Trang chính » Biên Khảo, Giới thiệu tác giả, Giới thiệu tác phẩm, Phỏng vấn Email bài này

Nhà thơ Nguyễn Hàn Chung và “Nghịch Lưu Của Tuổi” (phần 2/2)

0 bình luận ♦ 13.07.2011

HT:

Anh Nguyễn Hàn Chung,

Qua bài bình bài thơ Xa Cách của Châu Liêm, tôi thấy anh mê chữ “quấn” trong hai câu kết của bài thơ này và anh viết:

và nhất là từ quấn trong hai câu thơ cuối cùng;
’Quấn bàn tay lạnh trong tà áo

Từ nay xa cách mấy con sông’’

Động từ quấn bình dị dân dã mở đầu đoạn kết lại có độ hút mà trộm vía tác giả  tôi thiển nghĩ chính anh cũng đâu có ngờ trong suốt hơn ba mươi lăm năm làm người thầy giáo dạy văn tôi đã dẫn dắt các em học sinh chuyên văn quê nhà bình nhãn tự trong các câu thơ ấy. Tôi đã cho các em đưa từ xế, quấn vào trong một trục với các từ đồng nghĩa hoặc gần nghĩa chẳng hạn để thay thế cho các từ ấy nhưng các em và cả người thầy đều bất lực” (Bốn mươi năm mang mang hồi ức)

Và rồi tôi lại lần dở những trang thơ của anh, tôi lại thấy anh có câu thơ này với chữ quấn rất điệu nghệ :

“Quấn lòng anh trong tà áo em đi

Tay ram ráp bụi đường xa thiếu bạn

Anh rớt cuối bươn tràn qua vận hạn”

(À ơi điệu cũ, NLCT, trang 7)

Ngoài ra, qua 136 trang sách với 72 bài thơ , dù tập thơ rất mỏng như vậy nhưng theo thiển ý của tôi, thơ anh có mấy nét chính sau đây:

1/ Anh có cách cắt, ráp các chữ trong các điển tích làm thành nhóm chữ mới để anh diễn tả những suy nghĩ của anh qua các câu thơ mà anh muốn viết rất công phu. Do vậy, chữ dùng của anh lạ, khô, rất khó đọc nhưng nhờ nó hàm chứa nhiều trăn trở qua chính những bước chân lưu lạc, thăng trầm trong dòng đời của chính tác giả và nhờ tài pha chế đôi chút gia vị châm biếm nhẹ nhàng, dí dỏm, không ác ý, nên nếu ai chịu khó đọc được vài bài thơ đầu rồi thì sẽ thấy thích, và lần lần đọc tiếp cho tới hết dòng thơ cuối cùng sẽ nhận ra thơ Nguyễn Hàn Chung chan chứa biết bao trăn trở về thân phận con người giữa dòng đời với một người không còn trẻ trung gì mà rồi còn phải lo bươn chải trèo lên từng bước chân một trên những triền dốc ngược…

2/ Về ý thơ, phần lớn thơ anh là có chủ đích “nghịch”“phản”. Tất thảy những bài thơ của anh lấy cảm hứng từ đáy lòng anh đã đành mà nó còn khắc họa lại những ngang trái mà anh bắt gặp, trong văn giới cũng như ngoài đời. Những “nghịch lưu”, “nghịch âm”, những “phản ca”, “phản cảm”, “phản tuyên ngôn thơ”, những “biến dị”, “hành”, “hèn ta thơ”, “mé”, “cảm thức mé” và mỗi mỗi chữ anh dùng không đơn giản chỉ là chữ, là ý, là thơ, là thẩn một cách bình thường mà là những dòng máu trong anh cứ “chảy ngược” như “nước chảy ngược” của một dòng sông phải chảy qua nhiều tảng đá ngầm nằm sâu trong đáy sông của mình. Thành ra, nếu tôi không lầm, anh rất cô đơn dù anh có rất nhiều bạn cũ và mới như trong trả lời của anh ở câu đầu tiên: ”Thôi kệ rứa mà vui, mà có bạn bầu tứ xứ”; nếu không muốn nói là anh chưa tìm được người đồng điệu, tri âm, tri kỷ, ít nữa là đồng điệu trong cách suy nghĩ, trong cách diễn đạt, và cả trong cách giải trí giản dị nhất mỗi ngày là anh muốn làm cho thơ mình khác với cái cũ… Và nỗi cô đơn đó, nó còn để lại rất rõ trong câu thơ mà tôi vừa nhắc bên trên:

“Tay ram ráp bụi đường xa thiếu bạn

Anh rớt cuối bươn tràn qua vận hạn”

(à ơi điệu cũ, NLCT, trang 8)

hoặc trong một bài khác:

“Không đủ lực đợi những cái chớp mắt biến ảo

mặc những cơn gió quậy phá

quẫy đạp đi tìm di chỉ cánh đồng

cánh đồng xanh mơ ở đâu?

anh mải mốt chạy marathon tìm em mệt nhoài ký ức”

(Canh giấc cánh đồng, NLCT, trang10)

hoặc trong bài “tha phương không tám” có đoạn:

“Thì cứ tống cứ tan ngần ấy tuổi

Biết cùng ai chia sớt chuyện buông tuồng

Chiều tới sáng lục tìm mưa cắm cúi

Ngón với bàn ngong ngóng đến thê lương

Gần rất lạ xa tới tầm tay với

Sợi mong manh riết róng cột âm thầm

Lầu cây khế leo tấm thân chùm gửi

Nhướng lên mù thấy rõ một xa xăm

Vẫn mụ mị lùng bùng cơn cớ trước

Và ngơ ngơ ngác ngác những phương chiều

Mùa không hắt tia nắng vàng, vô phước

Kẻ điêu nào còn léo hánh cô liêu”

(bài tha phương không tám, trang 12)

Hoặc như “bước qua thì cũ mới”, anh viết :

“bơi trên sóng sợ sông dài khủng khiếp

thấy lăn tăn đã hú ba hồn bảy vía hà bá ma da

muốn tháo chạy lên bờ ngặt dưới thân toàn nước

cõi trăm năm hơi đâu đủ sức dài cút bắt khánh tận nỗi buồn

mặc cho gã niềm vui đê hèn thiêm thiếp

chắc chắn có kẻ sẽ gõ cửa cho em lách váy vào thiên thu

dọn sẵn một chỗ tinh tươm chơi trò rơi ngược

nhưng bây giờ có lẽ chỉ một mình anh đang bơi

các em còn bận lau bàn chân ướt”

(bước qua thì cũ mới, NLCT, trang 20)

Và còn nhiều lắm những vần thơ mang mang nỗi cô đơn hiu quạnh một bóng hình ngược nước ấy mãi hoài, không kể xiết …

Là tác giả của những bài thơ “nghịch lưu” này, anh nghĩ sao về mấy ghi nhận nông cạn, thô thiển của một người đọc già lười suy nghĩ như tôi, thưa anh?

NHC:

Anh Hai Trầu ơi!
Anh đã  chịu khó trải lòng mà thẩm thấu thơ NHC nói chung và NLCT nói riêng đó là  sự mừng vui mong ước rất lớn không dễ gì đạt được của người cầm bút nghịch lưu nầy. Nhất là thơ trong NLCT đúng như anh nhận xét: khô, nghịch nhiều ý còn hàm hồ nữa. Vô cùng trân quý những nhận xét tinh tường của anh giúp NHC bừng ngộ nhiều điều trong trò chơi con chữ gian nan  khổ ải nầy. Rất mong nghe được những lời bình sâu, chân xác hơn nữa của anh cũng như bạn đọc về tập thơ NLCT. Điều người làm thơ  hãi sợ nhất khi trình thơ ra làng đã được NHC thắc thỏm trong mấy câu cuối bài làm thơ và múa dao. Xin được mạn phép lặp lại :

”làm thơ khác gì múa dao
    nghề càng tinh
    càng mệt nhoài số kiếp
    cùn tóc râu
    thương tích ngữ ngôn
    hãi sợ rụng vào trăm năm mất biệt”
NHC cả nghĩ: thơ đừng mất biệt  trong cõi vô tăm là hạnh phúc không tưởng của bất kể nhà thơ nào? Có phải thế không anh!
Nguyễn Hàn Chung xin kính gửi đến anh Hai Trầu lời cảm tạ tri âm nhất.


HT:

Anh Nguyễn Hàn Chung,

Tôi xin được nêu lên một ghi nhận thứ ba nữa trong cách viết tên người, tên nhân vật trong các bài thơ mà anh đề cập tới họ; đó là anh không bao giờ viết chữ hoa, dù anh có cố ý nhắc những tên người, những nhân vật ấy, nhưng anh cứ phớt lờ đi, coi như đó chỉ là những chữ bình thường không lấy gì làm quan trọng cho lắm với mục đích là anh muốn dẫn người đọc đi qua một hướng khác không có ai trong thơ anh ráo trọi.

Điều này, anh làm tôi nhớ hồi còn đi trọ học, tôi thường phụ với chủ nhà vô lò nấu heo thợ bạc. Xin kể anh nghe diễn tiến công việc này như sau. Dân chuyên nấu heo vàng họ đi gom mua khắp Sài-Gòn Chợ-Lớn những bụi vàng nơi các tiệm thợ bạc. Gom về như vậy mỗi ngày và trong vòng vài ba tháng, số lượng heo vàng này đủ vô một lò thì bắt đầu vô lò. Trước tiên người ta đem mấy heo thợ bạc này ra trộn với cát nhuyễn và bỏ vào mấy ống vót nắn bằng đất sét trắng đã phơi khô lâu ngày, hình dáng mấy ống vót này giống như hình dạng trái bầu cắt ngang trên mặt. Vô ống vót xong xuôi đâu đấy người ta mới sắp xếp những ống vót này thẳng đứng trong lò đúc bằng xi măng; giữa những ống vót người ta bỏ xen kẽ những cục than đá vừa giữ cho các ống vót thẳng đứng, vừa giúp khi đốt lò lửa than đá sẽ làm cho cát và vàng trong ống vót chảy ra. Sau khi lò đã vô đủ số lượng ống vót heo thợ bạc cho một kỳ nấu heo như vậy, người ta bít nắp lò lại và mồi lửa đốt lò. Khi lửa cháy thì than đá trong lò bắt đầu cháy theo và đốt như vậy trong vòng năm ba ngày, có khi một tuần và coi khói trong lò lên màu trắng là bắt đầu bịt miệng lò lại, vì khói trắng là dấu hiệu các chất tạp đã cháy sạch hết rồi; rồi chờ khi nào lò nguội, chủ lò mới khui nắp lò và lấy các ống vót ra. Khi lửa cháy cát và vàng cùng chảy. Vì cát nhẹ hơn vàng nên cát chảy thành thủy tinh, nằm bên trên và vàng nặng hơn cát nên vàng nằm dưới đáy ống vót. Lúc bấy giờ chủ lò mới lấy búa đập ống vót và lấy vàng dưới đáy. Xong đâu đấy, người ta mới dùng acid HCL hoặc acid H2SO4 phân kim số vàng này để lấy ra bạc và vàng nguyên chất.

Sở dĩ tôi kể dông dài với anh về việc nấu heo thợ bạc và phân kim vàng là tôi muốn ví công việc anh viết tên các nhân vật dù quen hay chưa quen đều viết ở dạng chữ thường, giống như anh muốn pha trộn giữa cát và vàng rồi cho vào lò lửa và rồi vàng và cát sẽ nhờ lửa mà phân biệt được đâu là cát đâu là vàng. Phải chăng đó cũng là cách chơi chữ với nhiều dụng công của anh không, thưa anh Nguyễn Hàn Chung?

NHC:

Kính anh Hai Trầu !
Anh có lối ví von sao mà thâm thúy rứa! Chẳng qua là một thủ thuật để tránh những phiền phức có thể xảy ra thôi anh à. Động đến tài thì không sao chứ đụng đến tật các ông nhà thơ, nhà văn là lắm chuyện. Tôi dụng cách viết như vậy để có đường mà biện bác sau nầy nếu ai dó có chất vấn: tại sao và tại sao? Một số bài dạng nầy đã lên
damau.org. Người đọc cũng comment lủ khủ đó anh. Hơn nữa mình chỉ cảm một mé chân dung sao dám chính danh, chứ có đãi cát đãi vàng chi mô mà anh nói quá lên rứa. Mà thật ra cũng vui thôi, nào có ác ý với ai đâu!

HT:

Thưa anh Nguyễn Hàn Chung,

Sao tôi cứ miên man nghĩ về cái tựa “Nghịch lưu…” của anh hoài. Như anh biết quê tôi vùng sông nước miền Tây, nên đi đâu cũng gặp sông, gặp rạch, gặp kinh, gặp mương, gặp cồn, gặp bãi, và dường như chỗ nào quanh quanh nơi mình ở cũng nước là nước, mát lạnh cả một vùng… Thành ra nhà nhà đều phải có ít nhứt là một chiếc xuồng để đi lại trong vùng, khi lên ruộng, lúc ra chợ, hoặc cần đi cánh đồng xa xa giăng câu giăng lưới cũng phải nhờ tới chiếc xuồng. Việc nào cần chuyên chở hơi nhiều nhiều một chút thì người ta còn phải có chiếc ghe. Ghe thì có chiếc chở năm ba chục gịa lúa, có chiếc chở cả mấy trăm giạ lúa trở lên. Còn chở đá, chở gạch, chở cát, chở cây, chở gỗ thì ghe lại càng lớn hơn nữa như ghe cui, ghe cà dom, ghe chài, ghe mui lón, chẹt, sà lan và nhiều thứ lắm… Vì đi theo sông, theo nước như vậy, nên dân quê tụi tôi phải lựa con nước mà đi. Khi nào nước xuôi thì nhổ sào bơi theo nước cho đỡ tốn sức bơi chèo và khi nào nước ngược thì tấp xuồng ghe vô bờ nổi lửa nấu cơm ăn uống no bụng rồi nằm nghỉ chờ nuớc xuôi đi tiếp cho tới khi về tới bến, tới bờ mình định tới… Tôi còn nhớ hồi học các lớp Sơ Đẳng Tiểu Học, rồi Tiểu Học Bổ Túc những năm 1940, trong các lớp học vách lá nghèo nàn nơi các làng quê thường hay treo câu cách ngôn: ”Học như chèo thuyền ngược nước, không tiến ắt phải lùi”. Nay nhớ lại anh có hơn ba mươi lăm năm dạy học, có lần nào anh dạy học trò câu ngạn ngữ này không, thưa anh?

Buổi trò chuyện với anh tới đây kể cũng đã dài dù tôi còn muốn hỏi anh thêm nhiều điều nữa về tập thơ “Nghịch Lưu Của Tuổi”, bởi ở đó còn nhiều chữ anh dùng mà tôi chưa hiểu hết nhưng sợ anh không có nhiều thời giờ, nên đành hẹn lại với anh vào dịp khác vậy. Xin chân thành cảm ơn anh đã giải đáp cho các thắc mắc trong cuộc trò chuyện này rất tận tình. Kính chúc anh có nhiều hứng thú trong con đường ‘nghịch lưu” của mình và chúc anh cùng gia đình nhiều sức khoẻ, vạn an.

NHC:

Kính anh Hai Trầu,
Qua cuộc chuyện trò thật lý thú giữa ông Hai Trầu và gã Trai già Quảng Nam nầy NHC rút tỉa ra được nhiều điều cần phải hoàn chỉnh hơn khi đưa tập thơ
Nghịch lưu của tuổi  tới nhà in. NHC rất trân quý tình cảm trọng thị văn chương của anh nên phải vắt hết tinh lực để trả lời những chất vấn sát sạt của anh về những vấn đề xung quanh đời thơ NHC cũng như NLCT. Có gì NHC trả lời còn hàm hồ, chung chung mong anh thông cảm thứ lỗi vì không thể làm gì khác hơn. Nghịch lưu của tuổi để mong được hợp lưu của đời chứ chẳng ai muốn ”nghịch thiên giả vong” đâu anh. Nhưng anh ơi lắm khi phải chấp chịu mất để mà còn… NHC còn chờ anh vấn nữa nhưng  rất tiếc anh đã tuyên bố ngưng nghỉ rồi nên thôi chờ dịp khác vậy. Một lần nữa Nguyễn Hàn Chung thành thật tri ân anh đã quan tâm nhiều đến tập thơ đầu tiên trên đất Mỹ của NHC.
             Kính gứi đến anh chị lời chúc sức khỏe . Nhân biết anh say mê hoa trái, hằng ngày cặm cụi bên luống cỏ, chùm hoa NHC quý tặng anh mấy câu cũng để tạm kết cuộc trò chuyên rất  thú vị và bổ ích nầy: 
                       Cầm trong tay
                       một chùm hoa
                       Sắc màu tươi
                       có phôi pha một vài…
                       ném tung
                       vào
                       cõi trần ai
                       Mầm xanh
                       từ cánh hoa phai
                       cứa mình
Thành thật cám ơn anh vì những trao đổi rất bổ ích chung quanh  bản thảo tập thơ  NLCT của NHC.

HT:

Anh Nguyễn Hàn Chung,

Một lần nữa cảm ơn anh viết tặng cho mấy vần thơ mang chút triết lý về nhân sinh, về cuộc đời nhiều ý nghĩa và cầu chúc anh cùng “Nghịch lưu của tuổi” luôn có mặt giữa dòng đời luôn dời đổi này …

Ngày 25-5-2011

bài đã đăng của Hai Trầu


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)