Trang chính » Biên Khảo, Giới thiệu tác giả, Phỏng vấn, Tư Liệu, Văn hóa Email bài này

Bắc Nam Phảng Phất Nụ Cười: Trò Chuyện Cùng Anh Hai An Phú (phần 2)

0 bình luận ♦ 16.06.2011

 

 

ghe-tren-song-Hau

Ghe trên Sông Hậu, bên một làng thuộc huyện An Phú

HT:

Vừa rồi anh Hai có nhắc về việc ngủ nóp “Có điều bất tiện là người nằm trong nóp không thấy được bên ngoài, cho nên hồi phong trào đạo đâm đạo lụi, tôi cũng như Thằng Chum, sợ bị đâm, đem nóp vào ngủ trong mui ghe, vừa ngủ vừa lo, thấy toàn ác mộng.” Hồi mấy năm còn nhỏ tôi thường hay theo mấy ông anh ngủ giữ bò trên Mặc Cần Dưng, tôi cũng ưa ngủ nóp. Ngủ nóp có cái vui là lúc mình mới chun vô nóp nó hơi ngộp thở một chút, nhưng sau đó một đỗi thì từ từ quen hơi và bớt ngộp. Vậy mà ngủ nóp ở trên đồng riết rồi quen, ngủ mùng vải giăng giữa đồng hổng bằng; vì ngủ mùng ngoài trời, lúc nửa đêm sương xuống ướt mùng lạnh lắm, chịu hổng nổi nhe anh Hai; do vậy ngủ nóp coi chừng bò, coi chừng lúa hoặc ngủ giữ đìa, canh cá nhảy hầm là hết sẩy.

Trong phần vừa trích, anh hai có nhắc anh với “Thằng Chum” ngủ nóp sợ bị “đạo đâm đạo lụi” đâm, làm tôi nhớ hồi những năm thập niên 1950 vùng quê ngoại của tôi ở Mặc Cần Dưng, rồi Ba Bần, Kinh Xáng Bốn Tổng, Chắc Cà Đao, Hòa Bình, Bình Mỹ, Bình Thuỷ, Phú Hòa, Định Mỹ, Vàm Cống, Lấp Vò, Tân Bình, Hội An Đông, Mỹ Luông, Chưn Đùn, Cái Hố, Nhơn Mỹ, Mỹ Hòa Hưng; rồi Long Châu, Long Hưng, Long Sơn, Long Phú, Vĩnh Xương, Vịnh Đồn, Tân An thuộc vùng Tân Châu … đâu đâu cũng đồn có “đạo đâm đạo lụi” đêm đêm đi tìm đâm nhiều người như câu chuyện anh kể trong Nội Ngoại Đều Thương: “Ở miền Tây, cụ thể là ở Châu Đốc, Long Xuyên vào cuối thập niên năm mươi, tin đồn có phong trào đạo đâm, đạo lụi. Nghe nói, cũng giống như những kẻ ôm bom tự sát, người theo đạo nầy nếu đâm chết mười người thì biết bay. Tin dữ lan cả vùng, nơi nầy có người bị đâm, nơi kia có người bị lụi, với nhiều tình tiết giựt gân kinh khủng. Chỉ nghe đồn, chưa ai thấy tận mắt bị đâm, nhưng ai cũng nơm nớp lo sợ bị mất mạng vì bọn tà đạo nầy.”(4)

Hồi đó, tôi còn rất nhỏ nhưng tôi nhớ ở nhà quê nhà nào cũng làm một cái mõ tre treo sẵn nơi vách nhà, có nhà còn làm tù và bằng sừng trâu để phòng khi có ai trong xóm tri hô có “đạo đâm đạo lụi” là cả xóm cả làng cùng hè nhau đánh mõ, thổi tù và báo động khắp làng xóm. Nhớ có lần người ta còn đồn có một tên đạo đâm ngoài ấp Bình Phú, thuộc xã Bình Hòa, gần mé sông Cái dưới vàm rạch Mặc Cần Dưng, khi bị dân chúng phát giác và đánh mõ rượt chạy có cờ; dồn về phía có cái hầm nuôi cá, bị rượt nột quá, hắn bèn nhảy xuống hầm cá này và dân chúng bao vây kêu hắn lội lên nhưng hổng thấy tăm hơi đâu hết. Sau người ta mới hè nhau tát cạn hầm cá này, nhưng chẳng thấy tên đạo đâm này. Vậy mà rồi, như anh nói, người nầy đồn, người kia đồn rồi lan truyền khắp nơi làm sắp nhỏ như tụi tôi tối nào cũng hổng dám ngủ gần vách nhà dừng bằng lá dừa nước, mà trải chiếu giăng mùng ngủ giữa nhà đó anh Hai.

Nói gì tối tối không dám ngủ gần vách nhà, mà chiều chiều hơi xế bóng một chút là bà con lo cụ bị thắp nhang cúng kiến bàn ông Thiên thiệt sớm để chuẩn bị vô nhà đóng cửa vì sợ đạo đâm đạo lụi xuất hiện tìm đâm mình nhe anh Hai. Giờ nhắc lại với anh chuyện cách nay sáu bảy chục năm mà còn ớn thần hồn.

Vậy, thưa anh Hai, hồi đó do đâu mà có “đạo đâm đạo lụi” này? Do ai truyền bá và họ làm vậy là nhằm mục đích gì vậy anh Hai?

HAP:

Thưa anh Hai Kinh Xáng Bốn Tổng,

Vụ “Đạo đâm đạo lụi”, anh em mình chỉ nghe tin đồn thôi, nhưng phong trào đó quá sôi động, ai cũng kinh hoàng. Không rõ ai gây ra phong trào, nhưng chắc chắn không phải do một cá nhân mà có cả một tổ chức mới làm nổi việc đó; nhưng tôi nghĩ có lẽ người ta muốn đánh lạc hướng dân chúng miền Tây, muốn mọi người suốt ngày chỉ chú tâm đến vụ đạo đâm đạo lụi, không bàn tán việc gì khác. Tôi không nhớ rõ phong trào đạo đâm đạo lụi xảy ra năm nào ở thập niên 50 (nếu anh Hai nhớ, xin nói cho biết).

That-Son

Quang cảnh “huyền thoại kỳ bí” của Núi Thất Sơn,, xã An Hảo, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang (nguồn: Ca Dao Tục Ngữ)

HT:

Thưa anh Hai An Phú,

Về các ông “Đạo” nơi các làng quê miền Tây Nam phần của mình, hồi nhỏ tôi nghe kể nhiều lắm. Theo cuốn Tân Châu Xưa của Nguyễn Văn Kiềm (5) có kể ông Đạo Tưởng, ông Đạo Gò Mối; riêng ông Đạo Tưởng ở Tân Châu năm 1939 dấy loạn; rồi trong cuốn Nửa Tháng Trong Miền Thất Sơn của Nguyễn Văn Hầu cũng có nhắc ông Đạo Tưởng này, sách viết: “Tên phù thủy ấy là “đứa ở” của nhà văn Nguyễn Chánh Sắt, tên là Ba Quốc, bỏ việc của chủ ngang xương để đi “làm trời.”Mới đầu cất am ngồi mơ tưởng đâu đâu, nên có tên là Đạo Tưởng. Y tuyên bố rằng có đạo thuật làm sứng câm họng và chính y sau nầy sẽ là Minh Hoàng. Vậy mà cũng có người tin được. Họ góp tiền dựng chùa, cung phụng y phục y như ông vua thật. Em của ông được tôn xưng là ngự đệ, những người thân tín của y thì được đặt chức nguơn soái, tiên phuông… như một triều đình thật.”(6)

Ngoài ra, trong cuốn “Dạo chơi tuổi già”, nhà văn Sơn Nam, có kể: “Nhớ hồi còn bé, khoảng năm 1934 về sau, phía Bảy Núi vá các hải đảo thỉnh thoảng lại xuất hiện vài “ông đạo” mà sau nầy người đời còn nhớ, thí dụ như Đạo Nổi, Đạo Đất, Đạo Lửa… những kiểu tu hành cá thể, mỗi người một giáo lý với nghi thức hành hạ thân xác riêng…. Những đạo sĩ quái dị ấy lần hồi mất uy tín, chẳng còn ai ái mộ, trong số đồng bào nơi xa xôi, kém giao lưu, thiếu sách báo, phương tiện truyền thông vẫn là “tin đồn.”(7)

Tuong-Di-Lac

Tượng Phật Di Lặc trên núi Cấm (Thiên Cấm Sơn), là ngọn núi cao nhất trong dãy Thất Sơn (nguồn: Saigon Toserco)

Thưa anh Hai, sách vở thì vậy, nhưng hồi nhỏ lúc tôi còn ở trên Măc Cần Dưng, làng Bình Hòa cũng có nhiều ông đạo như ông Đạo Rỡ là con của cậu Mười Chót, bà con bên ngoại tôi. Từ hồi nhỏ tới lớn ông Đạo Rỡ này chuyên làm ruộng nhưng bỗng một hôm ma nhập ông lên bà xuống và rồi ông tướng ứng xưng là Đạo Rỡ, trị bá bịnh. Thường ông hay bận bộ áo quần bà ba trắng, trông rất thư sinh bạch diện, ốm cao lêu nghêu. Bà con xóm nhà Lầu, cạnh bên nhà cậu Mười Chót hổng ai tin tài trị bịnh xưng Ông Đạo của ông nhưng khách thập phương tin nườm nượp, họ chèo ghe bơi xuồng tới đậu đặc bến nhà cậu Mười chờ ông đạo chữa bịnh. Người ta mang lại gà vịt, nhang đèn cúng vái rợp trời có tới hằng trăm người mỗi ngày. Sau nầy tôi hổng nhớ ông Đạo Rỡ nầy giải nghệ lúc nào nhưng chắc chắn một điều là dân quê khắp nơi các làng quê tin tưởng ông đạo nầy là do mê tín dị đoan thôi anh Hai.

Lúc bấy giờ khắp nơi, nhứt là bên miệt Vàm Nao, Nàng Mau, Cái Xoài, Long Kiến về phía Cù Lao Ông Chưởng dân chúng đồn nhiều ông đạo linh ứng như ông Đạo Nằm, ông Đạo Tiêm, ông Đạo Nước Lạnh chuyên trị bá bịnh. Còn thầy pháp trị ma cũng nhiều vô số kể. Dường như làng nào cũng có thầy pháp dùng bùa trị ma. Chẳng hạn khúc trên mương ông Nhà Lầu một đỗi, gấn chùa Tây An của ông Đạo Cậy, có thầy Tám Sửu trị ma bằng cách bắt ma bỏ vô hũ; xéo xéo bên sông rạch mặc Cần Dưng, gần nhà cậu Ba Huề, cũng có thầy pháp trị bịnh ma mà tôi quên tên rồi. Miệt Tân Bình (Lấp Vò) có nhiều thầy pháp trị ma giống trên làng Bình Hòa (Mặc Cần Dưng), như thầy Bảy Huê. Chiều nào, cứ gần chạng vạng là nghe trống thầy pháp đánh nghe lung tung, lung tung là sắp nhỏ tụi tôi hổng dám ra sau vườn đi tiểu vì sợ ma. Hổng biết sao thời ấy ma quỷ lộng hành quá mạng vậy và có thiệt là có ma quỷ hông anh Hai?

Còn “đạo đâm đạo lụi,” thiệt tình là tôi hổng biết ai bày ra như vậy và bày ra lúc nào; nhưng phải công nhận những năm 1954-1956 là thời kỳ đạo này nổi lên rầm rộ hết biết nhe anh Hai.

HAP:

Kính anh Hai Kinh Xáng Bốn Tổng,

Nhân khi bàn về đạo đâm đạo lụi, anh Hai kể quá nhiều thứ đạo, nghe đã luôn đó anh Hai. Anh Hai nói 1954-1956 phong trào đạo đâm đạo lụi nổi lên rần rộ, như vậy phong trào nầy đã lan ra khắp nơi miền Tây vào dạo ấy rồi. Tôi đi Sài Gòn học từ năm 1955, bãi trường về Châu Đốc thăm nhà, thường đi xe chiều, khuya mới về đến Châu Đốc, kêu người chị bà con bạn dì mở cửa, chị vừa mở cửa vừa giơ cao cây gài cửa lên thủ, còn tôi cũng đưa cái cặp học trò lên chuẩn bị đỡ nếu bà chị sợ quá rồi đập ẩu …. Như vậy sau 1955 phong trào nầy vẫn còn sôi động ở Châu Đốc.

Nói vể Ông Đạo Nổi, hồi nhỏ tôi có gặp ông ấy đi ngang nhà tôi ở Bắc Nam nhiều lần, người mập mạp, vui tánh, nhưng nói chuyện “lừng khừng,” luôn dẫn theo một nữ “thị giả” cũng có vẻ “lừng khừng,” nhưng không bao giờ nói chuyện. Ông già tôi cắc cớ lắm, lúc ông đạo đang ngồi nổi trên dòng sông Bắc Nam, hai tay vỗ nước kêu bùm bum, ông già lặn dưới nước, quờ quạng coi ông đạo có độn cái gì phía dưới hay không mà ngồi vững như vậy. Ông già tôi xác nhận là không thấy có độn. Có thể ông đạo nổi có luyện khí công.

HT:

Thưa anh Hai An Phú,

Nhắc các ông Đạo thì vùng mình hồi thời anh và tôi, ôi thôi nhiều ông Đạo nổi lên như vậy, theo tôi là do dân quê mình dễ tin người, dễ sùng bái, dễ mê tín nên cứ nghe có ai xưng mình là ông Đạo thì hổng cần biết thiệt giả gì, rồi cứ rủ nhau đến chiêm bái và nhờ vậy mà có một thời nhiều ông đạo nổi tiếng như cồn.

 

Front-of-Thoi-Son

Dinh Thới Sơn thuộc ấp Sơn Tây, xã Thới Sơn, huyện Tịnh Biên, An Giang.  Dinh này do Phật Thầy Tây An xây dựng vào năm 1851, và cũng sáng lập ra đạo Phật theo trường phái Bửu Sơn Kỳ Hương
(nguồn: Dong Nguyen’s Blog)

Còn đời xưa, thời Phật Thầy Tây An, theo sách vở và nghe ông bà xưa kể lại thì cũng có những người tài theo Phật Thầy cứu người, cứu đời, như các vị giáo chủ hoằng pháp như ông Đạo Đèn, quê ở sốc Lương Phi, núi Tà Lơn, Tịnh Biên, Châu Đốc; Đức Bổn Sư, ngài chính danh là Ngô Lợi, quê quán Dội, gần Mộc Bài, thuộc vùng giáp giới Miên-Việt, tỉnh Châu Đốc; ông Sư Vãi Bán Khoai không rõ quê quán nhưng thường đến xã Vĩnh Gia thuộc kinh Vĩnh Tế (Châu Đốc) trị bịnh cứu nhơn độ thế; ông Cử Đa, quê ngoài Phù Cát (Qui Nhơn), lúc mới tới vùng Bảy Núi, nhiều người nghe tiếng nói của ông phát ra có giọng miền Trung, nên dân địa phương cũng gọi ông là Ông Thầy Huế .…(8)

Dinh-Thoi-Son-An-Giang

Sau Dinh Thới Sơn còn rất nhiều di tích các hình tượng, miếu thờ mô tả về các thời kỳ vùng đất An Giang thời hoang sơ, phải chiến đấu với muôn loài thú dữ như hổ báo, mãng xà v.v.. (nguồn: Dong Nguyen’s Blog)

Trở lại tác phẩm Nội Ngoại Đều Thương, anh Hai có nhắc chuyện má anh thích hàng vải cẩm tự may cái quần để mặc đi đám tiệc nhưng vì nhà nghèo nên bác không mua nổi cái quần loại vải nầy, câu kết anh viết rất cảm động : “Quần mẹ rách vá nhiều chỗ. Gặp người bán hàng vải dạo, mẹ ngắm tới ngắm lui hàng cẩm tự, mẹ thích lắm. Nhưng rồi nhìn lại đám con nheo nhóc, mẹ không lựa mua cẩm tự nữa. Mẹ tiếp tục mặc cái quần cũ. Bây giờ rất nhiều hàng vải đẹp, phẩm chất không thua hàng cẩm tự, các con có tiền để mua sắm cho mẹ. Nhưng mẹ không còn. Nhớ thương mẹ quá, mẹ ơi!” (9)

Đọc mấy dòng kết của anh làm tôi cũng nhớ má tôi nghèo như vậy, muốn khóc. Thưa anh Hai, sao ngày xưa người ta gọi các loại hàng lãnh Tân Châu là Cẩm Tự vậy anh Hai? Xin anh cắt nghĩa giùm cho em út hiểu thêm nhe anh Hai.

HAP:

Về tên hàng vải “cẩm tự,” tôi nhớ trên mặt hàng có dệt những chữ vuông cạnh, rõ nét. Theo Từ điển Hán Việt, “cẩm” là gấm vóc, “tự” là chữ, tôi nghĩ “hàng cẩm tự” là một loại gấm vóc có dệt chữ lên trên mặt. Anh Hai là nhà thâm nho, nếu thấy tôi giải thích không đúng, xin anh chỉnh giùm.

HT:

Thưa anh Hai An Phú,

Anh cắt nghĩa “cẩm tự” vậy là quá rõ rồi. Chữ dệt trên gấm. Theo Nguyễn Văn Kiềm hàng cẩm tự có nhiều loại như hàng lụa dệt ra loại trơn gọi là cẩm tự trơn, loại có bông thì gồm cẩm tự bông cúc, cẩm tự mặt võng, cẩm tự mặt đệm lớn, cẩm tự mặt đệm nhỏ v.v…(10) Nhà bà ngoại sắp nhỏ con tôi ở ngay xã Tân An (Tân Châu) xứ của những hãng dệt hàng lãnh cẩm tự, sau vườn có trồng nhiều cây mặc nưa hằng năm bán cho các lò nhuộm lãnh. Loại trái này nhuộm lãnh cẩm tự không bay màu nhe anh Hai, càng mặc cũ hàng càng bóng, vải mịn và mềm mại lắm.

HAP:

Thưa anh Hai Kinh Xáng Bốn Tổng,

Anh Hai nhắc tôi mới nhớ đặc điểm của hàng cẩm tự là mặc càng cũ càng bóng, mịn và mềm. Nguồn tài liệu tham khảo của anh Hai quả thật dồi dào và vô giá, chắc anh đã khổ công góp nhặt và lưu giữ rất nhiều năm mới có được như vậy.

HT:

Anh Hai An Phú,

Giờ xin trở lại cuốn Nội Ngoại Đều Thương của anh Hai, ở lời mở đầu anh Hai có viết: “Tôi không phải là nhà văn. Từ nhỏ đã thích đọc văn của người khác viết, nhưng bản thân mình chưa viết được một bài văn nào. Về già rảnh rỗi viết để giải khuây, nhớ gì viết nấy. Bè bạn có dịp đọc được, khuyến khích viết thêm, nên tiếp tục viết rồi in thành quyển sách nhỏ này để làm kỷ niệm.”

Và rồi tôi đọc lời nhận xét của nhà văn Vũ Thất qua bài “Đọc Nội Ngoại Đều Thương của Khiêm Cung trên trang nhà Thất Sơn Châu Đốc, tác giả viết:

Bằng vào lời phi lộ ‘Về già rảnh rỗi viết để giải khuây, nhớ gì viết nấy,’ thì hẳn ông bắt đầu viết vào lứa tuổi …tri thiên mệnh. Thế nhưng những gì ông nhớ và viết ra thì thật đáng kinh ngạc so với số tuổi của ông.

Tiếp theo, tác giả Vũ Thất nhận định về cách viết của Khiêm Cung:

Lối kể chuyện của ông là lối kể chuyện trinh thám, khiến tôi gần đứng tim và luôn mong mỏi cả gia đình ông được thoát đi suông sẻ .… Nhưng hãy nghe ông tỏ lời kết thúc chuyến vượt biên: ‘Trái đất tròn, nước Việt Nam mình cũng tròn, gia đình tôi đi vòng vòng rồi trở về chỗ cũ.’ Ông thất bại chua cay, mất bao nhiêu tiền của mà vẫn giữ nụ cười hóm hỉnh…

Để rồi từ đó, nhà văn Vũ Thất đưa ra nhận xét về cách chọn lọc, sắp xếp các truyện trong Nội Ngoại Đều Thương như sau:

Có lẽ chính nhờ tinh thần hài hước đó mà Khiêm Cung đã tuyển chọn bài và cố tình sắp xếp theo thứ tự thời gian đột biến: từ một quá khứ ấu thơ rồi bất ngờ kể chuyện tuổi già, từ tuổi già bỗng quay lại thuở học trò, từ thuở học trò chợt nhảy sang thời… mất nước. Thời gian đột biến kéo theo không gian đột biến. Từ quê nội sang quê ngoại. Từ quê nhà chuyển sang quê người. Đề tài cũng biến đổi liên tục. Từ gia đình đến hàng xóm. Từ thầy cô đến bạn bè. Từ tập tục lễ nghĩa đến chuyện cũ tích xưa. Từ ngôn ngữ bất đồng đến con người bất bình đẳng… Hiện tại-quá khứ xem ra không dính gì nhau mà lại đan nhau một cách một cách khéo léo, tự nhiên và lôi cuốn.

Sau cùng, anh Vũ Thất kết luận:

Với một trí nhớ lạ thường, một tri thức quảng bác, với lời văn bình dị sáng sủa đôi khi điểm chút khôi hài ý nhị, tôi không tin tập truyện Nội Ngoại Đều Thương được hình thành như ông bày tỏ: “Về già rảnh rỗi viết để giải khuây”. Ông nói gì thì nói, tự tập truyện của ông đã hàm chứa đầy đủ các lời nhắn nhủ về đạo làm người Việt Nam, rất cần cho con cháu ông, cho con cháu tôi và cho tuổi trẻ hải ngoại.(11)

Là tác giả của tập truyện Nội Ngoại Đều Thương ấy, anh có cảm tưởng ra sao qua những lời nhận định vừa rồi của nhà văn Vũ Thất, anh Hai?

HAP:

Sau khi Cuốn truyện Nội Ngoại Đều Thương ra mắt, có nhiều độc giả thương mến coi tôi như là một nhà văn, tôi trân trọng cảm ơn chân tình đó. Nhưng bản thân tôi cho tới ngày hôm nay vẫn nhận thấy rằng mình chưa phải là một nhà văn. Tôi nhớ quê nội, làng Bắc Nam, ngay từ lúc tôi ra tỉnh lỵ Châu Đốc học, vì bận lo học hành, không thường xuyên về thăm nhà, thăm quê. Sau đó, gia đình rời Bắc Nam đi tản cư về quê ngoại ở An Phú-Châu Đốc, biết chắc là không bao giờ có dịp trở về làng cũ nữa, tôi càng nhớ Bắc Nam nhiều hơn.

Còn đối với làng Vĩnh Lộc và cả khu vực quận An Phú còn phảng phất nụ cười, tiếng nói và cử chỉ trìu mến của Bà Ngoại, của cậu mợ, các anh chị cô cậu của tôi và bà con, láng giềng của Bà Ngoại tôi tạo thành những kỷ niệm đẹp mà tôi không bao giờ quên được. Sống ly hương, chung quanh mình hầu hết là những người khác chủng tộc, màu da, những kỷ niệm êm đềm, đẹp đẽ nơi quê nội, quê ngoại hiện về, tôi vội ghi ra những kỷ niệm đó thành cuốn truyện ngắn, Nội Ngoại Đều Thương là một lối thoát cho những tình cảm sâu đậm, những luyến nhớ không nguôi còn ẩn ức trong lòng. Những tình cảm, những luyến nhớ đó có thể trở thành hương vị của món ăn tinh thần, Món ăn có ngon là nhờ hương vị ngon chớ không phải là do đầu bếp giỏi. Nội Ngoại Đều Thương là truyện kể, còn rất nhiều khuyết điểm, tôi tự thấy chưa phải là một nhà văn. Dầu sao, độc giả không quá hững hờ với cuốn truyện là một khích lệ lớn lao đối với người viết.

Tôi đã ứa nước mắt vì cảm động khi đọc hai bài nhận xét về cuốn truyện Nội Ngoại Đều Thương, một bài của nhà văn Lương Thư Trung (mà cũng là Anh Hai Kinh Xáng Bốn Tổng) đăng nơi phần sau cuốn truyện và trên trang nhà Thất Sơn Châu Đốc, đã soi thấu tâm can của tác giả; một bài khác của nhà văn Vũ Thất viết sau khi cuốn truyện phát hành, cũng đã đăng trên trang nhà Thất Sơn Châu Đốc, Người Việt Boston, Saigon Echo và nhiều tờ báo đìện tử ở Hoa Kỳ, cùng những tờ như tờ Văn Nghệ Tuần Báo, Bán Tuần Báo Việt Luận ở Úc châu …. Cả hai bài viết rất vắn gọn, nhưng rất đầy đủ ý nghĩa, giới thiệu những điểm nổi bật của cuốn truyện, nhờ vậy mà có thêm nhiều độc giả tìm đọc Nội Ngoại Đều Thương. Tôi xin chân thành cảm ơn hai tác giả đã nhiệt tình giới thiệu cuốn truyện với đồng hương khắp nơi.

Nhân tiện, tôi xin báo một tin vui nho nhỏ: Cuốn truyện ngắn Nội Ngoại Đều Thương được Austlit ghi nhận vào thư mục của tổ chức. Austlit là một hệ thống thư viện do 12 trường đại học tại Úc và Thư Viện Quốc gia Canberra phối hợp thành lập. Austlit có chuyên viên từng sắc tộc phụ trách đọc và tuyển chọn để ghi nhận vào thư mục những tác phẩm của người Úc (bất kỳ nguồn gốc nào), sáng tác và phát hành tại Úc. Đọc Nội Ngoại Đều Thương, Austlit thấy có những bài dính dáng đến Phong Hưng Lưu Nhơn Nghĩa, họ hỏi thăm tôi về anh Nghĩa, tôi đã gởi cho tổ chức đó mượn cuốn Con Đường Cũ và sẽ gởi cho họ tiểu sử của anh Nghĩa. Hy vọng sách của anh Nghĩa cũng sẽ được ghi nhận vào thư mục Austlit.

HT:

Thưa anh Hai An Phú,

Nhơn anh có nhắc nhà văn Phong Hưng Lưu Nhơn Nghĩa, cũng như trong lời giới thiệu khi vào cuộc trò chuyện này tôi có nhắc tác giả Con Đường Cũ: “Viết về vùng Xà Tón (Tri Tôn) chắc chắn không ai qua nổi nhà văn Phong Hưng Lưu Nhơn Nghĩa.”

Mới đây tôi có đọc được “Những bức thư đầm ấm”(12), là những lá thư thăm hỏi và trao đổi giữa nhà văn Nguyễn Hiến Lê và thi sĩ Quách Tấn (từ 1966 đến 1984). Nhơn bàn về viết địa phương chí, lá thư ghi Nha Trang ngày 27-4-1980, Quách Tấn viết: “Viết địa phương chí cũng như viết truyện ký, phải viết bằng “cây bút trí” chấm vào “bình mực lòng” thì mới làm cho cảnh sống người sống. [Cho dù] viết bằng cây bút của người vẽ địa đồ, của người chép lý lịch, dù đúng từng ly từng tí, cũng không phải là một mỹ nghệ phẩm. Phải chăng anh? Theo tôi, phải yêu người yêu cảnh, viết mới hay nổi. Dường như anh đã đồng ý rồi.” (13) Trong lá thư hồi âm ghi Sài Gòn ngày 10-6-80, Nguyễn Hiến Lê viết: “Viết địa phương chí, đúng như anh nói, phải có lòng (tôi bảo là có tâm hồn) lại phải có cặp mắt nữa. Phạm Trung Việt thiếu cả hai cái đó. Hai tập Nươc Non Bình Định và Xứ Trầm Hương của anh, theo tôi, khó có ai viết hơn.”(14)

Từ đó, tôi mới nghiệm ra Khiêm Cung Dương Văn Chung và Phong Hưng Lưu Nhơn Nghĩa là những tác giả đã có đủ hai yếu tố ấy qua những trang sách viết về bức tranh quê làng Bắc Nam (An Phú) cũng như Xà Tón (Tri Tôn) thuộc địa giới tỉnh Châu Đốc vậy.

Xin chân thành cảm ơn anh Hai đã bỏ thì giờ chia sẻ nhiều chi tiết về một khoảng thời gian dài sáu bảy chục năm với những mùa cá tôm đầy trong sông nước vùng Bắc Nam (An Phú). Đồng thời qua cuộc trò chuyện này, anh cũng phác họa lại những nét chính về các sinh hoạt xã hội thời tao loạn lúc bấy giờ để giúp cho tôi và các bạn trẻ có dịp hiểu thêm về một vùng đất xa xôi mãi tận miền biên giới Việt-Miên, qua các mùa màng cùng những lễ tục. Đây thật là một cuộc trò chuyện thú vị và bổ ích.

Kính chúc anh Hai luôn luôn dồi dào sức khỏe và hy vọng anh sẽ tiếp tục chia sẻ cùng bạn đọc nhiều mẩu chuyện lý thú nơi làng quê của anh ngày xưa trong các bài viết mới sau này. Kính xin anh chuyển lời thăm chị Hai và kính chúc chị Hai cùng các cháu mạnh khoẻ.

Trân trọng kính chào anh Hai.

HAP:
Cám ơn anh Hai Trầu. Khi nào anh chị Hai rảnh, kính mời anh chị ghé An Phú chơi để anh em mình có dịp tiếp tục hàn huyên.
Kính chúc anh chị Hai và các cháu vui khỏe.

Duong-van-Chung-va-vo

Nhà văn Khiêm Cung Dương văn Chung và phu nhân Nguyễn Ngọc Phấn

—————-

Cước chú:

1/ Tập truyện Nội Ngoại Đều Thương của Khiêm Cung Dương Văn Chung, nhà xuất bản Quán Âm Sơn, Tân Tây Lan, năm 2008, trang 1.

2/ Thằng Chum Xứ Cá, trong NNĐT sđd, gồm bốn phần: Nhà nghèo, Biển Hồ, Ngủ nóp, Rắn mắt, từ trang 74 đếm trang 86

3/ Đạo đâm đạo lụi, NNĐT sđd, trang 196

4/Tân Châu Xưa của Nguyễn Văn Kiềm & Huỳnh Minh (31-12-1964), nhà xuất bản Thanh Niên tái bản, năm 2003.

5/ Nửa Tháng Trong Miền Thất Sơn của Nguyễn Văn Hầu,1970, Xuân Thu (Hoa Kỳ) tái bản (không ghi năm), trang 66.

6/ Thất Sơn Mầu Nhiệm của Nguyễn Văn Hầu, do Từ Tâm xuất bản năm 1955; Xuân Thu (Hoa Kỳ) tái bản (không ghi năm), trang 67.

7/ Dạo Chơi Tuổi Già của Sơn Nam, nhà xuất bản Trẻ, năm 2002, trang 166.

8/ Thất Sơn Mầu Nhiệm, sđd, trang 113. Quyển Tìm hiểu An Giang Xưa của Võ Thành Phương (nxb Văn Nghệ An Giang, 2004) có liệt kê những người tài theo Phật Thầy cứu người, cứu đời như:

a/ Đức Cố Quản Trần Văn Thành quê ở Cồn Nhỏ, làng bình Thạnh Đông, tổng An Lương, tỉnh Châu Đốc.

b/ Ông Tăng Chủ, họ Bùi nhưng tên thiệt của ông thì hổng ai biết tên gì, trên bia mộ của ông ở Nhà Bàng (Tịnh Biên) chỉ ghi “Tăng Chủ Bùi Thiền Sư” mà thôi.

c/ Ông Đình Tây tên Bùi văn Tây, quê quán ở đâu không rõ, có người nói ông ở Năng Gù, có người nói ông ở Nhơn Hòa, cả hai nơi này đều thuộc tỉnh Châu Đốc.

d/ Ông Đạo Xuyến quê ở Ba Giác (Bến Tre), ông lập chùa Châu Long Thới và khai phá đất Cái Dầu.

e/ Ông Đạo Lập, tên thật Phạm Thái Chung, người làng Đa Phước, Cồn Tiên, thuộc An Phú của anh, ông lập chùa Bồng Lai ở Bài Bài thuộc xã Nhơn Hưng, quận Tịnh Biên, tỉnh Châu Đốc.

f/ Ông Đạo Ngoạn nguyên danh là Đặng Văn Ngoạn, sanh quán làng Nhị Mỹ, tổng Phong Thạnh, quận Cao Lãnh, trong lòng sông Cần Lố, thuộc rạch Trà Bồng (Đồng tháp Mười).

g/ Ông Đạo Lãnh, còn gọi ông Hai Lãnh, ông còn một tên nữa là Cậu Hai Gò Sặt. Ông tinh thông nho học, võ nghệ cao, có thuật gồng và thông tường các loại bùa thư.

h/ Ông Đạo Sĩ, người làng Trà Kiết (An Giang), từ Mặc Cần Dưng đi vô tới chợ Cần Đăng, đi vô nữa là tới Trà Kiết, ông đến Xẻo Môn thọ phái Bửu Sơn Kỳ Hương, về sau ông lập cốc ở Trà Kiết trị bệnh cho bá tánh.

i/ Ông Đạo Thắng tên thật Nguyễn Văn Thắng, là người gần gũi với Phật Thầy Tây An.

k/ Ông Đạo Chợ, quê ở Chưn Đùn, Cá Hố (gần Vàm Ông Chưởng), ông trị bịnh rất linh nghiệm.

l/ Ông Đạo Đọt giữ việc hương khói nơi trại ruộng Thới Sơn của Phật Thầy, có tài trị hết bịnh nhiều người.

9/ Vải quần cẩm tự, NNĐT sđd, trang 195

10/ Tân Châu Xưa, sđd, trang 61.

11/ “Đọc Nội Ngoại Đều Thương của Khiêm Cung Dương Văn Chung” của Vũ Thất, đăng trên Thất Sơn Châu Đốc ngày 27-5-2009.

12/ Những Lá Thư Đầm Ấm của Quách Tấn và Nguyễn Hiến Lê, do Quách Giao sưu tầm, nhà xuất bản Tổng hợp tp HCM, năm 2010.

13/ Những Lá Thư Đầm Ấm, sđd, trang275.

14/ Những Lá Thư Đầm Ấm, sđd, trang 283.

bài đã đăng của Hai Trầu


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)