nghệ thuật là giúp chúng ta đến gần nó hơn, nhìn nó rõ hơn.

– Để làm gì ?

Nào ai biết! Chỉ biết là chúng ta khao khát tìm về nó. Có thể là để được hạnh phúc, được giải thoát, giác ngộ thành Phật, hay thấy nhan thánh Chúa, hay được ngang hàng với Thượng Đế, mà cũng có thể chỉ để được “biết”, thế thôi.

– Không trung thành với “ý” thì chẳng nhẽ cứ dịch lung tung, bạ đâu viết đó ?

Thưa, cũng có sao đâu.

– Sao lại không ! Dịch lung tung, loạn cào cào như thế thì Nguyễn Du đâu còn là Nguyễn Du, và Thôi Hiệu đâu còn là Thôi Hiệu. Không được ! Không được là không được.

Thưa, quả là không được. Quả là làm như thế thì Thôi Hiệu có thể thành Thôi Hộ mất. Có lẽ chúng ta có lúc cũng nên đọc thơ, dịch thơ của Bạch, Hạ nhị vị họ Lý một cách nghiêm túc, lời đáp lời, chữ đáp chữ, câu đáp câu, để hiểu bút pháp, để hiểu “ý” của tác giả, để được tác giả dẫn dắt đi dạo, nhưng có lúc cũng nên đùa giỡn với thơ, mà nắm tay nó tung tăng chạy nhẩy trên cánh đồng trăng thơ dại. Nếu có tha thiết với cái gì thì tha thiết với cái “trò chơi” mà tác giả bầy ra, tha thiết với cái cảm xúc đến từ nguyên tác, để người con gái trong “Đề Tích Sở Kiến Xứ” còn thấy ngày quay trở lại của Thôi Hộ. Thế là vui rồi. Chứ còn “ý” thì dắt nó đi xa nó cũng chẳng phiền hà gì, có khi lại còn thích được chạy nhẩy lăng quăng chỗ này chỗ nọ.

– Nghĩa là ?

Là thôi thì làm người, xin đứng cùng Thượng Đế, và đọc thơ, xin chơi cùng tác giả. Đọc một bài thơ là chui qua cánh cửa mà tác giả đã dựng lên. Phải có cánh cửa ấy, phải có cái ý ấy. Nhưng cánh cửa là cánh cửa, nó không phải là cái nên ôm lấy, mà là cái nên chui qua. Không nên bám vào “ý”, vào “nghĩa”, dù là nghĩa đen hay nghĩa bóng. Nó chỉ là cánh cửa. Phải bỏ nó lại sau lưng. Bỏ “ý” đi thì sẽ gặp được thơ. Không bỏ “ý” đi thì thơ sẽ bỏ đi mất.

– Thế ngộ nhỡ bỏ “ý” đi mà không gặp được thơ, không thấy gì cả thì sao ?

Thưa, cũng có lúc gõ nhầm cửa.

Đường Thi, hay Nguyễn Du, hay Vũ Hoàng Chương, hay Thanh Tâm Tuyền, hay Cao Đông Khánh là những cánh cửa tôi yêu thích. Đọc thơ CĐK hay đọc thơ chữ Hán của Vương Duy, của Nguyễn Du, là chơi cùng một trò chơi với CĐK, với Vương Duy, với Nguyễn Du, là chui qua cái cánh cửa của Khánh, của Vương Duy, của Nguyễn Du. Còn dịch thơ chữ Hán của Nguyễn Du, của Vương Duy, là chơi với họ trong cùng một trò chơi do họ tạo nên, qua cùng một cánh cửa, nhưng trong một góc vườn khác, một góc vườn trong khu rừng Việt ngữ. Dựng lên một góc vườn tự nó đã là một điều gay cấn, trầy da rớm máu. Rủ rê được người khác chui vào góc vườn của mình để chơi cùng Nguyễn Du há chẳng phải là điều hạnh phúc ư ?

Xin mượn hai câu thơ của Hồ Dzếnh để tạm chấm dứt bài này.

Nhưng nghĩ lại mối tình đau đớn ấy

Để riêng tây e có chỗ không đành.

Tô Thẩm Huy

Houston, Tháng 9, 2011

bài đã đăng của Tô Thẩm Huy


18 bình luận »

  • quynh thi viết:

    Người viết không hiểu nhiều về thơ mà viết về thơ. Thật là bạo gan.Đến cái đẹp là gì mà không biết. Thật bất khả tư nghị.

    QT

  • black raccoon viết:

    Lạy ông đi qua
    lạy bà đi lại
    xin xót thương
    kẻ mù

    Hôm nay là
    một ngày đẹp
    và tôi
    không nhìn thấy

    Ha ha ha! Ngộ thật!Ừ nhỉ, tui cũng nghĩ vậy.
    Cám ơn tác giả TTH, một bài viết hay và dí dỏm.

  • Ban Biên Tập viết:

    Đoạn phim nói trong bài có lẽ là phim ngắn “Historia de un letrero”, theo link này:
    http://youtu.be/zyGEEamz7ZM

  • Minh Nhựt viết:

    Thưa ông Black Raccoon,
    Tui cũng thấy như ông, đây là một bài viết rất hay với những câu tự vấn đáp làm thành một chuỗi suy nghĩ vừa mạch lạc vừa ý nhị diễn tả được thơ không những chỉ là ý mà còn là cách diễn đạt nữa. Riêng với ông Quỳnh Thi, là người làm thơ và biết rành về thơ, nếu có thể được xin ông vui lòng viết một bài về thơ thật đàng hoàng như bài chủ, thì tui nghĩ nó hay biết mấy thay vì chỉ vài ba dòng có tính cách phán xét hời hợt, phiếm diện không mang lại ích lợi gì cho bài viết này và cả cho bạn đọc.

    Mong lắm thay,

  • Phan xuân Sinh viết:

    Thưa Quý vị,
    Anh Quỳnh Thi và anh Tô Thẩm Huy là hai người bạn của tôi ở Houston.
    Anh Quỳnh Thi là một thi sĩ trước đây thường xuất hiện nhiều nhất trên tạp chí Thơ. Anh Tô Thẩm Huy là người giữ mục “Đùa Với Đường Thi” trên tạp chí Văn Học trước đây, ký tên là Đàn Bách Kiếm. Anh Quỳnh Thi bảo rằng anh Tô Thẩm Huy “Người viết không hiểu nhiều về thơ mà viết về thơ”, cho như vậy có quá đáng lắm chăng? Tất cả chúng ta đều là những người cầm bút mạt sát với nhau như vậy để làm gì? Tại sao chúng ta không lựa những lời lẽ tốt hơn để đối đáp với nhau. Anh Tô Thẩm Huy không đủ tư cách để nói về thơ thì chắc anh Quỳnh Thi là người đủ tư cách nhất để viết về thơ. Thế thì anh cứ viết để cả làng chúng ta đều xem. Xin chú ý một điều rất quan trọng là “Nghĩ về thơ”, mỗi người có một suy nghĩ của riêng mình, không ai bắt người khác phải “nghĩ” giống với mình. Tuấn nay, trên mảnh đất Da Màu gặp hai sự cố rất buồn, chuyện anh Trần Hữu Dũng chưa dứt, bây giờ lại tới chuyện của Tô Thẩm Huy.

    Hai bạn hiền của tôi, mời hai bạn sáng mai chủ nhật đến café Nguyễn Ngọ/Houston uống với tôi tách trà và nếu cần nói chuyện về thơ thoải mái. Cần chi hạ nhau để làm gi?

  • Đặng thanh Tùng viết:

    Đọc “nghĩ về thơ” của tô thẩm huy,
    Trước tiên cho tôi cảm ơn tạp chí Da Màu,cảm ơn tô thẩm huy,cảm ơn phan xuân sinh,cảm ơn black raccơn,cảm ơn quynh thi…
    tôi không hiểu cụ tô thẩm huy có kinh nghiệm nào không từ “hai câu văn” trên,như cụ về sài gòn thể nghiệm,mướn người mù để cụ có kinh nghiệm gián tiếp..hay cụ tin tuyệt đối vào cái cụ thấy từ phim?
    Câu thứ nhất: “Lạy ông đi qua, lạy bà đi lại, xin xót thương kẻ mù lòa”
    Câu thứ hai:“Hôm nay là một ngày đẹp, và tôi không nhìn thấy.”
    Theo phim và theo cụ tô thẩm huy,câu thứ hai mang lại tư bản cho ông “mù”.
    Chúng ta không xét câu thứ nhất,chúng ta xét câu thứ hai: Nó mới qúa đối với ông “mù” phải không? nó mang tính bất cần phải không? nó “thiền” qúa!- Một ngày đẹp trong đôi mắt mù loà! hãy để tô thẩm huy sống cùng đoạn phim thấy sự đổi thay từ lòng người lương thiện…
    có điều:” ,Khi anh chàng Samsonite quay trở lại, ông già mù vừa mân mê đôi giầy của ân nhân vừa lên tiếng hỏi: “Xin ông cho biết ông đã viết gì lên tấm bảng của tôi ?” Câu trả lời: “Tôi cũng viết cùng một ý như ông đã viết, nhưng bằng một cách khác.”,ông già “mù” đã không còn “mù’ nữa.
    Về vụ Bùi Giáng:
    “Bùi Giáng cũng đã từng hỏi liệu người ta có thể dịch một bài thơ tiếng Việt ra tiếng Việt, chẳng hạn như từ một bài lục bát sang một bài thất ngôn ?”
    thưa cụ tô thẩm huy: Cụ viết câu trên hay Bùi tiên sinh viết vậy? Đổi thể thơ từ lục bát sang thể thất ngôn Bùi tiên sinh viết là “dịch”à? Tác giả của “trăng tì hải”,”lá hoa cồn” lẩm cẩm đến thế cơ à?
    Bây giờ tới phần chính từ bài viết của cụ:”“Ý”, vì vậy, không phải là cái làm nên thơ”.Thưa cụ:ý không làm nên thơ thời cái gì làm nên thơ? không có ý thời lời chở cái gì? ý và lời cũng như linh hồn và thân xác,không có cái nọ tất không có cái kia…có điều thơ là một nghệ thuật, biến chữ nghĩa thành thần linh…(hay muốn biến chữ nghĩa thành thần linh).
    Tôi không tin quynh thi “hạ” tô thẩm huy gì đâu,bởi “không biết cái đẹp là gì” thời bàn vào thơ ở khổ nào? Viết như một chia xẻ và trân trọng,viết như một “tâm tình hiến dâng”giữa người và người,giữa ta và đất trời tĩnh mịch.
    Cảm ơn tạp chí Da màu.

  • black raccoon viết:

    Lạy ông đi qua, lạy bà đi lại, xin xót thương kẻ mù lòa.
    Hôm nay là một ngày đẹp, và tôi không nhìn thấy.

    Chỉ đổi cách nói, không đổi ý. Mà kết quả mang lại nhiều hơn. Và theo tác giả TT Huy, chính cách nói mới là điều kỳ diệu của thi ca. Cá nhân tui, tui cũng đồng ý quan điểm này.

    Trở lại đoạn phim ngắn. Người thay đổi cách nói là một anh chàng businessman com lê ca vát từ đầu tới chân. Kết quả đem lại, vì thế, thật dồi dào kinh tế. Giá như một Thiền Giả thay lời tấm biểu ngữ của người ăn xin thì sao ? Tui e là sự tình sẽ khác. Có thể, kinh tế sẽ không dồi dào bằng ông chủ doanh nghiệp.

    Vậy, tui nghĩ, cách diễn tả thật quan trọng. Nó là cái sườn, là hình thức. Còn, tâm thế của chính người bày tỏ, thì là nội dung của cách nói. Điểm này, chữ 志 chí trong quan niệm thi ca xưa “ngôn chí” vẫn còn có ý nghĩa. Làm sao có thể bỏ qua tâm cảm của chính nhà thơ được. Chữ chí là tấm lòng của kẻ sĩ, kẻ sĩ chỉ là người đọc sách Thánh Hiền. Vậy thôi.

    Chí 志, như vậy, cũng có thể hiểu và nói theo một cách khác.

  • Nguyễn Đức Tùng viết:

    Dear anh Phan Xuân Sinh,
    Chuyện cãi nhau như trong bài Tô Thẩm Huy, Quỳnh Thi… hay Trần Hữu Dũng, Trịnh Sơn…không đáng buồn lắm như anh nghĩ đâu, mặc dù bực mình, nổi nóng một lúc chắc khó tránh.
    Cũng có khi có ích cho văn chương.
    Ai cũng ghét người…chê mình, nhưng vài năm sau có khi lại biết cám ơn họ :))

    Nguyễn Đức Tùng

  • Phan Đức viết:

    Anh Đặng Thanh Tùng ơi !
    Bùi Giáng có gọi ‘dịch’ là đổi từ thể thơ này qua thể thơ nọ hay không
    thì nhà văn Võ Phiến cũng từng hiểu như vậy nhưng xét ra cũng chẳng có
    gì mà ầm ỷ cả vì nghĩa của ‘dịch'(Hán) là chuyển,đổi (thuần Việt) !
    Cũng từ chổ dịch này mà ông Võ Phiến bỗng nổi hứng thách ai dịch bài thơ
    “Tống biệt hành”(thất ngôn) của Thâm Tâm ra thể thơ Lục Bát và sau đó tôi
    cũng từng thử dịch bài trên và xin phép đưa lên một vài câu như sau :
    Đưa người không đưa qua sông
    sao nghe tiếng sóng trong lòng mênh mang
    bóng chiều không thắm không vàng
    sao hoàng hôn lại đẫm tràn mắt trong !

    Dịch ở đây đúng là phản…thơ !

  • Tô Thẩm Huy viết:

    Có lẽ điều anh QT cho là thơ, và cái tôi gọi là thơ, là hai điều khác nhau. Cái tôi gọi là đẹp, và điều anh QT cho là đẹp, lại cũng là hai điều khác biệt. Ngôn ngữ xưa nay vốn thường đưa đến ngộ nhận. Biết nói sao. Bốn mùa vẫn vận chuyển. Trời có nói gì đâu…
    Cũng mong anh PXSinh đã hết buồn. Chuyện cũng chẳng có gì, chỉ là sự hiểu lầm cỏn con.
    Huy

  • Lương Thư Trung viết:

    Kính chào anh Tô Thẩm Huy và quý vị,

    Trước hết tôi xin có lời cáo lỗi cùng anh Tô Thẩm Huy (TTH)về bài “Nghĩ Về Thơ” này qua vài ý kiến chắc chắn làm anh không vui. Nguyên nhân vì tôi được anh TTH gởi cho đọc trước, và thấy bài viết công phu với cái nhìn rất thơ, nên tôi đề nghị anh TTH nên gởi lên Da Màu để chia sẻ cùng bạn đọc và bài đã được Da Màu đăng.

    Một lẽ khác mà tôi đề nghị anh TTH gởi bài này là vì theo chỗ tôi được biết,anh TTH kể từ khi báo Văn Học đình bản, anh có viết và dịch rất nhiều bài thơ Đường, như bài viết”Đêm Trăng Hoa Bên Giòng Sông Xuân” của Trương Nhược Hư 張 若 虛 “(Xuân Giang Hoa Nguyệt Dạ 春 江 花 月 夜), rồi anh còn dịch lại Tỳ Bà Hành của Bạch Cư Dị với mục đích mang chữ dùng mới với cái cảm của của người thời nay vào những áng văn cổ bất hủ ấy hầu mang lại cái nét mới trong văn chương cổ điển, nhưng anh không gởi đăng bất cứ báo in hay báo mạng nào, mà chỉ gởi cho vài người mà anh muốn chia sẻ. Tôi thấy những bài viết như vậy mà không phổ biến cho bạn đọc thưởng lãm thì thật là lấy làm tiếc.

    Do vậy, mà tôi phần nào chịu trách nhiệm về những gì làm anh TTH không vui. Một lần nữa mong anh TTH thông cảm và bỏ lỗi cho.

    Trân trọng kính chào anh, và xin cảm ơn quý vị.
    ltt

  • Nguyễn khôi viết:

    Thơ ở trong lòng là Chí, phát ra lời là Thơ (Chí có nghĩa là “dừng” ở trong lòng nên nó được gắn với 2 chữ Tình và Ý)…Bài viết của anh Tô Thẩm Huy là gợi mở một nhận thức mới về thơ , coi “ý” là cửa mở, là cái cớ để làm nên Thơ, và sau cái “ý” ấy chính là “ý tại ngôn ngoại”, cái kỳ bí của thơ là ở chỗ ấy .Các cụ ta xưa rất quan tâm đến “luyện Ý (tạo ý mới, tứ lạ)Bài viết của anh Huy mới là vo tròn khơi khơi về 1 vấn để rộng lớn mà ai đã đi sâu vào nghiệp thơ cũng có thể luận bàn ? có lẽ vì thế mà anh Quỳnh Thi đã có lời hơi nặng về Tô Thẩm Huy ? !
    Còn việc “dịch thơ Việt ra thơ Việt” (chuyển thể) hiện nay cũng đã có không ít người làm, với ý tưởng : thơ anh có ý mới tứ lạ nhưng diễn đạt theo lối “đáy đĩa mùa đi nhịp hải hà ” N.X Sanh)thì chỉ là “thơ ai viết ra người ấy đọc” nên muốn phổ cập thì phải “dịch” lại- thât là một trò chơi ngôn ngữ có khác nào “bạch vân thiên tải không du du” muôn đời còn tốn nhiều bút mực là vậy ! ?
    Hà Nội 28-9-2011
    Nguyễn Khôi

  • Một bạn đọc viết:

    Kính chào ông Đặng thanh Tùng,
    Trong phần ý kiến ngắn bài “Nghĩ về thơ”, ông viết:

    “Về vụ Bùi Giáng:
    “Bùi Giáng cũng đã từng hỏi liệu người ta có thể dịch một bài thơ tiếng Việt ra tiếng Việt, chẳng hạn như từ một bài lục bát sang một bài thất ngôn ?”
    thưa cụ tô thẩm huy: Cụ viết câu trên hay Bùi tiên sinh viết vậy? Đổi thể thơ từ lục bát sang thể thất ngôn Bùi tiên sinh viết là “dịch”à? Tác giả của “trăng tì hải”,”lá hoa cồn” lẩm cẩm đến thế cơ à?”

    Nghe ông hỏi, mà tôi lò mò coi lại sách cũ thì thấy Bùi Giáng viết như vầy:

    “Đừng nói chi tới sự vụ dịch thơ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác. Chỉ thử hỏi: Có thể nào đem thơ Việt, dịch ra trở lại làm thơ Việt được không ? Có thể nào đem thơ lục bát dịch ra làm thơ thất ngôn, hoặc ngũ ngôn, hoặc song thất lục bát, hay là thơ tám chữ ?”

    Câu ấy in trong cuốn “Thi Ca Tư Tưởng” tức “Đi Vào Cõi Thơ” (cuốn hai);do nhà Ca Dao xuất bản 1969, Sài Gòn; An Tiêm tái bản, 1988, Paris, trang 57. ”

    Xin được chép ra và gởi ông có dịp đọc lại .
    Kính chào ông.

  • Nguyễn Đăng Thường viết:

    Thi nhân Việt Nam và độc giả ta đã bị cấy cái giên Ðường Thi nên vẫn coi thơ là một trò chơi chữ nghĩa mà chữ (lời) luôn luôn quan trọng hơn nghĩa (ý).

    Hơn nữa, có thể do mặc cảm “nôm na mách qué” và “lời quê” nên ngôn ngữ đời thường vẫn bị cấm cửa, mặc dù đã có những câu ca dao mộc mạc hồn nhiên xinh đẹp gấp mười lần thơ Lý Bạch, Ðỗ Phủ, Thôi Hiệu.

    Thơ Bút Tre là một bằng chứng hùng hồn cho thấy cái “dở” có thể trở thành cái “hay” trong nháy mắt.

    Nếu dịch thoát thì khổ thơ sau đây sẽ không còn là thơ Ginsberg nữa:

    Come twice at last
    he offers his ass
    first time for him
    to be entered at whim
    of my bare used cock ―
    his cheeks do unlock
    tongue & hand at soft gland
    Alas for my dreams
    my part’s feeble it seems…

    (Nguồn: “Love returned” trong tập PLUTONIAN ODE, City Lights 1982).

    Nếu tách trà chỉ là cái cớ – nghĩa là không quan trọng – cho cô gái/thi nhân/nghệ sĩ mở hé “cánh cửa” giúp lữ khách/độc giả/khán giả có cơ hội nhìn ngắm “cái đẹp” ở đằng sau hay ở phía trước, thì một chén canh hay chén thuốc độc chắc cũng sẽ hữu hiệu không thua?

    Diễn dịch của ông Tô Thẩm Huy về ẩn dụ “trái cây của cây cho biết điều thiện điều ác” trong Vườn Ðịa Ðàng (Eden) và Adam muốn nhìn thấy “cái đẹp” là hoàn toàn sai. Quan niệm của ông về thơ ca, nghệ thuật, âm nhạc cũng không đúng, chí ít là vì chúng không chỉ để cho thấy “cái đẹp”. Ngoài ra, cái đẹp không phải là độc nhứt và hệt nhau cho mọi người, mọi văn hóa, mọi chủng tộc. Ông Quỳnh Thi lên tiếng là đáng khen.

    Mặt khác, một người bình thường cho dù có “ngu” có “mù” thế mấy đi chăng nữa thì cũng có thể nhìn thấy cái đẹp nơi một bông hoa, cái duyên dáng của cô gái láng giềng mà không cần chờ họa sĩ vẽ tranh rồi mới thấy được. Tranh gà, tranh lợn ngày Tết không chỉ là để cho dân chúng thấy cái đẹp mà thôi.

    Vân vân và vân vân.

    Nếu tiện, xin ông Tô Thẩm Huy vui lòng post vài bài Ðường Thi do ông dịch sát (giữ ý) và dịch thoát (chọn lời) cho độc giả Da Màu có thể so sánh. Tranh cãi suông không dựa trên bằng chứng thì chẳng ích lợi gì cho ai.

    Thân ái.

  • Đinh Yên Thảo viết:

    Cách diễn giải của tác giả Tô Thẩm Huy quả ý nhị và thú vị. Và cũng rất tự nhiên nếu có người nghĩ ngược lại. Nhưng buông một lời bất nhã nơi đại chúng thì ắt chẳng phải … thơ hay nhà thơ gì, các anh buồn hay thách đố làm chi.

    đyt

  • Đặng thanh Tùng viết:

    Cùng Phan Đức và Nguyễn Khôi,
    Ông Nguyễn Khôi, ông đã làm mất đi nửa phần “bí Hiểm” của Nguyễn Xuân Sanh rồi – câu thơ đúng của nó “đáy dỉa lần đi nhịp hải hà”, không phải “mùa đi”; bởi “mùa đi” thời bốn mùa hoa trái, còn bí hiểm gì nữa! “bạch vân thiên tải không du du” – trời đưa mây trắng lững lờ trôi; chúng ta có thể thoát nó: “trời đưa mây trắng lững lờ, trôi từ thiên cổ bây giờ còn trôi!”
    Ông Nguyễn Khôi, thật ra, ai cũng có thể bàn “thơ” ông ạ – bằng chứng – tôi cùng ông vẫn bàn “thơ” đấy thôi, còn vấn đề thẩm thấu vào cốt tủy thi ca lại là một vấn đề khác.

    Anh Phan Đức,
    Dịch thơ không hẳn là phản cả đâu, bởi thơ được làm bởi ngôn ngữ mẹ, cho nên nó khó cho người dịch vô cùng – Không phải thi sĩ sẽ không đủ rung cảm để dịch thơ, không uyên áo về ngôn ngữ “mẹ” cũng không thể dịch thơ được anh ạ! Tôi có lần trên Da Màu viết về bốn “nất” – vần,tứ,sương khói và hư không” của thơ; cụ Tô thẩm Huy chính là muốn viết về tầng thứ ba và thứ tư nầy, có điều cụ không nói nó loãng ra nhưng cụ nói nó “mất đi” – loãng ra để tạo thành sương khói-tạo thành thơ; chứ mất đi…(ý tại ngôn ngoại không nằm ở thơ!)

    Theo tôi bốn câu thơ của Thâm Tâm khó tạo thành lục bát – “nắng chiều không thắm không vàng vọt…”nói thật với anh, tôi tin mình nếu nhìn nắng đến một trăm năm, chắc cũng không có cơ hội thấy được màu nắng nầy.

  • Vài suy nghĩ về thơ « Khai Trí viết:

    […] đây anh Tô Thẩm Huy (TTH ) viết bài “Nghĩ  về thơ” trên diễn đàn internet văn học Da Màu. Tôi viết cái comment ngắn: ”Người […]

  • Vài suy nghĩ về thơ | phamdinhtan viết:

    […] đây anh Tô Thẩm Huy (TTH ) viết bài “Nghĩ  về thơ” trên diễn đàn internet văn học Da Màu. Tôi viết cái comment ngắn: ”Người […]

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)