Trang chính » Biên Khảo, Văn hóa Email bài này

An Giang, một vùng cổ tích ở phương nam (kỳ 2/2)

 

 

[TIẾP THEO]

Để trở lại con đường số 9 về Châu Đốc, bạn sẽ qua khỏi cua Mặc Cần Dưng đến Năng Gù, một xóm đạo lớn nhất An Giang này. Và chính vị cố đạo Conte coi nhà thờ Năng Gù, vào năm 1891 đem một giống lúa ở Cao Miên về đây gieo giống thử. Nó sống và lên theo kịp nước lụt, nên người Pháp gọi là lúa nổi (riz flottant), còn người Việt mình gọi là lúa mùa, lúa sạ (5) vì giống lúa này chỉ cần cày bừa rồi chờ mùa mưa xuống là sạ, rồi chờ đến mùa lúa chín là cắt gặt và mỗi năm chỉ làm lúa một mùa duy nhất mà thôi (sạ vào tháng Ba, tháng Tư, cắt gặt tháng Chạp, tháng Giêng âm lịch).

Tại Năng Gù này, nếu bạn xuống đò đi ngang qua dòng An Giang bạn sẽ đến những ngôi làng trù phú trên các cồn cát với rẫy đậu, bắp, thuốc lá cùng vườn cây ăn trái, ruộng lúa. Những cù lao trên dòng sông Cửu Long trong địa phận An Giang này thật sự là một thánh địa với ngôi làng Hòa Hảo, làng Hưng Nhơn, quận Chợ Mới, với xã Mỹ Hội Đông, Nhơn Mỹ, Long Kiến, Mỹ Luông, cù lao Ông Chưởng, cù lao Ông Hổ, cù lao Giêng với xóm đạo Công giáo và trại mồ côi khá lớn được tạo dựng từ lâu đời. Riêng Cù Lao Giêng, vào những ngày gần cuối năm 1967, chúng tôi có dịp theo phóng viên Việt Tấn Xã đến thăm trại cô nhi cùng xóm đạo này, nhờ vậy mới thấy vùng đất An Giang, đâu đâu tình thương yêu cũng tỏa ra như một vùng đất thánh. Ngay địa phận hai xã Hòa Hảo và xã Hưng Nhơn, trên Chợ Mới một đỗi, sông Tiền Giang phía Tân Châu và sông Hậu Giang phía Châu Đốc ăn thông với nhau bằng con sông Vàm Nao có bề ngang rộng đến hơn hai cây số với lưu lượng nước rất mạnh và những giòng nước xoáy ngầm làm xụp lở bờ sông mỗi ngày mỗi lớn thênh thang. Nơi đây thường xảy ra những cảnh chìm ghe chết người vào những mùa giông mưa, bão tố mà hồi còn nhỏ chúng tôi thường nghe ông bà xưa kể lại tại Vàm Nao này có ông Năm Chèo nuốt vào bụng nhiều mạng người mỗi lần ghe xuồng qua sông trên khúc sông sâu và rộng bao la với sóng to gió lớn vào mùa gió chướng. Sông Vàm Nao, theo tương truyền, vào thời cụ Thoại Ngọc Hầu đào kinh Rạch Giá-Long Xuyên và kinh Vĩnh Tế (đời vua Gia Long), chỉ là một con rạch nhỏ nhưng rất nhiều cá sấu (6), nên việc qua lại vùng này vô cùng ghê rợn. Nhớ hồi còn nhỏ, mỗi lần trẻ con khóc mà dỗ hoài không nín, chỉ cần người lớn dọa:” Còn khóc, ông Năm Chèo nuốt vô bụng” là đứa bé nín liền.

 

clip_image002

Bắc Vàm Nao (Chợ Mới, An Giang)

 

Nhắc cù lao Ông Chưởng là nhắc cụ Chưởng Binh Lễ, người có công trong việc đánh tan giặc Xiêm và giặc Miên cùng với Đốc Binh Vàng vào năm 1837, nhưng cả hai ngài đều tử trận và để tưởng nhớ công đức, hai ngài đều được triều đình phong làm Phúc Thần và được dân chúng lập đền thờ, cúng tế trang nghiêm, cùng đặt tên các kinh rạch, cù lao, đường xá, trường học tại địa phương. Chúng tôi ghi lại câu ca dao này để các bạn biết cả một vùng sông rạch này cá tôm nhiều vô số kể:

Chiều chiều quạ nói với diều,
Cù lao Ông Chưởng còn nhiều cá tôm.

Trên dòng An Giang mà bạn đang theo dòng, vào mùa nước giựt, bạn sẽ thấy hàng hàng lớp lớp những dề lục bình trôi bềnh bồng trên dòng nước xuôi về hạ nguồn với những cánh hoa màu tím đung đưa trong gió, mang mang nỗi buồn về những mảnh đời vô định không bến, không bờ.… Thời Pháp đô hộ có cả những thây ma bị Tây giết thả trôi sông tấp theo những dề lục bình.… Rồi chợt nhớ về những vần thơ của một thi sĩ thời tiền chiến đã cảm hoài:

Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu,
Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều.
Nắng xuống, chiều lên sầu chót vót,
Sông dài trời rộng, bến cô liêu.
Bèo giạt về đâu hàng nối hàng?
Mênh mông không một chuyến đò ngang.
Không cầu gợi chút niềm thân mật,
Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng…
(Huy Cận) (7)

 

Trở lại bến đò Năng Gù, mới bạn về thăm Châu Đốc với biết bao cảnh đẹp. Nhưng có lẽ từ trên bờ sông Châu Đốc được cẩn bằng những thềm đá xanh cao vòi vọi mà dòng nước tháng Giêng thăm thẳm dưới xa kia cho bạn nhận ra lời ví trong ca dao gần gũi bạn hơn: “Đèn nào cao bằng đèn Châu Đốc…”

 

 

clip_image006

Đường xuống dốc bên hông lăng Thoại Ngọc Hầu
(Châu Đốc, An Giang)

 

clip_image008

Bồ Đề Đạo Tràng (Châu Đốc)
(Nguồn: Hình do ĐD& LT chụp năm 2005, TSCĐ)

 

Chợ Châu Đốc thời xa xưa có đặc điểm là chuối thường để nguyên quầy, không cắt ra từng nải một và dù ban đêm nhưng chuối vẫn treo đầy trong các sạp, không cần phải dọn dẹp và sáng hôm sau lại bán tiếp tục mà không bị mất cắp. Dĩ nhiên bạn nên mua vài keo mắm thái, mắm trèn ngon ơi là ngon để làm quà cho bạn bè. Tại đây bạn có thể đi thăm Bồ Đề Đạo Tràng ngay trong thị xã, thăm Núi Sam với thánh miếu Bà Chúa Xứ, lăng cụ Thoại Ngọc Hầu, chùa Tây An. Nhưng với Châu Đốc, có lẽ cũng xin nhắc cùng bạn nơi vùng đất thuộc An Giang này có những mùa nước lên ngập lút các đường phố vào những năm 1960, 1961 qua một vài tấm hình nước ngập tràn bờ bên cạnh như một dấu tích một thời. Bạn đừng ngại, ngày xưa vùng An Giang này hằng năm nước đều lên như vậy, và nhờ nước lên đồng ruộng mới được bồi đấp phù sa mà xanh tốt, cá tôm trên sông trên đồng mới hè nhau làm vui bụng dân nghèo sống bằng nghề câu lưới tới mãn mùa….

 

clip_image010

Công viên Châu Đốc ngập lụt năm 1961(Nguồn: TSCĐ)

 

 

clip_image012

Đường Bạch Đằng (Châu Đốc) mùa nước lụt năm 1961.
(Nguồn:TSCĐ)

 

 

clip_image014

Thị xã Châu Đốc mùa nước lụt năm 1961 (Nguồn: TSCĐ)

 

Nếu bạn theo con đường liên tỉnh lộ dọc con kinh Vĩnh Tế để về thăm Ba Chúc mà từ những năm xa xưa cách nay hơn năm mươi năm chúng tôi đã đến vùng này vào lúc Ba Chúc bắt đầu được khai mở làm thành “khu trù mật”. Rặng núi nằm chắn một vòng thật dài như một thành lũy ngăn bước gây hấn của quân Miên có tên là Bảy Núi in hình lên nền trời thật hùng vĩ. Chúng tôi không có dịp đi hết qua các ngọn núi này nhưng ông bà xưa có kể tên các ngọn “Thất Sơn” này như sau, xin ghi lại cho bạn: Núi Két, Núi Cấm, Núi Bà Đội Om, Núi Voi, Núi Dài, Núi Cô Tô, và Phụng Hoàng Sơn.

 

 

clip_image016

Đường vô núi Sam (Châu Đốc) ngày xưa. (Nguồn: TSCĐ)

 

 

Việc đặt tên các núi, ông cha xưa thường căn cứ vào hình dáng ngọn núi mà đặt tên, nên mới có những tên núi như những hình ảnh vừa kể mà ai ai cũng nhận ra được. Thất Sơn là một vùng với nhiều giai thoại huyền bí nhưng có lẽ những người Việt bị giặc Miên giết chết năm Pôn Pốt tràn qua còn để lại nhiều sọ người chất cao như núi tại một ngôi chùa là một trong những niềm đau xót mà chúng ta cần chia sẻ. Xin các bạn dành một phút để mặc niệm những oan hồn của đồng bào xấu số chết tức tưởi nơi vùng biên cương này khi đất nước quá nhiễu nhương!

Tại bến đò Châu Giang, ngày xưa ấy, bạn sẽ bắt gặp các cô học trò đi học bằng đò chèo qua sông giữa sông nước mênh mông. Những bông hoa biết nói ấy ngày nay có lẽ tuổi đời đã chồng chất nhiều rồi nhưng họ đã có một thời làm nên nét đẹp vùng châu thổ ấy, tuyệt diệu biết dường nào!

Rồi qua vài con rạch nhỏ, không đi học bằng đò, các cô nữ sinh ngày xưa với tà áo dài trắng thanh khiết, thướt tha, họ bước chân lên những nhịp cầu tre lắc lẻo mà tâm hồn thiếu nữ man mác trữ tình. Cầu khỉ và bóng dáng nữ sinh một thời áo trắng làm bức tranh quê vùng An Giang thêm đẹp lạ kỳ! Phải thế không bạn?

 

 Cầu khỉ An Giang
(Nguồn: Viễn Đông Daily News)

 

 

Nếu bạn đi thêm mười bảy cây số về hướng Đông, bạn sẽ gặp một thị trấn tơ tằm và buôn bán phồn thịnh nằm bên bờ sông Tiền: Chợ Tân Châu. Tân Châu nổi tiếng với hàng lãnh Mỹ-A, hang Cẩm-Tự đen tuyền nhuộm bằng trái mặc nưa, một loại hàng thông dụng khắp từ miền Lục Tỉnh đến Sài Gòn và cả miền Trung. Dòng sông Cửu Long nước chảy xiết, rộng thênh thang. Xa xa bạn sẽ nhìn thấy những tàu buôn ngoại quốc đang buông neo sừng sững ngoài khơi như những cù lao, cồn cát. Vì là con đường giao thương qua lại quốc tế, nên Tân Châu như một thương cảng vùng nội địa của An Giang khi tàu buôn dừng lại. Do đó có những mặt hàng ngoại quốc ở Tân Châu tràn ngập mà các nơi khác không có nên càng thu hút nhiều người buôn bán từ các nơi khác đổ xô về làm cho chợ Tân Châu lúc nào cũng nhộn nhịp. Nhưng “tang điền biến vi thương hải” vì dòng nước chảy xiết, cả con đường Bạch Đằng với khu chợ náo nhiệt ngày nào đã bị chìm theo dòng nước cuốn trôi mất hút từ lâu rồi. Giờ chỉ còn một khu hoang vắng ngậm ngùi, những căn phố, những viên đá xanh lót đường ngày nào thăm thẳm chìm vào lòng sông vô định qua từng mùa nước dâng, nước cạn.… Khu chợ Tân Châu mới thì dời về sân banh còn buồn xo như chưa kịp lay hồn tỉnh dậy.… Rồi vàm kinh Vĩnh An Hà ngày xưa sâu là thế mà ngày nay vàm kinh cũ cũng đâu rồi một thuở đầy tràn những mùa nước kinh xưa?

 

clip_image020

Vàm kinh Vĩnh An Hà (Tân Châu- An Giang)
những ngày chưa bị lấp

 

Chợt nhớ mấy câu thơ của cụ Tú Xương:

Đêm nghe tiếng ếch bên tai,
Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò!

 

 

clip_image022

Ghe cui trên sông Tiền Giang (Tân Châu-An Giang)
mùa nước tháng 9 âm lịch

 

 

Về Tân Châu bạn sẽ gặp những bè cá trên sông, những con cá he nghệ vàng nghín, cá ba sa đầy mỡ. Xuống Long Sơn, trên con đường đi về Hòa Hảo, bạn sẽ vui với mùa nhãn chín thơm đầy vườn bên tiếng chim gọi nhau líu lo xào xạc, nhớ câu thơ của Tế Hanh trong bài thơ Vườn Xưa đầy tình tự:

Hai ta như sen mùa Hạ, cúc mùa Thu,
Như tháng mười hồng, tháng năm nhãn,
Em theo chim em đi về tháng Tám,
Anh theo chim cùng với tháng Ba qua.

 

Nhưng có lẽ cũng xin mời bạn đọc bài thơ của Nguyễn Hải Thệ (còn có bút danh Ngy Do Thái), nhà thi sĩ vùng Long Sơn (Tân Châu), viết về bến nước Tân Châu:

 

Sáng ra hỏi thăm dòng sông Trước
Ngó lên Nam Vang trùng trùng sóng nước
Bến Tân Châu bụi nắng long lanh
Trăm chiếc lá non rung rinh đầu cành
Ta mở lòng ra với trời xanh biếc
Hít thở không khí căng đầy lồng ngực
Đàn chim ríu rít theo đuổi bình minh
Lẽo đẽo bờ sông anh theo đuổi em

Và bài ngợi ca Châu Đốc:

Đêm về ngó ngọn đèn cao Châu Đốc
Dòng sông sau biêng biếc trời xanh
Nước trong mát ngọt thơm lành
Thuyền lênh đênh chở hoàng hôn bỏ lại
Tuổi trung niên dong bườm ra Đông Hải
Màu hoa vàng xưa đã chết trên ngàn
Câu điệu lý như mây quờ bóng trăng
Hồn ta chất ngất tình quê núi
Ngó đỉnh Thất Sơn vòi vọi
Đất lành chim đậu cành cây
Miền Viễn Tây nghi ngút sương bay
Trời với đất không còn phân ranh giới
Bờ với cõi viên dung giềng mối
Ta và em hiệp một trong nhau
Càn khôn phôi dựng xuân đầu
Em về mắt biếc nguyên màu biển xưa
Gót sen cỏ rộng đong đưa
Cành chim lá gió hai bờ ngửa ngang
Lục bình man mát Phương Nam
Thuyền qua Châu đốc lộng tràng giang em
Bàn tay thon lá cỏ mềm
Hiển hoa trăng ngọc lộ nguyên Nguyệt Hằng.
(Châu Đốc Quý Sửu 10/1973) (8)

Tân Châu còn là rừng mía chạy mút tầm mắt, những vạt mía thơm diệu, mía tây, mía huê kỳ, mía cọ cho nhiều đường ngọt lịm…

Trước khi bạn trở lại Sài Gòn hoặc về miền Cần Thơ, Cà Mau, xin mời bạn trở lại thăm hai vùng thân quen một thời của An Giang ngày xưa, giờ đã thuộc về hai tỉnh khác. Đó là Thốt Nốt thuộc Cần Thơ và Lấp Vò thuộc Cao Lãnh (Đồng Tháp). Giống như hai đứa con gái mẹ cha phải gả đi xa, cư dân Lấp Vò và Thốt Nốt luôn nhớ về An Giang không muốn rời căn nhà thân yêu cũ. Cực chẳng đã, phải dính líu đến giấy tờ hành chánh, nhưng kỳ dư mọi giao dịch, mua bán, thăm viếng họ đều gần gũi với An Giang hơn nhiều và lúc nào cũng tha thiết. Thốt Nốt cũng giàu có với lúa, với vườn và tháng mưa, lúa hột phơi đầy trên con lộ số 9 về hướng Cần Thơ mà mỗi lần xe chạy qua nghe rào rào dưới lườn xe vùn vụt. Còn Lấp Vò thì có nhiều trăn trở, đau buốt riêng của nó so với các nơi khác ở quanh vùng này. Bạn có tưởng tượng trong nhà lồng chợ Lấp Vò, thời thuộc Pháp, nhiều người bị Tây bắt chặt đầu, xác thả trôi sông và lấy đầu treo đầy cây tre trong nhà lồng chợ . Ngày xưa, nghe ông già bà cả kể, nơi chợ quận này có thằng Tây ác dữ lắm, biết bao gia đình là nạn nhân của nó, bị chặt đầu mà kinh hồn.

 

clip_image024

Ngã ba vàm Tân Bình và Xáng Lớn (Lấp Vò, Sa Đéc)

 

 

Nếu bạn qua sông bằng con đò chèo nơi bến đò Chợ Cũ để về Cái Tàu hoặc bạn bắt đầu rẽ tay mặt nơi có ngôi nhà xưa của anh Sáu Louis chuyên chụp hình rất đẹp nằm cạnh bến đò vào những năm 1950-1960 để về làng Tân Bình, Bồ Hút, Gia Vàm, Thủ Ô, lúc bấy giờ nơi bến sông này có ông Tú Thường mưa nắng bao mùa chèo đò đưa rước khách sang sông và bạn bồi hồi nhớ lại câu ca vọng cổ ngày nào và nhớ về một kiếp người lăn lóc cùng sông nước qua bao mùa mưa nắng:

Còn nước mơ màng mây vẩn vơ
Thì còn ông lão với con đò
Có tiền mua lấy vài chai rượu
Nhắp rượu xong rồi lão nói thơ

 

Thơ Vân Tiên

Linh đinh trời rộng sông dài
Đò ngang một chiếc lần hồi sớm trưa
Chiều rồi nghỉ một chuyến mưa
Nằm nghe lá rụng như mưa trên đò
Cơm ngày hai bữa cầu no
Dám đâu bàn chuyện cơ đồ viển vông
Đời này có cũng như không
Sớm còn tối mất bận lòng mà chi

Nói lối:

Còn nước còn non thì nơi bến cũ vẫn còn trơ một ông lão …

1. … đưa đò. Sông nước miền quê như say theo tiếng hát câu hò. Trên con thuyền cũ kỹ ai muốn sang bến sông này lão đưa rước giùm cho, tiền bạc trả công chẳng nệ ít hay nhiều, lão chỉ cần ngày hai bữa mà thôi, bởi lão đây yêu quý con đò như thiên hạ họ yêu một người tình lý tưởng …(9)

Và rồi bạn chợt nghe một điệu hò quen thuộc của ông lão chèo đò mà như tiếng vọng từ trái tim mình:

Hò ơ…
Nước giữa dòng có khi trong khi đục
Người ở đời có lúc nhục lúc vinh
Gẫm ai vô sự như mình
Đò ngang một chuyến
Hò hơ …
Đò ngang một chuyến mặc tình nắng mưa .(10)

Tiếp tục, xin được mời bạn đi theo con đường lộ đá cũ lồi lõm này, bạn sẽ về Cái Tàu Thượng, Tòng Sơn nơi sanh quán của Đức Phật Thầy Tây An. Ngôi chùa Tòng Sơn bên dòng sông Cửu Long, cách Cái Tàu Thượng vài ba cây số về hướng Đất Sét Nhỏ, là một ngôi cổ tự mà nhiều thập phương bá tánh về đây hành hương, cầu nguyện Phật Thầy. Nhưng có lẽ bạn sẽ qua rạch Xẽo Môn, nơi ngày xưa trồng khoai môn nổi tiếng vùng này, nơi mà Phật Thầy trị bịnh, cứu nhơn độ thế làm cho nhiều người khỏi chết vì bịnh dịch vào những năm đói khổ, dịch bệnh. Dọc theo con hương lộ đá từ Mương Kinh về Cái Tàu Thượng những vườn trầu vàng, lá trầu non mượt, rải rác khắp một vùng làng quê lao xao theo cơn gió hiu hiu. Bạn sẽ gặp những cô thôn nữ hái trầu đem bán những phiên chợ quận với đôi má hây hây, tình tứ mà trầm trồ và buộc lòng bạn nhớ lại câu ca dao quen miệng mà giật mình:

Trồng trầu thì phải khai mương,
Làm trai hai vợ, phải thương cho đồng.

 

An Giang quá rộng, nhiều nét đặc thù, nhiều con đường còn xa khuất mà tôi vì tài hèn sức mọn không làm sao ghi lại đầy đủ, trọn vẹn hết được. Tôi chỉ là người mê nét đẹp thiên nhiên và con người của An Giang, tôi muốn xin được chia sẻ cùng bạn những gì tôi đã cảm nhận được qua năm sáu mươi năm lớn lên từ vùng đất An Giang ấy. Suốt hai mươi năm chiến tranh, An Giang so với nhiều vùng khác là một vùng yên bình; có người còn gọi An Giang là đất Phật, là Thánh địa; nhưng với riêng tôi, dù hôm nay An Giang có nhiều thay đổi, chẳng hạn như dòng sông Cửu Long bị ngăn dòng bởi các đập thuỷ điện nơi các nước thượng nguồn nên nước sông càng ngày càng cạn hơn, từ đó kéo theo cá tôm khan hiếm hơn, đồng lúa đất đai ít khi được phù sa bồi thêm sau mỗi mùa lúa thần nông ngắn ngày kết thúc, thì trong lòng tôi, hình ảnh một An Giang những ngày tháng cũ cách nay năm sáu mươi năm quả thật là một vùng cổ tích tuyệt diệu ở phương Nam này.

Có lẽ An Giang là xứ sở của cổ tích, của huyền thoại thật sự của vùng đồng bằng thuộc hạ lưu sông Cửu Long, mà bạn khó bắt gặp bất cứ nơi nào khác có những nét đặc thù tương tự vào những ngày tháng cũ. Nhờ hội đủ ba yếu tố thiên thời, địa lợi và nhơn hòa, An Giang có một thời đã mang tặng cho bạn cái nét đẹp của những cánh đồng lúa mùa bao la bát ngát với những biển lúa chín vàng đồng, những bến nước hữu tình, những giòng sông đầy cá tôm, những vườn cây ăn trái ngào ngạt hoa thơm trái chín và một tấm lòng hiếu khách, hiền hòa, chơn chất của cư dân dọc hai bên bờ dòng An Giang mát mẻ, ngọt ngào, quả từ rất lâu, từ những năm tháng cách nay hơn năm sáu mươi năm, An Giang đã mang đến cho bạn một món quà rất đẹp và nhiều ý nghĩa rồi vậy!

 

Ngày 19-8-1998

(Trích trong Bến Bờ Còn Lại ấn hành năm 2000.
Ngày 25-6-2011, đọc lại và bổ túc nhiều chi tiết, hình ảnh quan trọng.)

 

 

—————————-

Phụ chú :

1/ Dạo Chơi Tuổi Già của Sơn Nam, nhà xuất bản Trẻ, năm 2003, trang 170.

2/ Hồi Ký (tập 2) của nhà văn Nguyễn Hiến Lê, nhà xuất bản Văn Nghệ, California, Hoa Kỳ, trang 21.

3/ Bảy Ngày trong Đồng Tháp Mười của Nguyễn Hiến Lê, loại sách Học Làm Người, 1954, trang 99.

4/ Việt Sử Tân Biên (tập 5) của Phạm Văn Sơn in lần đầu tại Thư Lâm ấn quán, năm 1962, trang 208.

5/ Bảy Ngày Trong Đồng Tháp Mười (sđd), trang 86. Ngoài ra, theo cuốn Tân Châu Xưa của Nguyễn Văn Kiềm, qua tài liệu của ông Đặng Văn Ty thông phán hồi hưu ở Châu Đốc thì ông Phan Văn Vàng, tục gọi “xếp Vàng”, người làng Đa Phước, quận Châu phú, nay là xã này thuộc An Phú (Châu Đốc), thường năm ông lên miệt sông lớn bên Miên bắt sấu về bán, đồng thời ông thấy người Miên có trồng giống lúa nổi rất trúng, nên mua về trồng thử và kết quả trúng mùa; do vậy dân vùng Tân Châu Châu Đốc qua Miên mua giống về trồng. Nhưng theo Địa Phương Chí Tỉnh An Giang, trang 27, thấy ghi ông Phó Tổng ở Đốc Vàng Hạ (Long Xuyên) là người tìm ra giống lúa sạ trước nhứt”(Tân Châu Xưa của Nguyễn Văn Kiềm & Huỳnh Minh, 1964, nhà xuất bản Thanh Niên tái bản năm 2003, trang 54)

6/ Bảy ngày trong Đồng Tháp Mười (sđd), trang 97.

7/ Bảy ngày trong Đồng Tháp Mười (sđd), trang 93.

8/ Trang nhà TSCĐ.com, mục thơ, tác giả Nguyễn Hải Thệ-Ngy Do Thái,(trích tập thơ Ảo Ảnh)

9& 10/ Bái vọng cổ “Ông Lão Chèo Đò” của soạn giả Viễn Châu, Tuyển Tập Vọng Cổ, nhà xuất bản Trẻ, năm 2003, trang 88.

bài đã đăng của Lương Thư Trung


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006*2018 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)