Trang chính » , Nhận Định Email bài này

Hồi ức về bài thơ Con cóc

 

Toad-by-julie-patricia_thumb

Julie Patricia, Mr. Toad (“Ngài Cóc”)
Tranh khắc gỗ, sơn acrylic, dựa trên bức tranh minh họa của Tasha Tudor trong tác phẩm nhi đồng The Wind in the Willows (Gió Lùa Hàng Liễu) của Kenneth Graham

 

Trong hai tuần lễ đầu tháng Năm vừa rồi, nhà phê bình văn học Nguyễn Hưng Quốc liên tiếp viết ba bài về bài thơ “Con cóc”. Ông viết vì bài thơ này đã trở thành nỗi ám ảnh của ông:

Tôi vẫn đọc thơ nhưng hầu như bài thơ nào đang đọc dở dang cũng đều bị cắt ngang bởi một bài thơ rất vô duyên: thơ “Con cóc”. Từ đâu đó, tận trong tiềm thức, bài thơ “Con cóc” nhảy chồm ra, giành giật, chen lấn, xô đẩy, cuối cùng, thật oái oăm, bao giờ nó cũng thắng thế.

Một buổi trưa không biết ở thời nào Như buổi trưa nhè nhẹ trong ca dao… Con cóc trong hang Con cóc nhảy ra…

Cứ thế. Có thể nói, suốt mấy năm nay, cơ hồ tôi không đọc trọn vẹn một bài thơ nào ngoài bài thơ “Con cóc”. Bận bịu quá, quên đi thì thôi, còn hễ nhớ đến thơ thì bao giờ cũng thế, bài thơ “Con cóc” lại hiện ra, sừng sững, án ngữ hết mọi nẻo đường, không cho bài thơ nào khác có được cái quyền được ngâm nga nữa.

Như để giải tỏa nỗi ám ảnh của mình, ông Nguyễn Hưng Quốc dựa vào văn học Đông Tây kim cổ để phân tích bài thơ dưới mọi khía cạnh, đi từ chỗ cho là bài thơ dở nhất, đến chỗ cho là bài thơ hay nhất, và tại sao nó hay nhất. Ông Quốc còn cho rằng: “Trong số những bài thơ khuyết danh tại Việt Nam, dễ không có bài thơ nào được nhiều người nhớ như bài thơ “Con cóc”. Ngay cả những người hoàn toàn hờ hững với thơ ca cũng thuộc lòng bài thơ ấy”.

Người viết bài này không thuộc loại “hoàn toàn hờ hững”, nhưng rất dở trong lãnh vực thơ ca. Tuy vậy, đúng như ông Quốc nói, cũng thuộc lòng bài thơ “Con Cóc”, không biết thuộc tự bao giờ. Có lẽ, khi được nghe lần đầu, đã thuộc ngay, vì nó dễ nhớ quá:

Con cóc trong hang
Con cóc nhảy ra

Con cóc nhảy ra
Con cóc ngồi đấy

Con cóc ngồi đấy
Con cóc nhảy đi

Không phải chỉ một mình ông Nguyễn Hưng Quốc bận tâm về bài thơ Con cóc. Loạt bài của ông khiến người viết nhớ tới cố giáo sư Nguyễn Thiệu Lâu, từ trên nửa thế kỷ trước, cũng thắc mắc nhiều về bài thơ này.

Giáo sư Nguyễn Thiệu Lâu sinh năm 1916 tại Hà Đông, con nhà nghèo nhưng nổi tiếng học giỏi. Ông được học bổng du học bên Pháp. Trong số người du học thời ấy, phần đông theo ngành luật hay y học, chỉ có Nguyễn Thiệu Lâu và Ngô Đình Nhu học về lịch sử. Vào Sàigòn năm 1954, ông Nhu lo việc chính trị, ông Nguyễn Thiệu Lâu vẫn lo việc nghiên cứu lịch sử, địa dư, và dậy học. Nhưng ngày ông càng uống rượu nhiều, ăn nói bạt mạng, không ai dám mời ông dậy nữa. Ông Trần Chánh Thành hồi ấy là Bộ Trưởng Thông Tin, đã giúp đỡ bằng cách mời ông làm chuyên viên, cho ông một văn phòng, ông muốn làm gì, viết gì cũng được. Nhờ đó, ông tối ngày uống bia, viết sẵn rất nhiều bài về lịch sử hoặc địa lý. Mỗi lần tôi tạt qua, ông đưa cho một đống bài, chọn bài nào thích thì đem về đăng báo.

Giáo sư Nguyễn Thiệu Lâu không có xe. Mỗi lần gặp, ông thường ngỏ ý muốn đi chỗ này chỗ kia cho khuây khỏa, hoặc chở ông ra quán uống rượu. Thường ông chỉ uống, không ăn. Không đủ tiền uống rượu mạnh, bia thì ông vẫn uống thay nước hàng ngày, quá nhạt. Ông nẩy ra sáng kiến pha bia với rượu đế. Hầu truyện ông, đôi khi cũng được nghe những ý kiến lạ. Ông tự xưng tao, gọi tôi là mày, tất cả những người khác đều là thằng. Có lần bỗng nhiên ông hỏi: “Mày biết thằng Lưu Bị không?” Trả lời: – Nếu là nhân vật Lưu Huyền Đức trong truyện Tam Quốc, thì biết. Ông bảo: – Chính nó! Cái thằng mất dậy, đạo đức giả. Hỏi tại sao, ông bảo: Thằng Lưu Bị thua trận, bỏ cả vợ con mà chạy. Triệu Tử Long liều mạng cứu được con nó, đem đến cho nó. Thay vì ôm con, quỳ xuống cám ơn họ Triệu đã cứu mạng con mình, nó vất thằng bé xuống đất, nói: “Chỉ vì cái thằng nhãi ranh này mà suýt nữa ta mất một vị tướng tài”. Đồ đểu! Đằng nào con nó cũng đã được cứu, thay vì mừng rỡ cám ơn ân nhân, nó mắng con, làm như không cần, chỉ có mạng tướng của nó mới đáng quý. Vừa khỏi phải mang ơn, vừa ra vẻ trọng người tài. Thằng mất dậy!

Uống xong, thường có mục đi dạo. Nhưng đi dạo với ông, đôi khi cũng căng thẳng. Một buổi tối, từ Chợ Cũ, ra đường Tự Do, đi ngược về hướng Nhà Thờ, đang trên lề đường trước tòa nhà Quốc Hội, ông dừng lại, đái ngay xuống đường. Nói ông đừng làm vậy, cảnh sát bắt thì phiền. Ông bảo: Cảnh sát của thằng Nhu, nếu nó muốn bắt tao thì cứ bắt, đó là việc của nó. Tao đái là việc của tao; việc ai người ấy làm.

Tới Nhà Thờ, quẹo trái về phía Dinh Độc Lập, vẫn vẻ suy nghĩ triền miên, ông nói: Tức quá, tao có một thắc mắc, nghĩ hoài mà không tìm được câu trả lời, mày có ý kiến gì không? – Chuyện gì vậy? – Đó là bài thơ Con cóc. Mày biết không? – Ai mà không biết. Rồi giáo sư Nguyễn Thiệu Lâu nói rõ thắc mắc của mình:

Ngay đối với ca dao, thường không viết rõ tác giả, nhưng ít nhất, biết nó nói cái gì; có khi còn biết xuất xứ của nó từ miền nào, hay vào thời nào. “Con cóc” là một bài thơ, mà thơ thì phải có tác giả, trừ khi tác giả ẩn danh vì một lý do quan trọng nào đó. Đã không biết tác giả, còn không biết nó được làm vào thời nào, miền nào, và nhất là không biết nó định nói cái gì. Tao tìm hoài, nghĩ nát óc mà không ra, mày có ý kiến gì không?

Trước mặt là Dinh Độc Lập, vừa đi, tôi vừa trả lời bừa: Về nguồn gốc của nó, ông là nhà nghiên cứu, mà không biết, đương nhiên tôi chịu. Nhưng ý nghĩa của nó, tôi có thể đoán được, đúng hay sai không bảo đảm. Trước hết, về con cóc, nó phải chỉ một nhân vật quyền thế. Dân gian vẫn nói “con cóc là cậu ông trời”, trong khi nhà vua là thiên tử, tức con trời. Như vậy, cóc thuộc hàng cha chú của vua, hay ít nhất, cũng không thể kém quan trọng hơn vua. Cóc còn giống nhà cai trị ở chỗ, chỉ nghe tiếng nó, mà ít khi thấy nó – thời chưa có truyền hình. Nhưng mặt khác, dân gian cũng khinh thường cóc, nên bỉ thử ai, thì gọi người đó thuộc hạng “cóc nhái lên làm người”.

Thử tưởng tượng một cảnh có bốn nhà trí thức nho học, mỗi người một bồ chữ, nhưng khôn quá hóa hèn, ngồi uống rượu luận bàn thế sự. Rượu vào lời ra, ngao ngán trước nhân tình thế thái, nhất là về kẻ đang nắm trong tay quyền cai trị đất nước, một người phát ngôn: “Đúng là cóc nhái lên làm người”. Ông thứ hai: “Con cóc trong hang, con cóc nhảy ra”. Nếu cóc từ trong hang nhảy ra, rồi nhảy đi, thì chẳng có gì đáng phàn nàn. Nhưng điều phiền là, theo ông thứ ba: “Con cóc nhảy ra, con cóc ngồi đấy”. Nó ngồi đấy để đớp mồi. Tuy vậy, ở đời, chẳng có cái gì vĩnh viễn. Con cóc không thể ngồi đấy mãi mãi. Đớp mồi no bụng, hay cảm thấy sợ hãi, cóc sẽ nhảy đi. Ông thứ tư kết luận, như một lời an ủi: “Con cóc ngồi đấy, con cóc nhảy đi”.

Nghe xong, giáo sư Nguyễn Thiệu Lâu nói: Giải thích của mày có vẻ lạ, tao không thể nói đúng hay sai. Nhưng mày coi chừng! Có ngày đi tù đấy con ạ.

Truyện này xẩy ra vào năm 1958, chín năm trước khi giáo sư Lâu mất ở tuổi 51.

Lời cuối: Không phải chỉ có một con cóc, mà một đàn cóc tía (mầu đỏ thẫm) từ trong hang nhảy ra, chia nhau ngồi chỗ tốt nhất từ trung ương tới địa phương, từ thủ đô, tỉnh thành tới tận làng xã, ì-ộp ồn ào, ăn uống thoải mái, cái gì cũng ăn, từ đất cát cỏ cây đến cao lương mỹ vị, cả mỹ nhân, và tiền bạc quý kim…. Đàn cóc đã ngồi trên 60 năm, vẫn chưa chịu nhảy đi, ngay cả con chết, xác khô vẫn "ngồi" đó. Cóc trong thơ là "cóc logic", có đến, có đi. Sự hiện hữu của đàn cóc thực tế là "cóc phản logic". Người thuộc bài thơ Con cóc, là cóc logic đã nằm sẵn trong tiềm thức. Khi đối diện với đàn cóc phản logic trong thực tại, bị cóc logic trong tiềm thức nhảy ra quấy rầy, như quấy rầy đầu óc nhà phê bình Nguyễn Hưng Quốc, là điều dễ hiểu.

Những ai muốn đọc ý kiến của nhà phê bình Nguyễn Hưng Quốc về bài thơ Con cóc, xin theo các links sau đây:

http://www.voanews.com/vietnamese/blogs/quoc/tho-con-coc-05-03-2011-121172059.html

http://www.voanews.com/vietnamese/blogs/quoc/tho-con-coc-hay-o-cho-nao-05-05-2011-121332689.html

http://www.voanews.com/vietnamese/blogs/quoc/tho-con-coc-dep-tho-thap-05-11-2011-121626404.html

bài đã đăng của Đinh Từ Thức


2 bình luận »

  • Phạm Đức Nhì viết:

    THƠ CON CÓC CÓ PHẢI LÀ THƠ?

    Trong bài Nhân Cuộc Tranh Luận Về Thơ Con Cóc, Thụy Khê đã viết:
    Khi Nguyễn Hưng Quốc thách Đỗ Minh Tuấn phải chứng minh được rằng Thơ Con Cóc không phải là thơ, Đỗ Minh Tuấn đã vội lo “đây là một thách thức triết học nghiêm túc, nhưng lại là một vấn đề ngụy tạo”. Những lo lắng của Đỗ Minh Tuấn thật sự không cần thiết vì ở đây cũng chẳng có vấn đề triết lý triết học gì cả. Chỉ có một lẽ dễ hiểu là xưa nay chưa ai định nghĩa được một cách chính xác Thơ là gì? …
    Và bà đưa ra kết luận nước đôi:
    Vậy Thơ con cóc, bảo nó là thơ cũng được. Mà bảo không phải là thơ cũng xong. (1)
    Tôi tự mình chưa nghĩ ra được một định nghĩa cho thơ, nhưng nếu hỏi
    “Thơ Con Cóc có phải là thơ hay không?
    thì tôi hy vọng có thể trả lời được. Ít nhất là sẽ cố thử xem.

    Những Câu Thơ Dọn Cảnh
    Từ trước cả cái thời có giai thoại “Thơ Con Cóc” các cụ của chúng ta làm thơ thường theo trình tự Tức Cảnh – Sinh Tình. Cảnh là cái cớ; cốt tủy của Thơ nằm ờ chữ Tình. Vì thế, bài thơ thường mở đầu bằng những câu dọn cảnh, qua đó tác giả phác họa khung cảnh của bài thơ. Tôi gọi tắt là những câu Cảnh.
    Cảnh có thể là một người, vật, cảnh vật, sự việc hay ý tưởng xuất hiện trước mắt hay trong đầu của tác giả; tác giả tạo ra những câu Cảnh, xem đó là cái nguyên cớ, cái gợi ý để Tức Cảnh Sinh Tình, nghĩa là dựa vào Cảnh viết thêm những câu thơ khác biểu lộ tâm sự, cảm xúc của mình.
    – Thí dụ hai câu đầu trong bài Chân Quê của Nguyễn Bính:
    Hôm qua em đi tỉnh về
    Đợi em ở mãi con đê đầu làng
    Ở đây tác giả đã tạo ra và bước vào khung cảnh của bài thơ, đã đứng ở con đê đầu làng để chờ người yêu về (tâm đối cảnh). Chúng đã có điều kiện cần (nhưng chưa đủ) để gọi là thơ. Bởi chúng mới chỉ là những câu Cảnh; phải chờ tác giả Sinh Tình – nghĩa là dựa vào Cảnh để viết tiếp những câu chứa đựng cái Tình, cái tâm sự của mình.
    Khăn nhung quần lĩnh rộn ràng
    Áo cài khuy bấm, em làm khổ tôi.
    Đến đây, Tình đã phát sinh, cảm xúc của tác giả đã xuất hiện. Hai câu cảnh, đứng riêng lẻ thì chưa thể gọi là thơ. Chỉ đến khi tác giả đã hoàn tất hai câu Sinh Tình thì hai câu cảnh mới tự động trở thành thơ và tất cả đã hợp cùng với những đoạn sau để trở thành một bài thơ nổi tiếng của Nguyễn Bính.

    – Hai câu đầu của bài Bạc Tần Hoài (Đỗ Phủ):
    Yên lung hàn thủy nguyệt lung sa
    Dạ bạc Tần Hoài cận tửu gia
    Khói trùm nước lạnh, trăng lồng cát
    Thuyền đậu Tần Hoài, cạnh tửu gia
    Tác giả đã có mặt tại bến Tần Hoài để ngắm cảnh khói trùm nước lạnh, trăng lồng cát; ở đây tâm đã đối cảnh. Nhưng 2 câu này vẫn chưa thể gọi là thơ vì chưa có bóng dáng của cảm xúc. Phải chờ 2 câu sau:
    Thương nữ bất tri vong quốc hận
    Cách giang do xướng Hậu Đình Hoa
    Cô gái không hay buồn mất nước
    Bên sông còn hát Hậu Đình Hoa (2)
    (Trần Trọng San dịch)
    thì mới thấy bóng dáng của chữ Tình; đó là nỗi buồn xé ruột của một sĩ phu yêu nước. Hai câu đầu – đóng vai những câu thơ dọn cảnh – cũng được ăn ké theo thành 2 câu thơ cuả một thi phẩm tuyệt tác.

    Trường Hợp Bài “Thơ Con Cóc”
    Chàng Ngốc thứ nhất xuất khẩu:
    Con cóc trong hang
    Con cóc nhảy ra
    Đây là 2 câu mào đầu, dọn cảnh. Trường hợp này tâm đã đối cảnh; chính mắt chàng Ngốc đã thấy con cóc nhảy ra; tác giả đã có mặt trong khung cảnh của “bài thơ”. Hai câu này đã có điều kiện cần (nhưng chưa đủ) để được gọi là thơ. Nếu lúc này tác giả đọc thêm vài câu nữa (Sinh Tình) thì sẽ thành bài thơ. Nhưng cái cảm xúc đang óc ách trong lòng chưa kịp biểu lộ thì đã … hết lượt (hết thời gian dành cho mình, đến lượt người khác).
    Nếu Chàng Ngốc Thứ Hai dùng 2 câu của Chàng Ngốc Thứ Nhất làm phần mào đầu, gợi ý rồi đọc mấy câu Sinh Tình của mình thì đã không bị gọi là Chàng Ngốc và đã không có giai thoại ‘Thơ Con Cóc”. Đàng này thấy con cóc vẫn cứ ngồi đó (chắc hơi lâu) nên chàng đã đọc 2 câu mào đầu của chính mình:
    Con cóc nhảy ra
    Con cóc ngồi đó
    Thế là hết giờ, đến lượt người khác. Do đó cái tâm sự không thoát ra được, đành phải để âm ỉ trong lòng. Đến đây chúng ta cũng vẫn chưa có Thơ.
    Chàng Ngốc Thứ Ba tiếp tục mắc lỗi lầm của Chàng Ngốc Thứ Hai nên cũng chỉ được thêm 2 câu thì hết giờ:
    Con cóc ngồi đó
    Con cóc nhảy đi.
    Cả 6 câu của 3 Chàng Ngốc hợp lại, tuy dài hơn, có thứ tự lớp lang như một câu chuyện, cũng chỉ là cái phần mào đầu, dọn cảnh (Cảnh), chưa có ai Tức Cảnh Sinh Tình nên vẫn chưa có Thơ.
    Giá như một trong ba chàng Ngốc (ai cũng được) làm thêm đoạn dưới đây:
    Nhìn con cóc nhảy
    tôi nhớ những ngày xưa
    thơ dại
    tôi cùng cô bé bên nhà
    sau cơn mưa
    cầm giỏ đi bắt cóc nhái
    chơi mở quán bán hàng
    (PĐN chế ra để minh họa)
    thì đã có chút cảm xúc, thương nhớ, vấn vương một kỷ niệm thời nhỏ dại. Và chúng ta đã có Thơ (hay dở lại là chuyện khác).
    Như vậy, “Thơ Con Cóc”, tuy đã vượt lên trên các loại ca dao, vè, kệ, văn vần … , là “những câu thơ dọn cảnh” đã qua được cửa ải “tâm đối cảnh”, nhưng vì không có những câu Sinh Tình để bám vào ăn theo nên cũng chỉ mới có điều kiện cần, chưa đủ để được gọi là Thơ.
    Nếu cách giải thích này may mắn được độc giả chấp nhận thì “Thơ Con Cóc” không phải là thơ. Những ai cho “Thơ Con Cóc” là một bài thơ hay, hoặc dở (3) không những chỉ … trật lất mà còn … trật lất đến hai lần.
    Phạm Đức Nhì
    nhidpham@gmail.com
    Chú thích:
    1/ thuykhe.free.fr/tk97/concoct.html
    2/ hoasontrang.us/tangpoems/duongthi.php?loi=42
    3/ “Thơ Con Cóc” là trường hợp quá đặc biệt, nằm trong cái ngách hẹp giữa ranh giới của thơ và những thứ không phải thơ, nên có dạo trong bài Thầy Trò Tam Tạng Và Thơ tôi đã lầm lẫn gọi nó là thơ; và là thơ dở vì không có cảm xúc. Tôi viết bài này gọn hơn, chi tiết hơn, đi xa hơn để làm rõ điểm lầm lẫn của mình.

  • black raccoon viết:

    Con cóc là bài thơ tập thể làm liền ngay tức thời

    Tập thể ngay tức thời là bởi con cóc do 4 người làm, mà làm … liền. Ngày xưa ở VN hình như có cách làm thơ như vậy, cho nên mới có câu chuyện tiếu lâm thơ con cóc. Tôi không chú ý tới khía cạnh gọi là “phê phán” khen chê tích cực tiêu cực kiểu hiện nay hay dùng. Nhưng rõ ràng đặc tính hài của thơ quá hiển nhiên. Ai đọc cũng có thể nhoẽn nụ cười. Thơ tập thể ngay tức thì, ở trong Nam còn có một giai thoại tiếu lâm khác, như sau:

    4 anh vào miếu Quan Công. Thấy ngay bức tranh lớn thờ Quan Công nhưng không biết rõ là ai, bèn bảo nhau làm bài thơ.

    – Anh 1 nhìn QC thì nói:

    Hớn vương ăn ớt mặt đỏ gay

    – Anh 2 thấy Quan Bình mặt trắng, làm:

    Một chàng công tử đứng khoanh tay

    – Anh 3 trông ngay Châu Xương râu rìa mặt đen như lọ chão ôm thanh long đao bèn nói:

    Thằng mọi đứng bên cầm cái mác

    Đến phiên anh thứ 4, kẹt. Hết rồi . Bức tranh chỉ có 3 người thì làm sao bi giờ. Anh 4 nhìn quanh quất thấy trước cửa miếu để tượng gỗ con hạc đứng trên lưng con qui. Thời gian cấp bách, anh 4 đọc vang:

    Bên ngoài cò cưỡng đ. cò cay

    Thành bài thơ:

    Hớn vương ăn ớt mặt đỏ gay
    Một chàng công tử đứng khoanh tay
    Thằng mọi đứng bên cầm cái mác
    Bên ngoài cò cưỡng đ. cò cay

    Theo tôi, cả 2 bài con cóc và bài QC đều là thơ. Bởi vì, nó có vần, điệu, ít nhất nó đã đem lại nụ cười (humorous) là một phản ứng của xúc cảm. Ngoài ra, văn học VN có những bài ca dao chính là hình thức cùng sáng tác tập thể. Đúng ra, một người nào đó làm trước, rồi dân chúng sửa lại dần dần theo thời gian lâu dài về sau. Đó là ca dao. Ca dao cũng là thơ. Có điều, ca dao khác với thơ con cóc. Ca dao không bao giờ có đối tác làm … liền.

Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)
porn ficken russian porn japanese porn watch porn watch sex izle sex izle anal porn tube amateur porn watch